Những Vần Thơ Tưởng Niệm Cha Nguyễn Văn Lập _ (Sưu Tầm) (Thơ)

  • PDF

1.cha.nvlap.jpg - 68.80 Kb 1.cha.nvlaphgfd.jpg - 43.00 Kb
 
NHỮNG VẦN THƠ
TƯỞNG NIỆM CHA NGUYỄN VĂN LẬP
(Nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt)

   (Cha Nguyễn Văn Lập, nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Đà lạt, qua đời tính đến tháng 12 năm 2014 thời đã 13 năm trời trôi qua. Nhân dịp kỷ niệm này nơi đây ghi lại một số vần thơ tưởng niệm Cha trong những năm qua)

PHẦN I

Bài xướng:

     Tiễn Cha
Cuối cùng Cha cũng đã ra đi
Ðau đớn đàn con biết nói chi.
Chín chục tuổi trần, đời mãi nhớ,
Sáu mươi năm thánh, Chúa luôn ghi.
Lâm Viên Trường cũ buồn xa cách,
Bình Triệu xóm nghèo khóc biệt ly.
Dẫu biết Cha về nơi cõi phúc,
Nhưng sao nước mắt vẫn tràn mi
     Trần Văn Lương

Bài họa 1:

     Tiễn Cha
Kiếp người ai cũng một lần đi
Quy luật ngàn năm chẳng lạ chi
Khi ở tiếng đời luôn vẫn nhắc
Lúc về bia đá mãi còn ghi,
Xưa nơi Ðà Lạt vừa xum họp
Giờ chốn Thành Ðô đã cách ly
Trần thế dù hay là cõi tạm
Tiễn Cha lệ vẫn ứa bờ mi.
     GS. Ngô Tằng Giao
     (Virginia 2003)

Bài họa 2:

     Tiễn Cha           
Sinh ký tử biệt có lúc đi,
Bụng buồn còn muốn nói năng chi (1).
Tháng tận năm tàn sầu vĩnh biệt,
Ngày buồn khấp báo khắc tâm ghi.
Công khó Thụ Nhân còn tiếp nối,
Sự nghiệp Trồng Người chẳng cách ly.
Bách niên chi kế dâng từ phụ
Thiên thu đệ tử vĩnh cơ mi (2)
     Lê Đình Thông
     (Paris, 19/12/2011)
     (1) Thơ Tú Xương
     (2) 千秋弟子永羈縻
     Ngàn năm học trò ràng buộc mãi với từ phụ


PHẦN II:

GS. Ngô Tằng Giao chuyển thể  lục bát 

* Bài xướng của Trần Văn Lương:

     Tiễn Cha
Cuối cùng Cha cũng ra đi
Ðàn con đau đớn nói chi cùng người
Tuổi trần chín chục nhớ hoài
Sáu mươi năm thánh Chúa thời luôn ghi
Lâm Viên trường cũ chia lìa
Xóm nghèo Bình Triệu biệt ly não nề
Biết nơi vĩnh phúc Cha về
Nhưng sao lệ vẫn tràn trề bờ mi.
 
* Bài họa của GS. Ngô Tằng Giao:

     Tiễn Cha
Ðời ai cũng một lần đi
Ngàn năm quy luật lạ chi, sẵn rồi!
Tiếng đời khi ở nhắc hoài
Lúc về bia đá lòng người còn ghi
Họp nhau Ðà Lạt trước kia
Thành Ðô giờ đã cách ly chốn này
Trần gian cõi tạm dù hay
Tiễn Cha lệ vẫn ứa đầy bờ mi.


 634077220139090140_200x133.jpg - 9.85 Kb

 

PHẦN III:

Bài xướng:

     Ngày Giỗ Cha
Thoắt đã đến ngày lễ giỗ Cha,
Đất trời ngăn cách sáu năm qua.
Tấm thân cát bụi tuy biền biệt,
Hình bóng thương yêu chẳng nhạt nhòa.
Đau đớn, nơi xưa thành tổ quỷ,
Nghẹn ngào, chốn cũ biến hang ma.
Âm thầm tưởng niệm ngày Cha mất,
Đất khách đàn con lặng xót xa.
    
Trần Văn Lương
     (Cali 12/19/2007)

Bài họa: 

Vì nguyên tác trác tuyệt, chúng tôi có bài họa, viết cùng ngày với tác giả,
tuy vẫn là thất ngôn bát cú, nhưng là luật bằng :

Mùa đông tháng chạp nhớ công cha,
Tuyết trắng thông buồn gió lạnh qua.
Thể phách phai tàn hình bóng cũ,
Tinh anh sáng tỏ chẳng phai nhòa (1).
Thành tâm khấn vái xin thần thánh,
Nhất định xua tan bóng quỷ ma.
Cúi lạy Cha hiền ngày giỗ kỵ,
Trầm hương nối kết có bao xa.
    
Lê Đình Thông
     Paris 12/19/2007
     (1) Thác là thể phách còn là tinh anh (Nguyễn Du).

1.dhdalatploikj.jpg - 43.08 Kb

PHẦN IV:

Trong chiều Thụ Nhân (18/12/2011) tại Giáo Xứ còn có bài song thất lục bát sau đây, thuật lại hành trình nhân thế của Đức Ông Nguyễn Văn Lập.
 
Cuối tháng Chạp ngô đồng lá rụng,
Gió than van ấp úng nghẹn lời.
Đức Ông nhắm mắt lìa đời.
Mười năm ngày giỗ chơi vơi tấc lòng.
 
Khắp trái đất đoàn con tưởng nhớ,
Bóng hình Cha cởi mở cao minh.
Cha con như bóng với hình,
Nghìn trùng xa cách nghĩa tình biển dâu.
 
Năm Tân Hợi tuyến đầu Quảng Trị,
Cha ra đời ý chí thiết tha.
Simon anh cả trong nhà,
Năm mười hai tuổi Cha là chủng sinh.
 
Tuổi niên thiếu một mình tự LẬP,
Theo văn chương vun đắp tương lai.
Quốc văn, Pháp ngữ miệt mài,
La tinh, chữ Hán mai này biến thiên.
 
Hai mươi tuổi cần chuyên thi đậu,
Bằng tú tài phụ mẫu an tâm.
Kim Long tu học âm thầm,
Năm hai bẩy tuổi uyên thâm đạo đời.
 
Chịu chức Thánh đời đời cảm tạ,
Chúa thương ban phép lạ quê nhà.
Ban ơn giáo hóa miệt mài,
Chăm lo dạy học tương lai rạng ngời.
 
Vì giáo dục một đời tận hiến,
Giúp cháu con, tự nguyện hy sinh.
Trăm năm giáo hóa tận tình,
Nghìn năm mục vụ hết mình mến thương.
 
Năm hai tám xuất dương du học,
Tới Paris đại học Sorbonne.
Theo ngành sử học sắt son,
Khách quan nhận định, tấc lòng can qua.
 
Ba hai tuổi đăng khoa đại học,
Cha là nhà sử học tiền phong.
Sông Hương núi Ngự thân thương,
Về trường Thiên Hựu vun trồng Thụ Nhân.
 
Bốn bảy tuổi chuyên cần việc đạo,
Lo Tiến hành Công giáo thắm tươi.
Tới ngày sinh nhật năm mươi,
Cha lên Đà Lạt trồng người đắn đo.
 
Làm Viện trưởng chăm lo giáo dục,
Cha ưu tư nhận thức tương lai.
Trăm năm kiến tạo người tài,
Văn khoa, Khoa học một mai vẹn toàn.
 
Trường Sư Phạm lo toan đào tạo,
Lớp giáo sinh nhà giáo mai sau.
Pháp văn, Triết học làu làu,
Văn chương, Toán pháp ở đâu cũng cần.
 
Năm sáu bốn : Kinh Doanh Chánh Trị,
Số sinh viên xấp xỉ một ngàn.
Bốn năm học tập chuyên cần,
Ghi tâm tạc dạ tinh thần Thụ Nhân.
 
Năm sáu bẩy : lo toan Hội thảo,
Trong mười ngày phác họa ‘‘Mục tiêu’’.
Diễn đàn thức giả cũng nhiều,
Ưu tư thảo luận nhiều điều lợi dân.
 
Năm sáu tám : mở ban Cao học,
Ngành Kinh doanh biển ngọc rừng vàng.
Học trình Chánh trị thênh thang,
Kinh doanh Chánh trị dọc ngang cũng đành.
 
Từ dạo đó loanh quanh khắp chốn,
Trong thâm tâm thiếu thốn tình Cha,
Không gian giờ đã cách xa,
Thời gian vào buổi chiều tà xót than.
 
Nhớ Đà Lạt trăm ngàn tiếc nuối,
Cây Thụ Nhân của tuổi học đường.
Cha là Viện trưởng yêu thương,
‘‘Hối nhân bất quyện’’ (1) theo gương thánh hiền.
 
Tòa Viện trưởng mang tên ‘‘Hòa Lạc’’,
Gieo niềm vui Đà Lạt sắc hoa.
Văn phòng ‘‘Đôn Hóa’’ hiền hòa,
Nguyện đường ‘‘Năng Tĩnh’’ tinh hoa ý lành.
 
Nơi giảng đường ‘‘Minh Thành’’ sáng tỏ,
Chốn thư phòng biết ngỏ cùng ai.
‘‘Đạt Nhân’’, ‘‘Tri Nhất’’ người tài,
‘‘Thượng Hiền’’, ‘‘Hội Hữu’’ miệt mài bút nghiên.
 
Có danh hiệu thiêng liêng quý nhất,
Là ‘‘Thụ Nhân’’ sự thật canh tân.
Vượt lên giới hạn không gian,
Thời gian biến hóa Thụ Nhân một lòng.
 
Trước cửa viện Cha trồng cây bách,
Sau nhiều năm thử thách tang thương.
Cây thông cổng viện mờ sương,
Ngày nay mọc khắp bốn phương địa cầu.
 
Viện Đại Học tinh cầu bát ngát,
Rặng anh đào gió mát thênh thang.
Nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang,
Thềm hoa thư viện xôn xang lá vàng.
 
Hồ Than Thở bàng hoàng tiếc nhớ,
Núi Lâm Viên nặng nợ thiên thu.
Cam Ly trắng xóa ưu tư,
Suối Vàng nước cuốn phiêu du một dòng,
 
Cuối năm Tỵ đông phong giá lạnh,
Chim viễn phương cất cánh tìm về.
Vành tang tóc xõa lê thê,
Mồ côi viện trưởng não nề khóc than.
 
Thân côi cút chứa chan dòng lệ,
Bút mồ côi kể lể đoạn trường :
Cha nay tới cõi Thiên đường,
Mười năm ly biệt nhớ thương nghẹn lời. 
 
Lá Thụ Nhân rụng rơi về cội,
Cây Thụ Nhân tiếp nối ngàn phương.
Công trình giáo dục cha ông (2),
Từ nay nỗ lực vun trồng ‘‘Thụ Nhân’’.
 
Lê Đình Thông (Thụ Nhân Paris)
 
(1) ‘‘Hối nhân bất quyện’’ : dạy người không mệt mỏi.
(2) Cha, Ông : Ngày 6-11-1998,
Cha Viện trưởng được Tòa Thánh vinh thăng Đc Ông.

 

Bạn đang theo dõi trang: Thơ Tạp Ghi Những Vần Thơ Tưởng Niệm Cha Nguyễn Văn Lập _ (Sưu Tầm) (Thơ)