Nhà Đồng Bào Thượng (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#6)

  • PDF

dl-31.jpg - 73.03 Kb

 NHÀ ĐỒNG BÀO THƯỢNG

 

     Những tem thư đầu tiên mang hình ảnh về Đà Lạt là tem thư thác nước Pongour (1951). Sau đó là 6 tem thư mang nội dung Đà Lạt do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phát hành trong khoảng thời gian từ 1955 tới 1975: Tem “Thác Gougah” (1963), tem “Một kiểu nhà” (1957), tem “Thủy điện Đa Nhim” (1964), tem “Nguyên tử phụng sự hòa bình” (1964), tem “Hai mươi năm phát triển hàng không Việt Nam” (1972) và tem “Du lịch” (1974, trong loạt ba tem thư du lịch này chỉ có tem thư thứ nhất mang hình ảnh Đà Lạt).

     NGUYỄN VĂN BA nhân dịp giới thiệu các tem thư có hình ảnh Đà Lạt đã nói về tem thư “Một Kiểu Nhà” của đồng bào Thượng:
    
“Kiểu nhà này được gặp ở nhiều buôn, làng, bản Thượng, chung quanh Đà Lạt, trong tỉnh Tuyên Đức và các tỉnh miền Tây Nguyên. Các sắc tộc người Thượng ở Đà Lạt và vùng phụ cận gọi nó bằng nhiều tên khác nhau: nhà rông, cốt, quyết, pút, gon...
     Nếu ở miền xuôi có đình làng để làm nơi sinh hoạt cho dân chúng thì ở Đà Lạt miền sơn cước đồng bào Thượng có “nhà rông”. Nhà rông có thể là một kiến trúc độc lập, nhà sàn có mái cao đứng thẳng giữa làng, cũng có thể chỉ là gian chính giữa trong căn nhà dài mà cả làng chung sống.
     Nhà rông tượng trưng cho sức mạnh, cho sự thịnh vượng của buôn làng nên được dân làng xây cất rất cẩn thận, săn sóc chu đáo. Nhà rông thường cao 15m-20m, dài đến năm gian. Chiều cao, nếu tính từ dưới đất lên đến sàn nhà phải đủ cao để đàn voi đi qua được, từ sàn lên mái nhà cũng cao đủ để thanh niên trong buôn múa “rông chiêng”, quay tít vũ khí như những ngọn giáo dài, trong dịp có hội họp hay tế lễ.
     Nhà rông bền vững, chắc chắn do được làm bằng các loại gỗ quý như lim, gõ, gụ, sến, thao lao... Theo cổ lệ nếu một buôn làng mới được thành lập hay dời đi nơi khác trong dịp đầu năm thì cuối năm phải cất xong nhà rông. Có nhà rông thì mới có sinh hoạt của buôn làng.
     Nhà rông được sắp xếp có ngăn nắp và trưng bày mỹ thuật. Đường lên nhà rông thường là một căn gỗ có khấc gác lên sàn hiên đặt ngay cửa chính của gian nhà. Gian đầu là nơi thờ thần bảo trợ, che chở buôn làng, trên vách có treo một giỏ mây trong đựng một hòn đá mà người tù trưởng của buôn làng nhặt lấy khi quyết định chọn khu đất nào đó làm nơi dựng buôn làng. Hòn đá tượng trưng cho thần đất. Vì thế mỗi lần cúng lễ, bao giờ người ta cũng bôi máu của con vật hiến tế và đổ rượu lên hòn đá này coi như thần đất đã nhận lễ vật. Quanh hòn đá có treo những dụng cụ, nông cụ, vũ khí do ông cha lưu truyền từ đời này sang đời khác và các nhạc cụ như chiêng, trống, cồng, phèng la... được dùng khi cúng tế.
     Gian giữa là trung tâm nhà rông với bếp lửa. Nơi đây tù trưởng và những người có trách nhiệm trong buôn làng thường hội họp để quyết định những công việc quan trọng của buôn làng, để tiếp khách gần xa và buôn bán. Mỗi buổi tối, khi công việc hàng ngày đã xong, dân làng thường họp mặt nơi đây để chuyện trò. Gian giữa được trang trí một cách mỹ thuật với các bức hình chạm thú rừng trên cột, hàng dãy sọ trâu được xếp trên xà dọc đánh dấu những lần nhà rông làm lễ đâm trâu theo tục lệ cổ truyền. Một chiếc trống lệnh to đươc treo ở xà ngang gian giữa. Tiếng trống hùng dũng vang lên mỗi khi cần tập trung dân của buôn làng hay khi hành lễ.  
     Từ gian thứ ba tới gian cuối cùng là chỗ ngủ của thanh niên chưa vợ. Một vách treo vũ khí các loại để sẵn sàng chiến đấu khi hữu sự, vách còn lại treo các nhạc khí ưa thích của mỗi người như khèn, đàn tơ rưng, đàn dinh. Theo tập quán của nhiều bộ tộc Thượng, thanh niên trai trong các buôn làng từ 16 tuổi đến khi lấy vợ, ban đêm đều ngủ ở nhà rông.
     Nhà rông gắn bó với tuổi trẻ, tuổi trẻ gắn bó với nhau và với thế hệ cha anh qua những sinh hoạt ở nhà rông. Đêm đêm, bên ánh lửa, họ trò chuyện, trao đổi những kinh nghiệm sống, họ cùng nhau đàn hát, nhảy múa. Hết thời vụ mùa màng trong năm, các chàng trai lại rủ nhau làm nỏ, vót tên, đan lát các vật dụng bằng tre, mây...
     Nhà rông chủ yếu là nơi sinh hoạt của thanh niên. Phụ nữ ít khi tới đó ngoại trừ những dịp lễ lạc, hội hè hay những khi có việc thật cần thiết.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

 

 

 

 

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Nhà Đồng Bào Thượng (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#6)