Đà Lạt Một Thời Hương Xa (Nhất Linh & Phạm Duy)_ (Nguyễn Vĩnh Nguyên) _ (Tạp ghi)

  • PDF

ĐÀ LẠT MỘT THỜI HƯƠNG XA:
NHẤT LINH & PHẠM DUY

 

Đà Lạt một thời hương xa: NHẤT LINH
Người thổi hắc tiêu cho hoa lan

(Đà Lạt luôn được các văn nghệ sỹ ưu ái nhờ vào khí hậu mát mẻ, dễ chịu và khung cảnh thiên nhiên quá thơ mộng. Dòng Nhạc Xưa xin trân trọng giới thiệu loạt bài của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên viết về Đà Lạt xưa.)

Đà Lạt, một thời hương xa là tựa đề cuốn sách du khảo văn hóa Đà Lạt của nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên, do NXB Trẻ ấn hành. Cuốn sách đưa người đọc trở về Đà Lạt giai đoạn 1954 – 1975 với những câu chuyện thú vị của một đô thị kiểu Pháp, gắn với tên tuổi các nghệ sĩ vang bóng một thời.

Năm 1955, sau những thất bại trên chính trường, nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) suy sụp tinh thần. Ông nghiện rượu, mắc chứng đau bao tử và trầm cảm nặng. Đà Lạt được ông chọn làm chốn nương náu vì khí hậu tự nhiên hứa hẹn tốt cho sức khỏe, phần nào xa lánh thời cuộc đảo điên gây khổ não. Lúc mới đến Đà Lạt (1955), Nhất Linh cùng cậu con trai út – Nguyễn Tường Thiết – và con gái Nguyễn Kim Thoa thuê phòng ở tại số 12 đường Yersin (gần Hotel Du Parc)

Nhà văn Nguyễn Tường Thiết viết trong cuốn hồi ký Nhất Linh cha tôi“Nhất Linh chơi lan công phu hơn những người khác vì ngoài việc tầm lan ông còn ra thư viện tra cứu hoặc đặt mua từ bên Pháp các sách ngoại quốc viết về hoa phong lan, rồi tỉ mỉ phân loại, so sánh với hoa ở địa phương. Ông lại vẽ từng đóa hoa một, đặt tên và ghi chú từng đặc tính, với dụng ý sau này làm tài liệu viết một cuốn sách. Chiều nào ông cũng thổi hắc tiêu, nói là thổi cho lan nghe. Ông thổi bản J’ai rêvé de vous. Vous đây chính là đám hoa quấn quýt xúm lấy ông, nào là Nhất điểm hồng, Huyết nhung lan, Bạch hạc, Tím đồi mồi, Hoa cô dâu, Bạch ngọc, Thanh ngọc, Văn bao… thứ treo trên vách, thứ cắm trong chậu, thứ bày trên bàn.

Mỗi chiều thứ bảy, ông lại tổ chức hòa nhạc tại gia, ngoài tiếng hắc tiêu của ông, lại có sự phụ họa lục huyền cầm của Giáo sư Vĩnh Tường, khiến khách đi đường phải dừng chân trước khách sạn Du Parc, kẻ ngừng xe hơi, người ghếch xe đạp, để lắng nghe tiếng nhạc hòa tấu vẳng ra từ căn lầu nơi góc đường Yersin trong bầu không khí êm ả yên tĩnh của buổi chiều Đà Lạt”.

Chỉ sau một thời gian ngắn, chỗ ở trên đường Yersin đã trở nên quá chật hẹp, không đủ thỏa mãn để mở rộng chỗ trồng lan, nơi phố xá cũng không tiện cho sự phát triển của loài địa lan (còn gọi thổ lan) cần lối chăm chút cầu kỳ, cha con Nhất Linh chuyển sang sống trong căn biệt thự số 19 đường Đặng Thái Thân – căn biệt thự của ông Lê Đình Gioãn – một chủ gara xe ở Sài Gòn và là bạn chơi lan rất thân của Nhất Linh để lại.

Những người bạn tìm thấy sự giao cảm với Nhất Linh qua thú chơi lan hoặc đến giao du chuyện trò với ông thời kỳ này có thể kể: ông Lê Đình Gioãn, bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm từ Sài Gòn lên, bác sĩ Nguyễn Sỹ Dinh và ông Lê Văn Kiểm – người rất mê chụp ảnh (hầu hết những hình ảnh về Nhất Linh trong giai đoạn này đều do ông Kiểm chụp và lưu giữ).

Thanh ngọc đình sụp đổ

Rất nhiều người trong giới văn bút, trí thức từ Sài Gòn cuối tuần lên Đà Lạt du hí tìm cách lai vãng đến căn biệt thự của Nhất Linh. Có cả những người tìm đến với biệt thự không chỉ vì lan. Nguyễn Tường Thiết kể trong hồi ký rằng, có hôm, tướng Dương Văn Minh đã đến gặp Nguyễn Tường Tam đàm đạo về lan, thực chất là thăm dò ý định chính trị. Bản thân Nguyễn Tường Tam thời kỳ này cũng không phải đã dứt hẳn những khắc khoải của một trí thức từng là chính khách.

Năm 1957 có thể nói là thời điểm Nhất Linh dấn xa nhất vào cuộc sống của một ẩn sĩ. Ông mua một lô đất nằm ở vùng suối Đa Mê (Phi Nôm, nay thuộc H.Đức Trọng), dựng căn nhà gỗ có tên Thanh ngọc đình – tên loài hoa lan mà ông yêu thích, và làm nông, viết trường thiên tiểu thuyết Xóm cầu mới. Hằng tuần, các con Nhất Linh từ Đà Lạt về đây mang theo những tập giấy trắng không kẻ hàng và mỗi lần trở lại, thấy đã phủ kín những dòng chữ nhỏ li ti. Nguyễn Tường Thiết gọi đây là thời kỳ hạnh phúc nhất trong cuộc đời đầy sóng gió của cha mình.

Một cơn bão lớn vào cuối 1958 thổi qua những cánh rừng Đa Mê, biến Thanh ngọc đình của tác giả Đoạn tuyệt sụp đổ hoàn toàn. “Một điềm xấu” – nhà văn đã nghĩ như vậy (hay sự chộn rộn với cuộc thế lúc bấy giờ đã khiến ông tìm cách kiến giải về cơn bão cuộc đời mình theo chiều hướng đó). Ông thẫn thờ nuối tiếc nhìn ngôi nhà chỉ còn trơ nền móng, gỗ đá ngổn ngang.

Nhất Linh đã không còn được tĩnh tại ngồi lại với văn chương lâu hơn. Ông rời Đà Lạt về Sài Gòn và ném mình vào thế cuộc chính trị, trở lại tư cách một trí thức dấn thân để rồi cuối cùng chủ động chọn một kết cục đầy bi thảm.

Đà Lạt, một thời hương xa:
Phạm Duy giữa chốn cỏ hồng

Đà Lạt với đồi núi chập chùng và khung cảnh lãng mạn đã ghi dấu nhiều kỷ niệm với nhạc sỹ Phạm Duy.

Nhạc sĩ Phạm Duy đến Đà Lạt lần đầu vào năm 1944. Ông đã gọi thành phố này là “nơi thần tiên”.

Ông kể lại trong cuốn hồi ký còn trong dạng bản thảo của mình rằng gánh hát Đức Huy – Charlot Miều lúc đó phải ghé qua Phan Rang trước khi lên được “một nơi thần tiên là Đà Lạt”. Trong thời gian dừng chân ở Phan Rang, Phạm Duy gặp một nhân vật quan trọng, đó là Bảo Đại, tặng quốc trưởng một đêm hát “vo” (hát chay, không tính tiền) và có cuộc chuyện trò đầy kính trọng, cảm mến.

Trong câu chuyện về cuộc hành trình lên Đà Lạt, ta thấy không khí đô thị êm đềm đằng sau những chi tiết thú vị: “Vào hồi đầu thập niên 1940, người dân đen muốn tới thành phố Đà Lạt không phải là chuyện dễ dàng đâu! Phải làm đơn xin phép và chờ Sở mật thám điều tra rồi ba tháng sau mới có giấy đi. Thường thường chỉ là giấy cho phép tới nghỉ mát (villégiature) trong một thời hạn nào đó. Nếu muốn tới làm ăn sinh sống ở Đà Lạt thì lại một chuyện khác, một chuyện khó khăn vô cùng. Người Pháp thành lập ra thắng cảnh Đà Lạt để dành riêng cho người da trắng. Gánh Đức Huy lên Đà Lạt dễ dàng vì anh Chúc đã đút tiền cho Sở cảnh sát rồi”.

Tại Đà Lạt lần này, Phạm Duy gặp nghệ sĩ Lữ Liên, tức thân phụ của ca sĩ Tuấn Ngọc vừa mới nhập cư, đang làm việc cho một ban kịch tài tử và đài phát thanh. Tuy nhiên, những cuộc hạnh ngộ với người, với đất lần đầu tiên đã không đủ để nẩy lên trong tâm hồn chàng nghệ sĩ đa tình hào hoa này một giai điệu hay khúc hát bộc phát tức thì nào cả. Mà phải đợi đến 25 năm sau…

Cỏ xanh đổi sắc theo nhân tình

Năm 1970, những đồi cỏ hồng, chốn hẹn hò yêu đương của Đà Lạt mới quấn quýt trở về với Phạm Duy sau cơn dư chấn tình cảm lớn lao xảy ra với loài “nòi tình” Lệ Lan, người tình trẻ mà ông yêu say đắm trong suốt mười năm, vừa đi lấy chồng. Những gì còn lại có thể níu kéo, vỗ về, đó là hồi ức của hơn chục lần đi về trong ái tình réo gọi. Phạm Duy viết trong hồi ký: “Sau này, tôi có tối thiểu hơn mười lần đi về chốn cao nguyên Đà Lạt. Lần nào cũng nằm tròn trong vòng tay ân ái của một người tình. Một người giúp tôi soạn nổi rất nhiều câu hát ái tình, từ ngày đó có em đi nhẹ vào đời cho tới nghìn trùng xa cách người đã đi rồi… Và có đầy đủ những kỷ niệm tươi vui hay buồn bã nhưng tất cả những nỗi hân hoan hay ủ rũ cũng đều không se sắt hay nặng nề mà chỉ êm đềm như màu trăng đã ấp ủ tôi vào những đêm đầu tiên tới Đà Lạt này. Một màu trăng đã đến từ lâu với nhà thơ Hàn Mặc Tử: Cả trời say nhuộm một màu trăng/Và cả lòng tôi chỉ nói rằng/Không một tiếng gì nghe động chạm/Dẫu là tiếng vỡ của sao băng”.

Tuy nhiên, Phạm Duy cũng có thừa nhận rằng, với bản Cỏ hồng, ông chỉ là người “bắt chước” lối nhạc ca ngợi dục tính của đôi du ca mới nổi Lê Uyên-Phương nơi đô thị cao nguyên: “Vào năm 1970, sau khi tôi đã soạn xong những bài như Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi… vốn là những bài ca tình cảm mô tả cuộc tình của những lứa đôi đang sống một cuộc đời bấp bênh vì không tránh khỏi cảnh xa nhau bởi thời thế. Một nhạc sĩ khác, Lê Uyên-Phương, tung ra một loạt ca khúc mang chất dục tính, ví dụ như bài Vũng lầy của chúng ta. Tôi bắt chước anh, soạn một bài có tính chất xưng tụng nhục thể” (*).

Có những đoạn trong Cỏ hồng mang âm hưởng từng đợt sóng dập dồn từ thấp lên cao, từ nhẹ đến mạnh, từ vuốt ve đến cao trào. Về tưởng tượng âm hình, có thể thấy những đường cong giao nhau tiếp nối liên tục, bản thân cách gieo nốt trên khuông nhạc đã vẽ ra trước mắt nhạc ảnh núi đồi, của nhục thể nhấp nhô, của cung bậc cảm xúc trừu tượng khi đôi sinh vật đang ngấu nghiến thụ hưởng cơn say tình diễm tuyệt. Nhưng trong cơn mê say đó, không có sự vồ vập vội vàng, mà thong dong, thư thái…

Rồi chính Lê Uyên-Phương, đôi tình nhân du “sứ giả của tình yêu đơn sơ và hoang dại” sinh ra bởi Đà Lạt đã thể hiện thành công tình khúc tụng ca yêu đương này trong bộ phim Gánh hàng hoa của Lê Mộng Hoàng.

Phạm Duy còn một sáng tác nữa về Đà Lạt. Cũng tinh tế và cao khiết lạ lùng. Ở đó, ông muốn dệt lại màu trăng dĩ vãng trong cảm nhận riêng đầy thanh thoát trên nền chữ khói sương của tuyệt tác thi ca Đà Lạt trăng mờ (Hàn Mặc Tử). Phạm Duy viết: “Chúng ta có nhiều bài hát xưng tụng miền thông réo, suối reo ở Đà Lạt. Nhưng chỉ với bài thơ phổ Đà Lạt trăng mờ, ta mới thấy được sự thiêng liêng của đất trời cao nguyên trong một đêm trăng giá lạnh. Phần nhạc dạo tạo ngay cảm tưởng về một sự thiêng liêng huyền nhiệm của không gian qua cảm nhận của nhà thơ. Nhạc đề của phân khúc là nỗi đắm say trong tiếng gọi ảo huyền của cái Đẹp mà nhà thơ đã cảm thán rằng phút thiêng liêng đã khởi đầu…”.

Chỉ với hai ca khúc nhưng đủ dựng nên một cõi đào nguyên có tên “Đà Lạt” trong cuộc rong chơi âm nhạc của người nhạc sĩ nòi tình, tài hoa hàng đầu trong nền tân nhạc VN.

Nguyễn Vĩnh Nguyên
(Trích từ Đà Lạt, một thời hương xa – Du khảo văn hóa Đà Lạt 1954 – 1975, NXB Trẻ 2016)

(*) Phạm Duy (2014). Vang vọng một thời, Phương Nam Book và NXB Hồng Đức

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Đà Lạt Một Thời Hương Xa (Nhất Linh & Phạm Duy)_ (Nguyễn Vĩnh Nguyên) _ (Tạp ghi)