Nhà thơ Việt Trang và các vị Xuân Đài _ (Phạm Mai Hương) (Hồi ký)

  • PDF

Nhà thơ Việt Trang (Đà Lạt)

NHÀ THƠ VIỆT TRANG
VÀ CÁC VỊ XUÂN ĐÀI

(Con kính tặng bác Xuân Đài và các anh chị Mộng Hoài Nhân,
Trần Trọng Kim, Trần Trọng Tài với tấm lòng trân quý)

Hai người bạn thơ của ba tôi có những điểm khá trùng hợp: cả hai đều có mang tên Xuân Đài và là hậu duệ những  người nổi tiếng trong lịch sử dân tộc ta

NỮ SĨ XUÂN ĐÀI NGUYỄN THỊ NGHĨA

Nữ sĩ Xuân Đài là hậu duệ đời thứ 5 của cụ Nguyễn Công Trứ, một nhà thơ, nhà quân sự, nhà chính trị tài ba của 4 đời vua nhà Nguyễn: Gia Long, Thiệu Trị, Minh Mạng, Tự Đức.

Học sinh miền Nam trước năm 1975 đều biết cụ Nguyễn Công Trứ bởi tiểu sử, thơ văn của cụ nằm trong chương trình môn Việt Văn lớp đệ tứ, chuẩn bị thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Mạ tôi, một người nội trợ bình thường cũng lấy câu thơ

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Làm kim chỉ nam trong cuộc sống nói lên khi phách của con người không quỳ lụy một ai.

@@@

Nữ sĩ Xuân Đài tên gọi là Nguyễn Thị Nghĩa sinh năm 1926 tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Vùng đất địa linh nhân kiệt sản sinh nhiều nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Huy Cận, Xuân Diệu...

Hai vị thân sinh của bà là cụ ông Nguyễn Xuân Lâm và cụ bà Nguyễn Thị Cẩm. Cha mẹ chia tay khi bà mới 3 tháng tuổi, bà sống với ông bà nội bởi cha đi làm xa ít khi về nhà. Khi lớn lên, bà về Huế học trường Đồng Khánh. Việc học của bà  bị dở dang vì cha hoạt động chống Pháp, bị truy lùng cụ phải nương náu bên Lào, còn bà lánh nạn vào Quảng Nam ở với người chú họ. Năm 22 tuổi bà kết hôn với ông Trần Ngọc Giảng và có cả thảy 6 người con.

Năm 1954, từ Lào trở về, cụ ông Nguyễn Xuân Lâm lên Nam Hồ - Dalat ( đất hoàng Triều Cương thổ dành cho dòng dõi vua chúa triều Nguyễn) lập nghiệp. Cụ đón vợ chồng người con gái lên theo. Bà Xuân Đài ở vùng đất Nam Hồ từ đó đến nay.

Nữ sĩ Xuân Đài là một phụ nữ đẹp đằm thắm. Bà có khuôn mặt phúc hậu với dáng người thanh cảnh. Tính bà khẳng khái và có tài làm thơ.

Tình yêu thi phú lưu truyền trong gia tộc, thêm sự lãng mạn của đất thần kinh khi học trường Đồng Khánh, với phong cảnh hữu tình, mộng mơ Dalat thấm vào người, bà khiến chữ nghĩa biến thành trăng sao. Tình yêu thơ mãnh liệt của bà ảnh hưởng đến các con nên cà 6 người ai cũng có thể đặt bút làm thơ.

@@@

Sau cuộc đổi thay năm 1975, sinh hoạt văn nghệ hầu như ngưng đọng, mọi người lo mưu sinh nuôi sống bản thân và gia đình. Khoảng thập niên 80 của thế kỷ trước có chừng hơn chục người mà lòng yêu thơ ngấm tận vào xương thịt; cùng nhau xướng họa, đối ẩm và lập nhóm lấy tên Trà Sơn. Bà Xuân Đài là nữ sĩ hiếm hoi đầu tiên trong nhóm .

Họ làm thơ không bộc lộ chí khí làm trai

Làm trai đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.
(Nguyễn Công Trứ)

Vì nhiều lý do tinh tế, họ chỉ ca ngợi cảnh của thiên nhiên

Cành sương lóng lánh hoa thơm ngát
Vườn mộng lung linh nụ trắng ngần

(Xuân Đài)

Đôi lúc trách khéo để hé lộ tình cảnh đoạn trường

Trách ai khéo vẽ cảnh tang thương
Ngoảnh lại càng thêm nỗi đoạn trường
Nẻo cũ trăng soi vầng tịch mịch
Vườn xưa hoa tỏ nét thê lương
Lao xao về núi oanh xa tổ
Thơ thẩn bên mây yến lạc đường
Con tạo trớ trêu chi lắm vậy
Để ta ngơ ngẫn mối sầu vương.
(Xuân Đài)

Bà Xuân Đài có những người bạn tri kỷ khó tìm

Biền biệt từ đây vắng cố tri
Ngậm ngùi thơ thẫn tiễn người đi
(Xuân Đài)

Nhóm Trà Sơn thuở ấy giờ không còn mấy ai, người đi xa xứ; kẻ về cõi hư vô; vài người ở lại quê nhà như bà Xuân Đài, mong manh như chiếc bình cổ quý giá, lật trang thơ cũ mong tìm bạn:

Tiếng đàn xưa vọng trùng dương gọi
Tái ngộ Bá Nha hẹn Tử Kỳ
(Xuân Đài)

 

NHÀ THƠ XUÂN ĐÀI HOÀNG HƯNG

Ông Xuân Đài tên là Hoàng Hưng, là cháu của cụ Hoàng Diệu,

Cụ Hoàng Diệu là chí sĩ, danh sĩ, võ tướng thời vua Minh Mạng, quê làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).

Lúc 25 tuổi, cụ đậu Phó bảng, được bổ làm quan. “Lúc làm quan, có lần ông gửi về cho mẹ một vóc lụa. Bà mẹ không nhận, gửi trả lại cho con, kèm theo một nhánh dâu, tượng trưng cho ngọn roi, để cảnh cáo đứa con đừng nhận quà cáp gì của dân” (nhà văn Sơn Nam)

Khi cụ làm Tổng đốc Hà Ninh. Triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng quân Pháp. Cụ đã trái lịnh nhà vua, tử thủ chống lại. Khi thành  thất thủ, cụ Hoàng Diệu tự vận tại Võ Miếu.

Nhà thơ Hoàng Hưng lấy hiệu là Xuân Đài để nhớ về làng quê của mình

Ông tự nhận mình lúc nhỏ ham chơi hơn ham học. Ông đi từ Bắc chí Nam, đến đâu ông cũng có bạn tâm giao. Cuộc đời thật phong lưu dù không giàu có. Mặc dù học không cao nhưng ông rất thông minh và kiến thức rộng.

Những lần ông từ Sóc Trăng lên Dalat chơi, ba cùng ông đến hội thơ Lâm Đồng. Nghe ba giới thiệu ông là cháu của cụ Hoàng Diệu, mọi người ngạc nhiên và dành cho ông nhiều ưu ái. Ông có căn phòng để nghỉ nhưng ông chỉ để đồ đạc, ông thích tìm về căn nhà nhỏ ở 12 Trần Nhật Duật, trò chuyện văn thơ cùng nhóm Trà Sơn.

Thuận Hoá quê tôi, bạn Quảng Đà
Trà Sơn thân thiết lại chia xa
Trau giồi bút mặc tình sâu đậm
Đàm luận thi văn ý hợp hoà
(Việt Trang)

Ông Xuân Đài định cư ở nước ngoài rất sớm; ông vẫn còn thói đi ngao du thiên ha. Mỗi lần đến đâu, ông thường gởi bưu thiếp hay chụp ảnh gởi về. ba tôi viết phía sau:

Dừng chân lữ khách bên đường
Trông ra trời biển cố hương mịt mùng
Xứ người rét mướt vào đông
Lòng nghe tuyết đổ lưng chừng núi cao
(Việt Trang)

Giờ ông đã ra đi, ba tôi cũng trở thành người thiên cổ. Từ nay họ chẳng phải chờ nhau nữa

Biết đâu tìm , biết tìm đâu
Xa dòng kỷ niệm bạc màu thời gian
Dẫu người gió núi mây ngàn
Một ngày mình đợi, ngàn năm mình chờ
(Việt Trang)

Họ đã gặp lại nhau, Vui Xuân Ý Cõi Trời Thiên Thu (Quang Nhàn) …

Phạm Mai Hương

(Tháng 12 /2017)


Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Nhà thơ Việt Trang và các vị Xuân Đài _ (Phạm Mai Hương) (Hồi ký)