Thầy Trần Vấn Lệ: Mất Người Ngày Xưa _ (Phạm Mai Hương) (Hồi ký)

  • PDF

THẦY TRẦN VẤN LỆ:
MẤT NGƯỜI NGÀY XƯA

(Anh em chúng con trân quý tình cảm của thầy dành cho ba con.
Chúng con chân thành cám ơn.)

Tháng 6 năm 2010. Ba tôi dường như biết mình sắp ra đi. Ba không bồn chồn lo sợ, ba từ tốn làm mọi việc nhưng không dặn dò điều gì bởi ba nghĩ lối sống dung dị của ba là tài sản lớn nhất để các con gìn giữ noi theo.

Ba thắp nhang bàn thờ tổ tiên khấn: ôn mệ về rước ba đi. Ba dặn mạ trả tiền còn thiếu cho anh xe thồ chở ba đi ăn đám cưới. Ba túc tắc lên chùa Linh Sơn chào từ biệt thầy Minh An, thầy Viên Như để lại câu thơ

Khi còn sống đất xem mình ruột thịt.
Vĩnh biệt đời đất ôm ấp như con.
(Việt Trang)

Ba khiến các con đêm hôm vào thăm lần cuối rồi khuya đó, trong giấc ngủ ba lặng lẽ về cõi tịnh.

Đám tang của ba hội đủ bạn bè thơ văn. Nhóm Trà Sơn tổ chức một đêm thơ Nguyên Tiêu trước lễ Tịch Điện. Mọi người ngâm thơ của ba và những bài thơ điếu tang; trong đó có một bức thư của thầy Trần Vấn Lệ gởi riêng cho ba từ phương xa đã lấy của chúng tôi nhiều nước mắt

Thư riêng
Bác đi trong lúc tuổi già|
Cũng vui Bác nhỉ ! Coi là cũng vui
Nói chao ôi! Khóc hay cười?
Còn chung trà cũ, mất người ngày xưa…
(Trần Vấn Lệ)

Ba và thầy Trần Vấn Lệ có nhiều mối nhân duyên

Thầy Trần Vấn Lệ, dáng người cao lớn, da ngăm, đặc điểm của người xứ biển Phan Thiết. Thầy là giáo sư của trường trung học Bùi Thị Xuân, ngôi trường nữ sinh duy nhất ở cao nguyên Trung Phần nằm trên ngọn đồi cao với tường quét vôi hồng, ngói đỏ. Ba làm Chi Hội Trưởng Hội Phụ Huynh Học Sinh của trường trên mười năm

Thầy ở đường Yagut, song song với đường Trần Nhật Duật. Ngôi nhà gỗ sơn xanh nhạt của thầy nằm cạnh trường tiểu học Trần Bình Trọng,  cô Liên, vợ thầy, dạy ở đó. Đứng trên bậc cấp cao gần cổng phụ vào trường, thầy có thể nhìn thấy với ba đứng trước sân.

Rằng biết nhà mình ở cạnh bên.
Thì chi đường dốc ngược đi lên.
Nhìn qua chợt thấy lòng nguôi nhớ.
Ngoảnh lại sao nghe ý đậm tình
(Việt Trang)

Ba và thầy, một già một trẻ nhưng chung tâm hồn mơ mộng, lãng mạn của người yêu thơ và biết làm thơ.

Ngày xưa Đà Lạt trời mưa
Bác mời tôi đọc bài thơ mới làm
Tôi khen, Bác mặt rỡ ràng
Tay nâng quản bút ký ngang một đường
(Trần Vấn Lệ)

Ba nháp thơ trên tờ lịch, cuốn sổ dở dang; làm xong ba trang trọng chép vào tờ giấy trắng. Thầy tặng lại ba bài thơ viết trên trang giấy học trò với ngòi bút lá tre chấm mực tím; chữ thầy đẹp, bay bướm.

Trời Dalat mưa phùn lất phất, khi trên căn gác Duyệt Ứng Hiên của chú Lan Hinh ở dốc Nhà Làng, lúc ở ngôi nhà 12 Trần Nhật Duật… nhóm thơ Trà Sơn chia sẻ bài thơ mới viết. Ba như cậu thanh niên mới lớn, vui mừng khi được khen, ba đặt bút ký tặng bạn bài thơ đắc ý.

“Tôi làm thơ tặng người thương
Anh trong tiếng gọi từ hồn tôi vang
Ngày xưa Giả Đảo lỡ làng
Nay tôi có bạn ngồi chung một bàn!”
(Trần Vấn Lệ)

Năm 1975, thầy vốn là sĩ quan biệt phái nên phải đi học tập cải tạo để lại quê nhà người vợ trẻ và hai cô con gái nhỏ chưa qua bậc tiểu học.

Người đi tù chịu nhiều khốn khó. người vợ ở nhà gian nan không kém. Trường Trần Bình Trọng trở thành trại gia binh của vợ những người đi học tập cải tạo. Trường có vài chục giáo viên mà hơn nửa là giáo viên ở Nghệ An, Hà Tĩnh vào, từ rừng ra; còn lại là vợ lính Việt Nam Cộng Hòa, một mình chăm con và thăm nuôi chồng như cô Liên, chị Tươi, chị Xuân, chị Mượng, chị Thảo, cô Giỏi, chị Mai, chị Hòa, chị Tín Hương…

Tiền lương được trả bằng tem phiếu : gạo ( hay bo bo, bột mì) chừng 18 ký, 1/2ký đường, 250gam thịt… có những thứ không nằm trong tem phiếu mà mua chung rồi về chia lại như mì chính ( Bột ngọt), tiêu... mua xong về văn phòng của trường rồi cân đo đong đếm. Đôi khi trường có việc, phải gởi nhờ nhà cô Liên ở gần đó.

Người giáo viên bấy giờ khá bận rộn: sáng lên lớp, chiều soạn bài hay hội họp, tối dạy xóa nạn mù chữ. Tâm trạng người vợ lính bất an bởi có thể tinh giản biên chế do lí lịch của chồng và nếu mất việc là đồng nghĩa với việc đi kinh tế mới. Cuộc sống khó khăn nên tài sản trong nhà dần dần ra đi.

Cứ vài tháng, các chị hẹn nhau cùng đi thăm chồng trong trại. Phần gởi lớp nhờ người dạy, phần lo bới xách. Tem phiếu để dành mua ít thịt làm ruốc sả, bánh mì sấy khô…

Thương nhớ trôi qua rừng Trại Mát.
Buồn trông đọng lại trảng Lương Sơn.
Chiếc chăn đủ ấm lòng hiu quạnh.
Khoai sắn vừa no dạ héo hon
(Việt Trang)

Một ngày, vợ thầy vui khoe bài thơ: khi anh về …bài thơ rất dễ thương; chị em trong trường chuyền nhau chép. Đó là lúc thầy Trần Vấn Lệ được trả về nhà.

Ngày xưa, Giả Đảo vì không hanh thông trên đường hoạn lộ nên đọc thơ của Giả Đảo như ăn dưa muối lạnh, mùi vị chẳng những không hợp khẩu mà có khi lưỡi bị chua, răng bị tê nữa. (Dịch Quân Tả). Nay, thầy bị ràng buộc vì quản chế, không công ăn việc làm, bất lực nhìn vợ chạy vạy mưu sinh nhưng thơ của thầy vẫn mượt mà, ba khen: nghe như tiếng suối chảy

Ba mươi năm trước, mịt mùng
Ba mươi năm , nhớ, tôi rùng mình, đau
Bác đi rồi? bác đi sao?
Tôi không tin, lệ cứ trào, tự nhiên !
(Trần Vấn Lệ)

Trời thương nên thời gian sau, thầy được định cư ở xứ người. Cuộc sống kinh tế chắc chắn phải hơn nhiều so với Việt Nam nhưng sao thơ của thầy lại buồn, ba bảo:

Thơ em viết sao nhạt nhoà nước mắt.
Và thở than phiền muộn bủa vây quanh
(Việt Trang)

Vậy mà thấm thoát đã hơn 30 năm, ở phương xa, thầy vẫn luôn khắc khoải:

Ôi Việt Trang ơi nhớ lắm mà.
Sao người không nhắc chẳng thăm ta ?
(Trần Vấn Lệ)
.

Bên này, ba cũng ngậm ngùi:

Ơi Trần Vấn Lệ vẫn thương mà.
Biết lắm phương trời bạn nhớ ta

Ba ngồi trước hiên nhà nhìn vọng qua trường Trần Bình Trọng, tìm ngôi nhà gỗ màu xanh. Dần dà tầm nhìn của ba bị che khuất bởi những tòa nhà cao tầng và bậc cấp dài đi vào trường đến nhà thầy cũng nhỏ lại. Dalat đổi thay nhưng với ba vẫn

Một ngày vẫn đợi ngàn năm vẫn chờ
(Việt Trang)

mong ngày thầy về thăm:

Ơi gian nhà cũ tận bên kia.
Ngóng một người thân hẹn trở về
(Việt Trang)

Bác Triếp à, Bác hãy quên
Tôi đi xa lắm, còn trên xứ người
Bác đi, nhang đốt cho trời
Tôi tay bụm mặt, nhớ rồi…có quên?
(Trần Vấn Lệ)

Nhớ về bạn là nhớ về quá khứ hãi hùng, tối tăm: thời gian học tập gian khó nơi rừng thiêng nước độc; thời kỳ bao cấp trói buộc con người vào miếng cơm manh áo bằng chế độ tem phiếu, thời gian quản chế ăn cơm nhà vác tù và làm mương rãnh thủy lợi….

Bởi vậy nên thầy nhớ rồi lại cố quên. Quên rồi lại nhớ. Nhớ hình ảnh người bạn già cố tri điềm đạm, cân nhắc dùng từ thật tinh tế trong từng câu thơ. Người bạn cười vô ưu, cầm bút ký ngang bài thơ. Giờ bạn không còn. Đau lòng. Đành thôi.

Viết cho người bức thư riêng
Gửi đi, ai nhận, tôi bèn xé thôi!
Còn nhau, cuối biển đầu trời
Mất nhau trong cái tuyệt vời Âm Dương
(Trần Vấn Lệ)

Thư của thầy chắc ba đã nhận. Ba cười hiền hòa với chiếc răng cời:

Xin chào tất cả tôi đi.
Nghĩ mình thân phận chim di một đời.
Mây trời như sóng nổi trôi. .
Gió tha thiết mãi như lời từ ly.

(Việt Trang).

Và ba nhắn với thầy:

Dẫu mai này trời đất có làm thinh
Thì em vẫn làm thơ cho người đọc
(Việt Trang)

PHẠM MAI HƯƠNG

24.12.2017

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Thầy Trần Vấn Lệ: Mất Người Ngày Xưa _ (Phạm Mai Hương) (Hồi ký)