Đóa hồng dại trên Đồi Cù _ (Phạm Quốc Bảo) (Truyện)

  • PDF

Đóa hồng dại trên Đồi Cù

(* Phạm Quốc Bảo. Lời tác giả: Khi nghe nói Đồi Cù Đàlạt cải biến thành sân golf  thương mại, tôi viết truyện này.)

Vốn sinh sống  và trưởng thành ở Saigòn tôi tuy nhiên không xa lạ gì với Đàlạt trong suốt thập niên 1960. Gia đình tôi đông anh chị em và rất nghèo. Nghèo đến độ chỉ đủ nuôi tôi ăn học với hai bộ áo trắng quần xanh mỗi năm; cộng thêm một chiếc xe đạp cũ để anh kế tôi và tôi thay phiên nhau đạp đi học, người sáng thì kẻ chiều. Nhưng  năm 1960, đậu cái bằng tú tài một là cớ tốt nhất để tôi dám trực tiếp ngỏ lời xin được đi cắm trại một tuần hè trên Đàlạt, trong đoàn thể hướng đạo. Nhà  chấp thuận với điều kiện tôi phải tự túc chi phí và ăn uống.  Điều kiện này nhà đã biết rõ rằng đối với tôi chả còn gì là khó khăn nữa. Bởi ngay từ năm học lớp Đệ tam, tôi đã kiếm được một chân kèm trẻ tư gia: Ba buổi tối dạy mỗi tuần, tháng tôi có trăm rưởi (rồi tăng lên mấy đợt, tới ba trăm) bỏ túi rủng rỉnh tiêu, lại thỉnh thoảng đủ hãnh diện dẫn các em tôi coi chiếu bóng và dĩ nhiên, ăn quà nữa. Và từ đó cho đến  đầu năm 1970, gần như không năm nào tôi lại chẳng lên Đàlạt  ít nhất là một lần. Bạn bè ở Đàlạt vào Sàigòn học không ít mà từ  Sàigòn lên Đàlạt học Sư phạm, Văn Khoa hay Chính Trị Kinh Doanh cũng nhiều. Đấy  là cái cớ chính để chúng tôi rủ nhau đi chơi; chưa kể thỉnh thoảng còn hú nhau tham dự những trại họp bạn hay trại hội thảo, trại công tác do sinh viên tổ chức nữa. Tuy nhiên chưa bao giờ tôi lại quyến luyến Đàlạt và nơi đó đã khắc trong tâm hồn tôi một kỷ niệm sâu đậm bằng năm 1966.

*

Suốt từ  tháng hai cho hết tháng sáu năm đó, vài chục giờ dạy mỗi tuần ở Sàigòn không thấm tháp gì với sức vóc thanh niên của tôi. Nhưng với những Hội Tết Làng Văn Khoa, trại công tác Hướng Về Nông Thôn (ở quận Thốt Nốt-An Giang và quận Cái Răng-Cần Thơ) rồi chương trình sinh viênhọc sinh cứu trợ nạn lụt Miền Trung, tôi đã phung phí sức khỏe đến độ kiệt sức, ngã bệnh. Nghe lời khuyên của ông bác họ làm bác sĩ, tôi cố ý trốn bạn bè lên Đàlạt vừa để dưỡng sức vừa nhân cơ hội kiếm thêm tài liệu cho cái tiểu luận cao học mà tôi đã ghi danh và soạn dàn bài hơn một năm rồi mà chưa đặt bút viết được một đoạn nào gọi là có. Đáp xe đò Minh Trung chiều lên tới nơi, tôi vào ngay khu đại học Đàlạt để trình cha viện trưởng thư giới thiệu của giáo sư đỡ đầu ( L.M. Bửu Dưỡng) để xin được ở ngay trong ký túc xá cho đỡ tốn phí và tiện việc xem sách, kinh và tài liệu trong thư viện nhà trường. Mọi yêu cầu của tôi đều được cha Lập thỏa mãn một cách thân mật, nhanh chóng và vui vẻ. Những miếng thịt bò xào kiểu lúc lắc nằm trên mấy cuộn cải cresson, điểm thêm vài lát cà chua đỏ ửng to bằng lòng bàn tay xắt mỏng trộn với dầu giấm tiêu nước mắm, rất hợp khẩu vị tôi. Bữa  ăn tối ngon lành và khá ngây ngất vì mấy ly rượu dâu “cây nhà lá vườn” của viện. Trên lối nhỏ leo về phòng trọ vắng hẳn bóng dáng nghịch ngợm và những bước chân nhộn nhịp thường lệ của sinh viên, tôi lại cảm thấy hoàn toàn thoải mái. Ngoài trời, bóng hoàng hôn đã nhạt ráng đỏ giữa không gian,  sương từ mặt đất tĩnh mịch đùn lên tự lúc nào. Tròng vào người chiếc áo len dài tay cổ tròn cho chắc ăn, tôi rời khỏi phòng, lững thững đếm bước vượt qua mấy khúc đường nhỏ trải đầy lá vàng và những cụm mimosa-pensée trắng hồng lấm tấm. Tôi lượn ven sườn đồi  xuống thung lũng bên trong viện. Đến một gốc thông trơ trọi và khoảng khoát, tôi nằm dài ra, hai bàn tay đan vào nhau để sau gáy, ngửa mặt nhìn lên bầu trời: Những tia ửng hồng ở chân mây đã biến mất, để lại một vòm xanh thẫm mỗi lúc một sâu thêm; và đồng thời những ánh sao lấp lánh mỗi lúc một hiện rõ thêm và nhiều thêm.

Lòng tôi  không một xao động nào. Trí óc tôi  cũng không một ý tưởng nào được gợi lên. Tất cả làm như chầm chậm lắng xuống, muốn đọng lại, trong lửng lơ... Tuy nhiên, khi đôi mắt tôi chuyển tầm nhìn dần sang ngang bóng núi bên kia và chạm vào lớp sương trắng từ dưới thung lũng đang bung ra và dâng lên mỗi lúc một nhanh, bao nhiêu hình bóng sinh hoạt nhộn nhịp những ngày tháng qua của tôi lại nối tiếp hiện ra: Nào khung cảnh hát bội đêm ở đình chợ Thốt Nốt, dạy học ban ngày và nhậu say khướt khuya về sáng tại xã Vạn Phước- An Giang. Nào cảnh cúng Thần hoàng làng, gặt lúa hái soài ở một xóm thuộc quận Cái Răng hay say té khỏi ghe tại bến Ninh Kiều-Cần Thơ. Nào cảnh Chùa Cầu, trại họp bạn ở Hội An hay chuyển gạo cứu trợ trên những đoạn đường nước lũ ngập đến ngang bụng, chốc lại có trốt lính Quốc gia kiểm soát, chốc lại là toán du kích Việt cộng vui vẻ ơi ới trí vận giữa ranh giới Quảng Tín- Quảng Ngãi...Tất cả những hình ảnh đó linh động rõ nét diễn ra, trải dài.. và cuối cùng hút mất trong màn sương đục mờ không gian. Cho tới khi những mảnh sương lướt thướt bay đầy kín  trời, ánh trăng khuyết và những chùm sao lúc mờ lúc tỏ, tôi đứng dậy trở về, lòng bình lặng như không.

*

Hôm sau, tôi phơi phới một mình  lên thư viện. Tình cờ vớ được bộ đóng tập nguyệt san Đại Học xuất bản ngoài Huế, loạt bài nếu tôi nhớ không lầm là “ Tâm thức người đàn bà trong Chinh Phụ Ngâm Khúc” của giáo sư Lê Tuyên đã cuốn hút tôi đọc ngấu nghiến. Lối dẫn giải theo phương pháp phân tích tâm lý kiểu tiềm thức Freud rất thời thượng hồi bấy giờ của ông trong bài viết này đã gợi cho tôi liên tưởng đến đề tài “ Trên đường tìm về Việt Tính”. Một đề tài mà năm 1964, vì những thao thức của tôi đang bị cọ sát mạnh trong lãnh vực Triết tây phương, tôi đã quẫy lộn lao lung suy nghĩ nhưng cuối cùng đành phải bỏ dở vì kiến thức tôi trước đó hạn hẹp, chưa đủ sức thông hiểu và thâm cứu Triết đông phương. Nhưng bấy giờ, với những học hỏi từ niên khoá vừa qua cuả các chứng chỉ Triết Ấn Độ và Triết Trung Hoa, sẵn hứng thú, ý tưởng tôi cứ thế lướt theo những hình ảnh hội họa: Từ nét cân xứng của nền hội họa Trung cổ tây phương đến nét chấm phá trong Truyện Kiều: “ Cỏ non xanh tận chân trời cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Từ những cảm xúc nồng nhiệt đến độ điên cuồng,  Van Gogh biểu lộ thành đường nét mạnh bạo trong sắc mầu nóng của tranh ông. Đến mối sầu dồn lại phổ lên cảnh vật, khiến mầu xanh của cây lá đậm đặc lại, thành chiều sâu thẳm của tâm tư người vợ da diết nhớ chồng đi lính phương xa trong Chinh Phụ Ngâm Khúc. Trong bốn câu thơ: “ Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một mầu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”,  ít nhất, theo tôi, có tới sáu đặc điểm ( bốn điểm của tâm tư và hai điểm về cách sử dụng   từ ngữ ) đã được đề cập đến một cách hết sức sâu sắc: - Tâm trạng phổ qua cái nhìn đầy tâm sự của con người đã thực sự chi phối cảnh vật, như Truyện Kiều cũng đã đề cập qua câu “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.” - Từ ngàn dâu thấy “xanh xanh” chuyển sang “xanh ngắt một mầu”. Câu thứ hai chuyển sang câu thứ ba là do tâm trạng của người thiếu phụ đã chủ động phổ vào cảnh vật, phổ vào mầu xanh của ngàn dâu. Tâm trạng cuồn cuộn sống động trong lòng khiến người thiếu phụ nhìn thấy ngàn dâu thoắt cái đã đổi mầu từ xanh xanh ra xanh ngắt.“Xanh ngắt”thực sự là mầu sắc xanh được thể hiện ra của tâm trạng người thiếu phụ lúc bấy giờ. - Không những thế, lối diễn tả bằng dấu chấm hỏi ở câu thứ tư trên đây vừa không hề có ngụ ý thắc mắc so sánh hơn kém giữa “lòng chàng” và “ý thiếp”, mà chỉ muốn hàm chứa mối xúc cảm lớn quá cho cả vợ lẫn chồng giữa lúc chia ly (Nghĩa là hai người quay nhìn lại nhau mà cùng chẳng thấy nhau nữa, tâm trạng rối bời của họ đã khiến họ không còn nhìn thấy nhau nữa, hình người đã lẫn vào với cảnh vật mất rồi), lại vừa muốn bầy tỏ ý muốn chia xẻ và cảm thông lẫn nhau( khiến mầu xanh của ngàn dâu đậm nét hẳn lại thành “xanh ngắt”); Mặc dù nỗi lòng mong ngóng của người chinh phụ lẫn bước quân hành gian lao nguy hiểm nhưng không mất đi nét hiên ngang của người chinh phu, đã tạo ra hai tâm trạng khác nhau của cặp vợ chồng này. - Điệp ngữ “ngàn dâu” ở đây có tác dụng nhấn mạnh, bắt người đọc phải tập trung chú ý vào, để làm nổi bật lên sự chuyển đổi mầu sắc của ngàn dâu là do tâm trạng của người trong cuộc (tức người chinh phụ) phổ diễn ra. Đó là chưa nói đến khả năng diễn đạt phong phú bằng âm điệu của hai từ ngữ “xanh xanh” và “xanh ngắt”.

Tôi thổ lộ những ý tưởng  này với cha Lập. Tỏ vẻ thú vị, ông khuyến khích tôi cố viết gấp ra và sẵn sàng dành cho tôi một buổi thuyết trình trước nhóm sinh viên khoa Văn và Triết,  vào tuần tới tại giảng đường Spellman. Thế là tôi mải miết biên soạn rồi say sưa trình bầy, thảo luận với đám sinh viên độ vài ba chục người. Họ  còn sót ở lại viện để cố thanh toán niên học bằng khóa hai hoặc vì gia đình họ vốn sẵn cư ngụ ngay tại ĐàLạt. Sau  buổi thuyết trình và nhận được sự ngợi khen của LM Viện Trưởng, tôi thực tình khoan khoái. Nhân  cuối tuần lễ thứ nhì có mặt tại đây, tôi tự thưởng bằng một ngày chủ nhật ra thị xã rong chơi. Như  thời trang hồi ấy, mười giờ sáng tôi mới điểm tâm xong đĩa sôi lạp xưởng ở quán cô Bảo. Những cặp  “trai Võ Bị, gái Thị Xuân”*  đã dung dăng dung dẻ lũ lượt ngoài bùng binh chợ. Tôi tính đến ngồi lỳ tại quán Càphê Tùng tới khoảng 4 giờ chiều rồi xuống bến xe đò làm một tô phở đặc biệt, sau đó tà tà tản bộ về viện là vừa vặn tối. Nào ngờ chính quán cà phê này là nơi tụ họp của vài tên “ nằm vùng” sẵn ở đây hẹn gặp mấy đứa bạn nữa mới từ  Sàigòn kéo lên, bù khú với nhau. Như cơn lốc cuốn, chúng nó vần tôi như quay dế vậy: Hết lượn lờ cạnh hồ Xuân Hương “nghía” gái, lại sang nhà Thủy Tạ uống bia. Hết  xuống xóm Bà Thái thì về dốc Ngọc Hiệp đường Phan Đình Phùng tắm nước nóng, rồi vào Maxim nhẩy đầm.

Gần khuya, trên đường lôi nhau về lữ quán Thanh Niên,  một lũ ồn ào tranh nhau cười nói loạn xạ. Chợt có đứa nẩy ra ý kiến “độc” mới: -  Bây giờ chỉ đớp mận ăn cắp là ngon nhất đấy, chúng mày. Cả bọn nhao nhao: -  Mận ăn cắp phải được chấm với muối ớt ăn xin mới hoàn toàn tuyệt cú mèo. -  Trúng ý tao! -  Phân công mau đi. -  Phân công phân tư gì. Rắc rối quá vậy, chúng mày! -  Ê. Đừng  có phá đám nghe. Phân  công là hợp lý hóa cuộc chơi. -  Thôi. Chớ  lý luận. Đồng ý là làm phắt  đi chứ. Từ  trưa đến lúc ấy, tôi toàn bị du vào thế thụ động. Tới vụ này, chúng lại đưa tôi vào vai “ chủ động” hàng đầu, nghĩa là tôi sẽ phải là thằng leo lên hái trộm mận. -  Tao thổ công ở đây. Chúng mày theo tao. Hào vừa nói vừa hăm hở rẽ con  đường nhỏ tĩnh mịch dẫn lên đồi. Đi được một quãng, Thống nóng ruột bật tiếng hỏi: -  Tới chưa, Hào”kều”? -  Xuỵt! Vi phạm lần  nữa là ngồi nhìn chúng tao ăn, nghe chưa thằng “ba trợn”. Vội trì cánh tay Thống và nói nhỏ, đôi mắt ốc nhồi của Minh trợn lên lấp lánh trong màn đêm, thật đúng với tục danh bạn bè đặt cho Minh “trộ”. -  Mẹ. Làm cái đếch gì mà quan trọng thế hở! Thống lại  càu nhàu. -  Im đi. Muốn  bị đuổi về tức thời không? Tấn “anh hai” gằn  giọng cảnh cáo. Đúng lúc ấy, Hào bước qua đường và khom lưng nhón gót tới hàng hiên xi măng và đưa tay chỉ lên tàng cây mận chìa ra bên ngoài lớp kẽm gai đan cao nghệu. Khuỷu tay Tấn vội thúc vào sườn tôi và ra hiệu cho tôi tiến lên, ngồi trên vai Hào. Mặc dù vốn cao và ăn khỏe nhất bọn nhưng dưới sức nặng cũng không ít của thân thể tôi, Hào phải bám hai tay vào bức tường hiên mới ngật ngưỡng đứng thẳng người lên được.

Bấy giờ đầu tôi đã cao tới độ hai phần ba bề đứng của lớp rào kẽm gai, chỉ cần với thẳng tay lên nữa là chạm tới nhánh cây mận. Tuy nhiên một mình Hào “kều” không đủ sức chịu đựng nên cứ di động hoài, phải thêm An “mù” kè bên trái, Thống kềm bên phải và Tấn chịu sau lưng mới vững, đứng yên được. Chỉ trong vài phút tôi đã hai tay vớ từng nắm mận chuyền xuống cho Tích “còm” và Hải “lắp”...Chợt tôi thấy chao người đi, vai trái của tôi chạm vào rào kẽm gai. Dừng tay hái mận, tôi ngó xuống: An “mù” biến đâu mất. -  Thằng mù đâu rồi! Chắc mệt quá, bất đắc dĩ  Hào phải gắt khẽ. -  Tao đang kiếm kiếng... Tiếng An yếu ớt từ bóng tối chân tường vọng lên. -   Còm nó.. nó gạt..gạt rơi mất kính cận..cận.. thằng An. Hải “lắp” lại cứ giặn ra những lời giải thích. -  Mẹ kiếp! Luộm thuộm  quá. Thống gắt  toáng lên. -  Bớt lèm bèm đi chứ. Minh tính duy trì im lặng, lại càng khiến Thống điên tiết hơn nữa: -  Lèm bèm cái chó gì! Sao mày cứ hơi tí là lên giọng cha tao hoài, thằng “trố “ kia! -  Xuống nghe Hiển. Tao  chịu hết nổi rồi. Nghe  Hào vừa thở vừa giục, tôi luống cuống. Vừa gỡ được vai áo len trái thì khuỷu tay mặt lại mắc vào mắt kẽm gai. Tôi  chưa có thì giờ trả lời, Hào đã từ  từ  khom lưng xuống. Tôi vội vã cho chân trái chấm vào thành tường đứng kiễng lên, cả hai tay bám luôn vào rào kẽm gai và miệng tôi ấp úng:” Ấy, ấy...” Đúng lúc đó  thì chó từ trong nhà cất tiếng sủa vang. Tôi  chỉ kịp nhìn xuống thấy tụi bạn đã bỏ chạy hút vào bóng tối trên con đường dốc đồi. Đứa chậm chân nhất là An “mù” cũng chỉ còn thấy thấp thoáng cái lưng thôi. Ánh sáng đèn  điện túa đến. Tôi quay vào ngó cánh  cửa đã mở, bóng người và tiếng dép bước ra tới thềm nhà rồi. Mang danh  Hiển “ thỏ đế ”, lần này tôi thực sự mắc nạn.

*

-  Mấy trái mận xanh có đáng là bao mà... Một  giọng thanh tao của thiếu nữ cất lên...Nhưng câu nói ra được nửa ý đã vội bị ngắt giữa chừng. Cô gái leo lên bực thềm nhà phía trong, tiếp tay gỡ rối cho chiếc áo len của tôi đang dính cứng vào mấy mắt gai quái ác của hàng rào. Giữa ánh  đèn từ trong nhà hắt ra, khuôn mặt tôi lúc đó có lẽ... tức  cười lắm. Tuy nhiên  cô gái lại tỏ ra tử tế, dường như không muốn cho tôi thêm bối rối nữa. Khi tôi bước được xuống đất an toàn, cô ta mở cổng đi ra: -  Anh bị trầy xước gì không? -  Không...Cảm ơn... Ấp  úng được mấy chữ, tôi tịt ngòi luôn. Trước  mắt tôi, nửa khuôn mặt thiếu nữ sáng rõ ra với ánh mắt đen láy long lanh đầy vẻ tinh nghịch. Bất  giác cả hai chúng tôi cùng bật cười một lúc. -  Khuya rồi. Anh về  đi, kẻo lạnh. Cô  gái gợi ý. Quay lưng  được vài bước, tôi ngoái nhìn lại. Cô gái giơ tay vẫy. Lúc  đó mới yên lòng, tôi bỏ đi một nước. Ngẫm nghĩ  mà giận lũ bạn, tôi về thẳng viện, định bụng sẽ chẳng thèm ló mặt ra phố nữa. Trưa hôm sau, tôi gặp lại cô gái ở hành lang thư viện. Từ  xa, dáng cô tầm thước nhưng vẫn thanh, khuôn mặt trắng hồng mà đôi má không phinh phính như  đa số các cô gái cư ngụ tại đây. -  Cô là... -  Bích. Và anh tên Hiển. Tôi sững người  ngạc nhiên. Bích tủm tỉm cười, nói tiếp: -  Mới gặp đêm qua nhưng đã thảo luận với nhau tại giảng đường Spellman tuần trước đây. “ Thảo nào”, tôi nhủ thầm và tự nhiên lấy lại tự tin.

-  Sao. Mận  anh ăn ngon không?  -  Quá vụng mà dám ăn trộm. Lẽ  ra mận còn phải chát và chua hơn thế nhiều. -  Nhưng chủ cây mận cũng không đến nỗi chát lẫn chua quá chứ?... Các bạn của anh đâu rồi? -  Chắc giờ này chúng nó mới từ  lữ quán khởi hành đi ăn sáng đó. -  Mấy ông ở Lữ Quán Thanh Niên thì.. nhất rồi. -  Nhất cái gì cơ? -  Đủ thứ. -  Cô cũng biết nhiều đấy nhỉ. -  Em ..cũng nghe nói vậy thôi. Chúng tôi cười thoải mái và tạm chia tay. Chiều  gặp lại. Mặc dù Bích đi xe đạp, hai đứa tản bộ bên nhau ra đến đầu đường Võ Tánh. Từ  đó, mỗi ngày chúng tôi gặp gỡ thường. Lúc thảo luận  sách vở. Lúc  cười nói vu vơ. Có trưa hai đứa ra ngồi sườn  đồi phía sau viện, nhìn nắng rực rỡ reo vui dưới thung lũng mà im lặng bên nhau cả giờ đồng hồ. Chủ nhật, Bích rủ em nàng và tôi, kéo theo vài đứa bạn của tôi ở Lữ quán, cả bọn dùng xe đạp đi chơi thác ĐaTân La. Leo lên đến đầu thác, len lỏi dọc dòng suối vào rừng sâu kiếm phong lan quí. Sáng thứ hai, Bích ra bến xe đò tiễn tôi về lại Sàigòn.

*

Cơn thác lũ của hàng loạt những hiện tượng như chỉnh lý và biến động miền Trung, những công tác xã hội và học đường, xen kẽ vào đó là những cuộc truy hoan bạc ruợu, ái tình lẩm cẩm... Nói chung là cơn lốc bốc ra từ cái nồng nhiệt của thời trai trẻ đó đã nhận chìm tôi vào cõi mộng du. Hơn nữa, nhịp sống dầy cộm còn khiến tôi mỗi lúc thêm loay hoay đáp ứng nhưng chỉ thêm nhụt ý chí, lười suy nghĩ và mòn đi cảm xúc. Những cánh thư của Bích từ  Đàlạt đều đặn gửi xuống, ban đầu mỗi tháng sau tăng dần hai tuần một lá, chỉ tạo cho tôi vài giây phút gợi nhớ mấy hình ảnh quá tinh khiết, trong sáng nhưng lại rất tĩnh. Dù sao lòng  tôi cũng được dịp lắng đọng lại, bâng khuâng. Phút chốc  rồi lại tan biến. Mãi  đến chiều hai mươi ba tháng 12 năm đó, từ trong quán “Cái Chùa”, tôi một mình bước ra. Vỉa hè Tự  Do nhộn nhịp người nhưng đầy những vội vã. Ở mút đầu kia, dẫy đèn trang trí làm nổi bật hình thù nhà thờ Đức Bà đen sẫm trên nền hiu hắt của buổi chập choạng tối. Tôi chợt nhớ đến một đoạn nào đó trong lá thư của Bích mới gửi xuống vài ngày nay: “... Không hiểu tại sao em có cảm tưởng lễ Giáng Sinh năm nay sẽ cô đơn  đến muốn chết được. Chưa bao giờ em bi khủng khoảng  như thế này. Ngày lễ càng gần, em càng thấy lo sợ héo hon.. Anh có cảm thông được cho em chăng, Hiển?...”   Dự tính đi xem tài diễn xuất của Montgomery Cliff và Liz Taylor trong phim Cây Nhân Sinh (L’ arbre de Vie) đang trình chiếu ở rạp Eden ngay cạnh đây trong xuất giờ này liền bị hủy bỏ, tôi quay về phòng trọ gậm nhấm nỗi buồn của mình.

Sáng sớm hôm sau, tôi ra bến xe, và chiều bốn giờ đến Đàlạt. Tôi lên  phòng trọ của bạn bè ở lữ quán Thanh Niên tắm rửa rồi đến thẳng nhà Bích. Nàng  đứng chết sững, trân trân nhìn tôi ở bậc thềm. Các  em nàng chạy tới tíu tít nói cười. Cha mẹ nàng ra mời mọc  ân cần. Chúng tôi rời  nhà, đi vòng xuống đường Võ Tánh tới vườn Bích Câu bên hồ. Tôi chỉ căn biệt thự mái ngói và tường gạch đỏ au đang lấp ló sau tàng thông đồi bên kia mà nói lên giấc mộng mơ được sống trong đó.. Tôi kể về chuyến xe lửa từ  Sàigòn lên cắm trại ở khu Suối Vàng, Đàlạt của tôi hè năm 1960. Đường xe lửa này bây giờ không còn chạy nữa, khu nhà ga bỏ hoang nằm khuất sau con đường dốc dẫn sâu lên Nha Địa Dư ở phía xế trái hồ... Thủy chung không mở miệng một lời nào, Bích chỉ bám lấy cánh tay phải của tôi và ép sát người vào tôi.

Hai  đứa tha thẩn đi ngược trở lại. Tới chân đồi Cù thì hoàng hôn hiện  lên vừng mây đỏ ối trên viền núi xanh thẫm gợn sóng ở phía thác Cam Ly. Chợt Bích  níu tôi dừng bước. Theo tay nàng chỉ, tôi nhận ra một đóa hồng lẻ loi mọc lên giữa sườn đồi Cù cỏ mịn xanh mướt. Từ xa,  đóa hồng dại đó cựa mình rung rinh trong gió như reo vui. Mấy cánh hồng còn  chúm chím một nụ e ấp nhưng sắc đỏ rực, như hứng trọn được ánh mặt trời của cuối ngày đông. Một sức hút nào quá mãnh liệt khiến tôi chạy bay lên sườn đồi, ngắt đóa hồng ấy xuống trao cho Bích. Nàng chăm chú ngắm bông hoa với ánh mắt long lanh như  ngấn lệ. Môi  nàng hé mở đủ cho men răng bóng lên. Tự nhiên tôi thấy khuôn mặt Bích ửng hồng lấp lánh như phát ra tia nắng, đôi mắt nàng nhỏ lại như nhắm hờ...Và tôi đặt nụ hôn ấm lên môi nàng...Tự bao giơ, vòng tay nàng khép kín lưng tôi...

Tối đó, theo gia đình Bích đi nhà thờ và về dự bữa reveillon tại nhà nàng xong, tôi cáo từ. Nhưng  đúng ước hẹn, tôi đã bí mật lén trở lại vào nửa khuya. Ở  sườn đồi sau nhà nàng, tôi chọn một chỗ ngả mình trên thảm lá thông để có thể thoải mái nhìn xuyên qua rèm voan cửa sổ vào đúng chỗ kê chiếc dương cầm trong phòng khách. Sau hồi chuông nhà thờ đổ dồn vang vọng, gia đình Bích quây quần cùng hát mấy bài thánh ca do nàng đệm đàn. Kế tiếp là những bản  nhạc nàng biểu diễn. Chiếc áo lụa hồng nhạt khoác hờ trên bờ vai thuôn dài phủ xuống hết gót chân, Bích say sưa với mười ngón tay lúc thoăn thoắt lúc khoan thai lướt trên phím đàn. Thỉnh thoảng mặt nàng ghếch  chéo lên, đôi mắt nhắm hờ, mi hé mở mời gọi...Chỉ có hai chúng tôi mới biết  và hiểu với nhau trong những giây phút này. Từ bản Ave Maria, nàng chuyển sang Too Young. Tôi mường tượng hơi nhạc đang bay bổng theo giọng ca thiên phú của Nat King Cole: “ They tried to tell us we’re too young Too young to really be in love...” Lòng tôi bung mở ra mênh mông, lâng lâng ngây ngất theo từng nốt nhạc bật lên lời tâm sự chan chứa... Đến khi nàng bắt qua “Oui, devant Dieu”, tôi cũng tự nhiên cảm thấy thoải mái với” Oui, devant Dieu, devant les hommes Oui, pour l’amour que tu me donnes...” Tuy nhiên, tới đoạn:” Oui, pour les joies et pour les peines et pour les lois qui nous enchainent.. Et je promet quoiqu’il advienne...” thì tôi cảm thấy trúc trắc: Những lễ nghi phức tạp và mâu thuẫn giữa các quan niệm tôn giáo nề nếp khác biệt hẳn nhau bắt đầu hiện ra. Rồi những  phiền toái ràng buộc, những tranh chấp từ nhỏ mọn đời sống đến quan niệm, tư tưởng và cuộc đời...cứ thế diễu  qua trước mắt tôi một chuỗi dài lê thê bất tận, tới độ bắt tôi phải vùng đứng dậy và bỏ đi. “ Je t’aimerais toujours...” “ Đúng, tôi có thể yêu nàng mãi được. Nhưng..”, tôi nhủ thầm. Câu chót của lời ca đuổi theo riết sau lưng tôi:” jusqu’à mon dernier jour”, trong tiếng dương cầm âm vọng từng nốt nhẩy múa giữa không trung. Sáng sớm mai, Đàlạt vẫn còn mờ nhạt trong sương mù, tôi đã có mặt trên chuyến xe đò rời bến.

*

Từ đó, những lá thư của Bích tới tấp gửi xuống, tôi không bóc ra xem mà cố nén thở dài ngồi ngắm nhìn cho thật no con mắt  nét chữ mềm mại ngoài phong thư góm ghém hình bóng tinh khiết của nàng. Rồi tôi bỏ xếp thư  nàng vào một hộp gỗ bọc gấm nhung, trân trọng. Một năm sau  rồi hai, ba năm sau nữa. Những lá thư  của Bích vẫn gửi xuống đều nhưng thưa dần, bớt dầy hẳn đi. Những lời nhắn trao cũng chẳng  còn nữa. Trong khi đó, bao nhiêu biến chuyển xẩy đến  cho đời tôi, nhiều khúc quanh gần như muốn che lấp hết quá khứ của tôi.

Năm 1972, tháng mười, Sư Đoàn 18 thay thế Sư Đoàn 5 thủ mặt phía tây bắc của Miền Đông Sàigòn. Tôi lên tiền cứ Lai Khê chờ trực thăng bốc vào  công tác An Lộc. Tối hôm trước, Việt Cộng dội pháo và hỏa tiễn để đặc công đột  nhập nhưng thất bại vào lúc bình minh. Tôi  đến nơi, những xác đóng khố bôi nhọ đen khắp người vẫn còn nằm kẹt trong các lớp hàng rào kẽm gai phòng thủ. Lịch trình bay không được ai khẳng định rõ được là trưa, chiều hay sáng mai mới có chuyến trực thăng vào An Lộc. Mấy tháng bị trực chiến chết dí ở hậu cứ Long Khánh, tôi nhân dịp này tự quyết định “dù” đại về Sàigòn nghỉ xả hơi. Tài xế xe jeep của tôi, hạ sĩ nhất Lý văn Năm tự Năm Mập, trên đường tới đây đã bị miểng pháo rỗ bấy cánh tay mặt. Dặn dò an ủi nó vài câu chưa dứt, tôi đã vội nhảy lên một chiếc GMC về lại Long Bình rồi đón xe đò vào Sàigòn.

Trước hết phải ghé thăm “mật khu” chị Tình chị Quí cái đã, sau đó tôi mới đủ thoải mái nhẩn nha tạt qua quán Cái Chùa xem bất ngờ có kiếm được một vài tên bạn nào để vui chơi nhậu nhẹt lai rai chăng. Cũng gặp mấy khuôn mặt thân quen của trên một thập niên nay tại đây: Đậu tiết lộ rằng ông B. hiện lên làm Thứ Trưởng đặc trách Đại Học có ý tìm để tái lập hồ sơ biệt phái cho tôi. Yên lặng ngồi nghe, tôi hơi xao xuyến trong lòng: Ông B. khởi nghiệp giáo sư Văn chương Pháp từ cái luận án về tiểu thuyết gia Saint Exupéry. Với cặp kính cận dầy đè trên sống mũi lớn, ông B. luôn luôn nói năng nhỏ nhẹ và phong thái tự  nhiên chững chạc, đường hoàng. Hình ảnh ông của bẩy năm về trước hiện ra trong ký ức, kết hợp với tin tức Đậu vừa tiết lộ khiến lăn tăn gợn một làn sóng cảm động trong tôi.   Tuy nhiên, tước vị giáo sư vốn đã là một cái gì nhạt nhẽo và bội bạc đối với tôi kể từ khi tệ đoan quậy ruỗng nát cả trong ngành giáo dục, và nhất là cuộc sống trong quân ngũ ba năm nay cũng đã mở cho tôi những chân trời mới của thực tại ở bên ngoài thành thị thuộc cái đất nước chiến tranh này... Tự nhiên tôi nhận ra mình trở về thành phố lúc này quả là vô duyên: Vài năm lính khiến tôi thấu hiểu tình cảnh của các bạn tôi đã phải đi lính từ thời vừa rời khỏi bậc trung học. Mặc dù cảm thông với họ,  tôi vẫn không bằng lòng với thái độ của đa số họ khi về thành phố. Đồng thời, tôi lại thấy mình mỗi lúc một xa cách với những người bạn vẫn còn sống đời sống dân sự  như tôi trước đây.

Đứng dậy từ giã họ, tôi lấy cớ  phải về nhà nghỉ. Nói dối,  đúng vậy. Nhưng  biết làm sao khác được. Thực ra không thể về gia đình ở giờ phút  này, tôi chỉ muốn kiếm chỗ nào thuận tiện ngồi một mình, và uống rượu. Đi dọc vỉa hè Tự Do, tôi đang băn khoăn cố gợi nhớ ra một nơi chốn nào thích hợp để mà đến ... - Ơ... Xin lỗi. Có phải Hiển  đó không?  Tôi dừng bước  ngó. Người đàn ông cao lớn đẫy đà, cà vạt cổ cồn đàng hoàng, nước da trắng hồng của một loại người chuyên ngồi trong phòng điều hòa không khí,.. duy có ánh mắt tươi còn hơn cả nụ cười đang nở trên môi.Nhờ vậy mà tôi nhận ra ngay: Cung, người bạn thân nhất của tôi hồi ba năm đệ nhị cấp trung học. Vốn con của một dân biểu thời đệ nhất Cộng Hòa, nó là đứa duy nhất trong bọn tôi đi học bằng cách ngồi phía sau chiếc Peugeout 203 có tài xế riêng lái, trừ những vụ rong chơi ngoại lệ trên chiếc xe đạp cũ mèm của tôi. Nó có biệt tài đổ xí ngầu lác chưa bao giờ thua nên  bị các ông bán thịt bò khô và thịt bò viên lẫn nước đá nhận quanh trường đều cạch mặt. Tập chơi quần vợt từ hồi 14 tuổi, tay phải nó to hẳn so với tay trái.

Có lần vì bênh tôi, nó chỉ đấm có một quả bằng tay mặt mà một anh học sinh lớp đệ Nhất trường ngay sát cạnh đổ máu cam liền; tuy nhiên kết quả hai phe hòa nhau và dẫn nhau ra ăn thịt bò khô do nó đãi. Trong túi nó không bao giờ có dưới 50 đồng, còn tôi họa hoằn được vài đồng đã là sang rồi. Thế mà hôm nghe  kết quả cùng đậu tú tài 2, tôi đã làm le hùng hổ bao nó uống một ly cối nước mía, giá một đồng một ly. Và sau đó, Cung có học bổng sang Canada... Mấy hình ảnh trên bật ra trong trí nhớ, tôi vẫn giữ chừng mực nắm tay bạn: - Cậu mới về nước? Ngược lại, Cung xúc động ồ ạt: - Ba năm rồi. Hiện tao làm trong  cơ quan khai thác dầu hỏa. Kiếm bạn bè,  nhất là mày, không gặp được đứa nào cả. Tình cờ bắt  được mày đây, còn gì bằng!.. Ớ,  mày mà cũng dính phải cái thứ này sao?

Cung  chỉ vào bộ quân phục nhầu nhèo và đầy bụi đất đỏ của tôi. - Sao lại không! Tôi cười nhếch mép, trả lời. Cung bật cười ròn rã một cách dễ dãi, bỏ sang chuyện khác: - À, quên nữa. Để giới thiệu vợ tao với mày chứ.. Em ơi,  lại đây. Lại đây nhanh lên. Cung quay ra vẫy gọi người thiếu phụ bế con đứng  ngay lối ra vào thương xá Eden. Nàng lặng lẽ im lìm như  đứng đó tự bao giờ. Nếp váy đầm mầu nâu đậm làm nổi bật làn da trắng muốt của đôi chân thon, nàng đeo một cặp kính đen to bản, thủy chung vẫn hướng nhìn về phía tôi. Khi Cung vẫy gọi, nàng cất bước lại gần... Nàng  chưa đến nơi, tôi đã nhận ra là Bích. Bích  của năm 66 trong đời tôi. Bích  của Đàlạt. Bích  của khung trời tinh khiết nhất suốt đời tôi... Nhưng sáu năm qua tôi đã phong kín Bích trong những tập thư  chưa hề được mở ra đọc. Bích đã là của tôi, cái phần sâu kín trang trọng nhất  của kỷ niệm. Nàng dừng bước  ngay trước tôi. Nước mắt đã theo khuôn kính chẩy dài xuống tóc mai của nàng.

Thế  mà thằng Cung bạn tôi vẫn “ngố” như xưa, vẫn vô ý không hay biết gì hết. Nó cứ rối rít nói năng theo xúc cảm riêng còn đang sôi nổi trong người nó: - Đây là Hiển, bạn thân nhất của anh. Không ai thân hơn nó nữa, em biết không. Cậu bé con trên tay nàng tròn mắt ngó tôi không chớp. Sẵn đó, tôi cúi đầu về phía trước và nhỏ giọng hỏi nựng cậu bé, như chưa bao giờ ân cần đến thế: - Cháu tên gì? Mấy  tuổi rồi? - Tên Vinh, gần hai tuổi rồi đấy, thưa bác Hiển ạ. Cung  lại nhanh nhẩu đáp ngay. Vinh? Vinh Hiển, Hiển Vinh. Tôi giật mình... Vẫn nhỏ nhẹ ân cần, tôi tiếp lời Cung: - Vinh là vinh quang, cháu nhỉ. Lớn lên cháu sẽ giỏi hơn ba cháu, và chắc chắn là phải sung sướng hơn bác Hiển này rồi, cháu nhỉ. Cung vùng cười lớn một cách khoái trá: - Đúng vậy. Thôi,  bây giờ về nhà tao. Tha hồ tâm sự.. Mày không bận gì chứ? Tôi thoái thác,  nại vì công vụ khẩn. Cung trao danh thiếp,  hẹn bất cứ lúc nào rảnh tới chơi. Tôi chào kiếu  từ. Bích  chỉ mấp máy môi mà không ra tiếng.

*

Rời khỏi Sàigòn ngay, tôi quá giang ba chặng xe để lên lại Lai Khê. Do nhu cầu khẩn cấp, hai chiếc trực thăng đột ngột cất cánh, tôi đi theo vào An Lộc ngay buổi chiều. Từ  xa trên độ cao, thị trấn này nằm chếch lọt dưới một thung lũng hẹp và dài, với vài gợn đồi đất rải rác. Nhà cửa, dinh thự  và công sự không cái nào nguyên vẹn. Toàn  là những bức tường méo mó lởm chởm đâm lên tua tủa, còn bao nhiêu đổ nát lấp hết mọi mặt đường phố và lối đi. Những mái bạt nhà binh hay lỗ chỗ một lô túp lều, dân quân lộn xộn... Một  khúc đường xi măng làm phi đạo loang lổ đạn pháo kích và hầm hố. Trực thăng được lệnh một chiếc đáp xuống thải người và tải thương, chiếc kia bay quần trên không giám sát yểm trợ. Khi  trực thăng xà xuống bay là là trên phi đạo, những anh lính ngồi ngoài đã tụt khỏi sườn máy bay để lăn vào những hố đào gần nhất dọc phi đạo. Là kẻ chậm chân nhất, tôi lom khom chạy trong vùng bụi  mù lộng gió. Đột nhiên  hụt hẫng dưới chân, tôi té lộn mèo xuống một cái hố. Đầu  tôi đập vào vách đất, choáng váng ê ẩm. Chẳng biết đến mấy phút  sau mới hết hoa mắt, tôi nhỏm ngồi dậy ngỏng cổ nhìn lên. Bụi  cát vẫn mù mịt trên miệng hố. Một tiếng ầm nổ lớn, đất đá và sắt vụn tung văng rào rào. Tiếp theo là tiếng nổ khác đâu đây, rồi lại nổ nữa. Tôi ôm đầu chịu trận... Một lát sau, giữa những tiếng nổ xa gần không nhất định, tôi nghe có giọng gọi ơi ới: - Thiếu Úy Hiển. Thiếu Úy.. ông ở đâu? Đúng  là tiếng của Thượng sĩ nhất Tài, Thường Vụ hành quân của tiểu đoàn. Tôi rống lên: - Đây. Hiển đây. Tài đấy hả? Bước  chân rầm rập chạy tới. Tôi bị nắm tay kéo lên khỏi miệng hố rồi cứ thế bị lôi chạy băng băng.

Một  đoạn đường khá xa sau, chúng tôi chui vào chiếc hầm bên bức tường bê tông cốt sắt nghiêng. Từ  trong đó nhìn ra, tôi vừa thở vừa quan sát. Phi đạo  cách khoảng ba trăm thước vẫn bụi mù trong cơn lốc cuốn. Cánh  quạt trực thăng vẫn quay. Toán tải thương vẫn  lăng xăng chạy qua chạy lại. Và pháo địch từ sườn những ngọn đồi bao quanh thung lũng vẫn rót xuống đều đều, từng quả đạn nổ tung tóe chỗ này chỗ kia lác đác. - Chiếc yểm trợ đâu rồi? Tôi thắc mắc. - Nó dọt rồi, Thiếu Úy. Chắc lại gặp tầm nhiệt SA-7. Vụt bốc mình lên khỏi phi đạo, chiếc trực thăng nghiêng hẳn sang bên trái và ngóc đầu lao đi, để lại một trái đạn pháo rớt ngay đằng đuôi, trái nữa rơi lệch sang phải, và trái khác đúng trước mặt nếu chiếc trực thăng cứ bay thẳng đường mới cất lên! - Đạn tránh, ông thầy thấy chưa... Thôi mình  cũng đi là vừa. Tài vừa nói vừa khom mình  ra khỏi hầm.

Chúng tôi bước lên một chiếc jeep trống mui, bể hết kính trước và không còn cả nắp đầu máy, sườn xe thì lỗ chỗ không biết bao nhiêu lỗ đạn lởm chởm. Xe rú ga chồm chạy bừa trên gạch đá lổm ngổm, quẹo trái quặt phải để tránh những bức tường đổ ngổn ngang, nệm xe nhảy tưng tưng liên hồi. - Có gì lạ không? - Bình thường ông thầy. Hôm qua hai “con” Bảo Toàn bị thương khi đi sửa máy cho bên Thiết Giáp và trục xe GMC cho Vận Tải Sư Đoàn. Còn vụ chín lao công đào binh bên Tiếp Liệu trốn trong lúc tải đạn bữa Chúa Nhựt, chắc Thiếu Úy hay rồi? - Vì sao mà Xếp kêu tôi vào gấp vậy? - Tui hổng rành lắm. Hôm qua Đại Úy Của đại đội Bảo Toàn bỏ đi đâu mất tiêu, khiến cho hai “con” mình mắc nạn lãng xẹc. Trung Tá muốn phạt củ rồi.

Hồi tối lại thêm con nhỏ dân nào đó tố ông Trung Úy Niên làm ẩu nên ổng nổi sùng nhốt ông Niên, và đòi  Thiếu Úy vào thay chắc. - Xếp có mặt ở Bộ Chỉ Huy chứ?  - Trung Tá lên Sư Doàn họp từ sáng, chưa thấy về. Chiếc Jeep  đỗ xịch lại. Định  bước xuống, nhìn lướt ngang, tôi bỗng thấy khói còn uốn éo bốc lên ở sườn đồi đất sát bên phải. Giữa những lỗ  đạn pháo cũ có hai lỗ mới bị pháo cầy, đất còn tươi nâu. Một  đóa hồng dại bị chém lìa khỏi cuống rơi trên nền cỏ cháy xém đen quăn queo vì chất lân tinh bén loang ra. Mấy  cánh hồng rúm ró tím xẫm mầu đỏ huyết đọng. Tôi ngẩn người nhìn...

- Ê. Mới đến nơi, sao đã thất thần sớm thế kia?  Trung Úy Lữ  từ hầm chỉ huy bước ra. Mấy tên khác lấp ló trong ấy đưa tay vẫy gọi rối rít: - Chúng vừa pháo dàn chào cậu đấy. - Đừng yếu quá chứ, công tử. - Vào đây đi. Miệng tủm tỉm cười, tôi xuống xe. Bóng đóa hồng dại trên sân cù năm xưa bỗng vụt  khuất hẳn. Hình ảnh  Đàlạt tĩnh mù và Sàigòn hỗn độn chồng lên nhau, cả hai cũng đều lùi xa ở sau lưng... Trước mặt  tôi, nắng chứa chan chói lòa.

3 giờ rưỡi sáng ngày 19 tháng hai, 1987.

Phạm Quốc Bảo.

(Trích "Hốt Một Thang", tuyển tập, Việt Hưng xuất bản năm 2006)

Bạn đang theo dõi trang: Văn Truyện Đóa hồng dại trên Đồi Cù _ (Phạm Quốc Bảo) (Truyện)