Lần đầu đến Đà Lạt _ (Dzunguyen) _ (Hồi ký)

  • PDF



LẦN ĐẦU ĐẾN ĐÀ LẠT


Năm tôi lên 9 hay 10 tuổi, cậu tôi có kể cho nghe về thành phố Đà Lạt, sau chuyến cậu đi công tác trên đó trở về. Cậu tôi kể:

-Đà Lạt là một thành phố rất đẹp, nhà cửa, đường xá ....cái gì cũng lạ. Thí dụ khi đang đi trên một con đường này, nhìn lên bên tay phải, có con đường xe nó chạy trên đầu mình, nhưng nhìn xuống bên tay trái,l ại thấy có người đi dưới chân của mình.

Nghe vậy tôi chả hiểu ra làm sao cả! Cho đến khi lớn lên, trở thành một chàng thanh niên 21, 22 tuổi, tôi vẫn chưa một lần được lên Đà Lạt. Thỉnh thoảng có việc đến nhà Bưu điện hay lang thang ra các quán nhỏ KiỐt (Kiosk) đặt dọc theo đường Nguyễn Huệ Sài Gòn, tôi thấy họ bán các tấm bưu thiếp, ảnh chụp danh lam thắng cảnh Đà lạt. Trên những tấm hình, họ còn in các dòng chữ như: Đà Lạt, Thành phố mù sương- Thành phố ngàn thông- Thành phố ngàn hoa- Xứ hoa Anh đào-Đà Lạt: Le petit Paris ..... Tại sao người ta lại dành cho Đà Lạt nhiều mỹ từ như vậy? Tôi luôn ước ao có lần được lên Đà-Lạt xem thành phố này có phải là:

Đà Lạt thành phố mộng mơ
Thông xanh,cảnh đẹp,sương mờ quanh năm.


Quả nhiên, người ta nói không sai: "Có cầu-bắc cầu mới tới". Vào tháng 7/1973, toán chúng tôi gồm 12 SVSQKQ, vừa mãn khóa quân sự tại Trung tâm huấn luyện Không quân Nha trang, trở về Bộ Tư Lệnh Không quân thì được lệnh chuẩn bị lên Đà Lạt học chuyên ngành. Tôi cũng như các bạn, đa số chưa biết Đà-Lạt là gì. Vì vậy đứa nào, đứa nấy rất mừng.

Rồi ngày N, giờ G cũng tới, chúng tôi tập họp tại Ban chuyển vận Sư Đoàn 5 Không quân/Tân sơn Nhất, xếp hàng lên chiếc máy bay quân sự C 7A Caribu, loại phi cơ thích hợp cho các phi trường có phi đạo ngắn, như Phi trường Cam Ly (1.500m) vừa bằng với độ cao của Đà Lạt, so với mực nước biển. Máy bay đáp nhẹ xuống đường băng như một phi cơ thương mại. Đúng là Pilot Không quân Việt Nam , cất cánh và đáp một cách điệu nghệ đâu thua gì phi công nước ngoài, mà hãng máy bay Air Viet Nam phải mướn. Sau khi cám ơn Phi hành đoàn, chúng tôi lần lượt xuống phi cơ. Bỗng dưng một luồng gió mát lạnh ở đâu thổi đến, làm bay cả nón Kết-pi....cả bọn thích thú, cười vang. Tôi nhìn chung quanh , thấy những đồi thông bạt ngàn, đây là lần đầu tiên tôi thấy cây thông thật trên cõi đời này. Tuy nhiên nhìn phi trường Cam Ly hoang vắng, không một bóng người... tôi nghĩ nó giống như một phi trường dã chiến, của một cứ điểm quân sự trên cao nguyên nào đó. Vậy có khi nào họ bỏ lộn mình xuống đây chăng? (Tôi ngẫm nghĩ vậy).

Chúng tôi đứng chờ cả tiếng đồng hồ, không thấy xe nhà trường ra rước. Tôi thấy một chiếc xe Taxi từ xa chạy tới bèn rủ Tráng ra đón. Tôi hỏi ngay:

-Thưa bác, đây có phải là Phi trường Cam Ly của thành phố Đà Lạt không ạ? Cháu thấy chả có bảng hiệu gì cả.

Bác Taxi nhanh nhẩu trả lời:

-Đúng rồi! Bộ mấy cậu mới lên Đà Lạt lần đầu hả? Vậy mấy cậu muốn về đâu?

Tráng trả lời:

-Bác đưa tụi con về căn nhà số 80 đường Pasteur.

Đây là căn nhà mà hai cậu em của Tráng đang ở trọ. Tôi trở vô thông báo cho cả nhóm biết và hẹn nhau sáng thứ hai đầu tuần đến nhà trường trình diện. Sau đó hai thằng tôi leo lên xe dọt trước. Rời phi trường CamLy xe đổ dốc ôm cua trái quanh chân một quả đồi, bác tài xế cho biết trên đó là khu lăng mộ ông Nguyễn hữu Hào bố vợ của vua Bảo Đại. Xe tiếp tục leo lên theo sườn đồi,rồi lại đổ dốc, cứ thế khi qua phải,khi qua trái... cứ một bên là sườn đồi, thì một bên là thung lũng.... chỗ nào cũng thấy cây thông. Thấp thoáng trong rừng thông là những căn biệt thự, theo kiến trúc Tây phương rất đẹp. Tôi thấy từ xa có một tốp nữ sinh đang đi bộ lên dốc, tóc cắt ngắn, đầu để trần, mình mặc áo khoác loại sang, vai đeo cặp như kiểu lính đeo ba-lô,dưới mặc chiếc váy màu da bò (Nâu hơi sậm ? ) ngắn vừa đủ khoe cặp chân săn chắc. Bác tài xế thấy vậy nói:

-Đó là mấy cô nữ sinh Trường Couvent des Oiseaux (Nay là trường nội trú của người dân tộc).

Thảo nào mấy em trường Tây có khác! Em nào em nấy tướng tá khỏe mạnh, có lẽ là nhờ đi bộ, leo dốc hàng ngày. Xe vừa đổ dốc ôm vòng qua trái, tôi nhận ra thác Cam Ly bên dưới, vì nó y chang như tấm hình tôi thường coi: những dòng nước đổ bọt trắng xóa, căn nhà mát hình lục giác dựng bên dòng thác, khách du lịch đang men theo bờ hoặc leo lên mấy tảng đá lớn để chụp hình... Tôi lại thắc mắc tại sao nó lại có tên là Cam Ly? Tôi nghe nói các cặp tình nhân hay vợ chồng khi đi hưởng tuần trăng mật đều đưa nhau đến đó. Phải chăng con thác này là nơi họ đến để thề với nhau rằng:

-Em (Anh) CAM chịu làm Vợ (Chồng) cho đến suốt đời, không bao giờ chia LY.

Rồi họ lấy chữ đầu và chữ cuối ghép lại thành hai chữ CAM LY! Sau này tôi mới biết là (Bé cái lầm). Thật ra địa danh Đà Lạt, bắt nguồn từ chữ ĐẠ LẠCH tên gọi của dòng suối Cam Ly, khởi nguồn từ huyện Lạc dương chảy qua thành phố Đà Lạt. Trong đó đoạn từ hồ Than thở tới thác Cam ly ngày nay được gọi là Đạ Lạch. Theo ngôn ngữ của người Thượng: DA hay DAK có nghĩa là nước, LẠCH có nghĩa là người LÁT. Đà Lạt có nghĩa là suối hay nước của người Lát. Còn tại sao ai cũng đến thác Cam Ly vì nó rất gần, nằm cạnh thành phố,bạn có thể đi bộ đến được.

Mải mê suy nghĩ,xe vào đến ven thành phố hồi nào không hay,vừa thoáng thấy mặt nước hồ Xuân Hương xa xa,tháp nhà thờ con gà(Nhà thờ Chánh tòa Đà Lạt)thì xe đã làm một vòng lái ngược phải lên trên một đỉnh
đồi,rồi quẹo trái vào đường Pasteur.Mọi người trong nhà chạy ra đón chúng tôi gồm có:gia đình chủ nhà,Học và Hiền là hai cậu em bà con của Tráng đang ở trọ căn nhà này.Học lên tiếng nói:

-Em thấy xe taxi đến nhà là biết dân Sài Gòn mới lên Đà Lạt lần đầu.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

-Bộ người Đà Lạt không thích đi xe Taxi hả?

Cậu Hiền chen vào nói:

- Đà Lạt, các anh có thể đi bộ cùng khắp thành phố, di xa một tí thì đã có xe Lam rẻ hơn rất nhiều, so với đi Taxi.

Tôi nghĩ cũng chả sao, chi có quá tay một tí mà gặp bác tài xế hiếu khách, lái xe chậm cho chúng tôi ngắm cảnh, rồi còn làm hướng dẫn viên du lịch tự nguyện như vậy thì cũng đáng đồng tiền bát gạo. Sau khi cất hành lý cá nhân song, định rủ hai cậu em ra phố kiếm cái gì ăn,thì bà chủ nhà đã đon đả mời:

-Chả mấy khi các anh ghé nhà. Hôm qua nghe các cậu ở đây nói có người Sài Gòn lên chơi, vợ chồng tôi đã có ý làm một bữa cơm dưa muối. Thôi xin mời hai anh. Này cả Học và Hiền nữa cùng ăn cho vui nhá!

Nghe lời mời thấy quen quen, giống như Mẹ tôi thường mời khách phương xa lại nhà chơi. Bảo đảm với các bạn, tôi và bà chủ nhà này cùng một duột là người Bắc Di cư 54 rồi đây. Ngay vào thời điểm đó, bụng thì đói, trong ruột sôi lên như đang luộc bún. Tôi lại có tật đói là chân tay cứ run lên, không muốn nói một điều gì, dù chỉ là một lời từ chối khéo. Thế là cả mấy anh em đi xuống phòng ăn bên dưới lầu. Vừa đi, vừa quan sát, tôi thấy căn nhà này có kiến trúc rất lạ, từ mặt đường Pasteur bước vào, là lầu hai của căn nhà, gồm phòng khách và hai phòng ngủ của gia chủ. Lên lầu là 3 phòng trọ của Học, Hiền và một cậu bạn về quê nghỉ hè chưa trở lại, nên chúng tôi mới có chỗ để tá túc. Phòng ăn,nhà bếp và phòng tắm ở tầng dưới cùng, cũng giống như basement của các căn nhà ở các tiểu bang miền bắc nước Mỹ, song khác một chỗ là khi bạn bước ra sân sau, nó biến thành cái ban công. Từ đó bạn nhìn suôi theo triền dốc, bên dưới là những vườn trồng rau của người địa phương chạy dọc hai bên một con suối nhỏ. Nhìn qua các căn nhà phía bên kia thung lũng, thì tôi mới hiểu ra là các căn nhà được xây như chôn sâu vào hai bên cạnh sườn của cái thung lũng này.

Bữa cơm trưa được dọn ra, không có vẻ dưa muối tí nào: Gà luộc chặt miếng bự, thịt dầy, úp mặt có da vàng ươm lên phía trên, rắc thêm vài sợi lá chanh non xắt mỏng, kế bên là đĩa muối tiêu chanh cùng vài miếng ớt đỏ xắt xéo, đầu cổ cánh thì sốt chua ngọt màu nâu sậm, lại thêm hai tô canh bí đao nấu với sườn heo non. Bà chủ nhà không quên giới thiệu món thịt bò xào khoai và hành tây Đà Lạt, gọi là cây nhà lá vườn. Nhìn một bữa cơm đãi khách như vậy, tôi cảm thấy bồi hồi trước tấm lòng hiếu khách của người Đà-Lạt.

Cơm nước xong xuôi, chúng tôi nói lời cám ơn và xin phép cho anh em chúng tôi ra cho biết phố Đà Lạt. Từ nhà chúng tôi đi bộ xuống ngã ba, bên trái là ngôi nhà thờ Tin lành nhỏ bị hư hại trong biến cố Mậu thân 1968,nay bị bỏ hoang. Chúng tôi quẹo phải đi ngang trước mặt tiểu khu Đà lạt,trường trung học La San (?) rồi đi thẳng đến nhà thờ con gà. Rồi băng đường qua Hotel ĐaLat Palace,trước có tên là Sofitel Dalat Palace, một trong những khách sạn lâu đời và sang trọng bậc nhất của thành phố Đà-Lạt, với màu trắng thuần khiết của cả tòa nhà, những thảm cỏ xanh mượt chung quanh,trải dài xuống tận bờ hồ Xuân Hương. Quả thật nhận xét trên không có gì gọi là quá đáng.

http://hoiquanphidung.com/user-uploa...1318248157.jpg


Hồ Xuân Hương là một trong những biểu tượng của thành phố Đà-Lạt, rộng khoảng 38 hecta, được tạo lập năm 1919, trong quá trình xây dựng thành phố Đà-Lạt. Nó cũng là nguồn cung cấp nước cho thành phố thời bấy giờ. Chúng tôi bước vào nhà hàng Thủy tạ, đi thẳng ra phía sau là 1 cái sần , ngồi đó mới có thể ngắm hết được mặt hồ. Ven bờ ngoài những cây thông , còn có những cây Dương liễu rũ xuống mặt nước. Những người có hồn thơ đã ví von như mái tóc thề của các cô sơn nữ người dân tộc Cơ Ho.

Nhà hàng Thủy tạ cũng sơn trắng, nên từ xa ai cũng dễ dàng thấy nó. Phía trước nhà hàng có một sân đáp trực thăng dã chiến, nơi mà các chàng Pilot nhà ta làm một cú đáp nhanh, rồi chạy vội vô thành phố thăm người yêu. Nếu không thì cũng chạy thẳng vô chợ Hòa Bình mua 1 bó hoa, vài hộp trái cây.. làm quà cho em Gia Long hay Trưng Vương nào đó ở Sài Gòn, thì cả lớp đều phải mê Không Quân.

Từ nhà hàng Thủy tạ, chúng tôi đi băng qua cầu ông Đạo. Nước từ hồ Xuân Hương chảy qua, cầu ông Đạo thật ra nó là một cái đập nước nhỏ giữ mực nước hồ Xuân Hương luôn đầy. Khi nước tràn qua, nó đổ xuống cái dòng suối sâu bên dưới, rồi suôi dòng chảy đến thác Cam Ly. Chúng tôi đi ngang qua quán Cà phê Hạnh Tâm (?) rồi đi thẳng vô chợ Đà Lạt (có tên là chợ Hòa Bình). Theo tìm hiểu thì chợ được xây dựng năm 1937, thay cho ngôi chợ cũ bằng gỗ bị cháy. Tôi thấy trên bức tường đầu hồi của chợ có dòng chữ bằng tiếng La Tinh: Dat(D) Aliis(A) Laetitiam(L) Aliis(A) Temperiem(T). Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem sau này nhờ các thày bên Giáo Hoàng Học Viện dịch có nghĩa là: -Cho người này niềm vui, cho người khác sức khỏe- Nếu ta ghép các chữ đầu lại sẽ là DA LAT. Đó là do những người có công kiến thiết thành phố, đã sáng tạo ra một câu cách ngôn khéo léo đến như vậy. Phía trên dòng chữ La tinh là huy hiệu Thành phố Đà-lạt hình tròn có tạc hình một đôi nam nữ người dân tộc.

Trước khi vô chợ, bên lề phải là các quầy bán trái cây đặc thù của Đà-lạt như: mận, hồng, đào, dâu tây thơm phức... nếu mang về tỉnh xa làm quà người ta sẽ bỏ vào các hộp giấy cạc-tông cứng, để khỏi bị dập. Ngay cửa chợ người ta chất từng đống cần xé rau. Tôi thấy nhiều nhất là cải bắp rồi đến khoai tây, cà rốt, xà lách, cải thảo, cải bông (Súp-lơ), hành tây, đậu Hà lan, rau chân vịt... Bước vào chợ là các quầy hoa, phải nói là tràn ngập các loại hoa, mà giá thì rẻ không ngờ. Vì vậy người Đà-Lạt có thói quen rất Tây là trưng hoa tươi hàng ngày trong nhà. Đúng là xứ ngàn hoa. Ngoài ra còn chè, cà phê, A-ti-sô loại dược liệu nổi tiếng của Đà-Lạt. Sâu bên trong là các sạp bán các đồ thông dụng, giống như các chợ khác để cung ứng cho các bà nội trợ. Chúng tôi theo cầu thang đi lên tầng trên là các quầy tạp hóa , các quầy bán áo len, họ đan bằng tay rất đẹp và chắc, mặt áo đằng trước có kết hình quả trám hay bện thừng, là những kiểu được khách chọn mua nhiều nhất.

Khi đi ra thì thấy sàn lầu chợ vừa bằng mặt đường phía trên, phố xá tấp nập người qua lại, vì nó là một trong các phố trung tâm của thành phố Đà-lạt. Chúng tôi quẹo qua bên trái là các quán cà phê nhạc ồn ào của giới trẻ, những dòng nhạc Trịnh công Sơn và Lê Uyên Phương rất được ưa chuộng. Nối dài là các quầy bán đồ lưu niệm, thời đó những kiểu chữ được cưa lộng rồi ghép tên người yêu mình lên các lát thân cây thông cắt xéo là bán đắt hàng nhất.
Chúng tôi làm một vòng quanh Hội trường Hòa Bình, nó giống như một cái ốc đảo, chung quanh xe chạy.Phía bên kia đường là những bậc thang rất rộng dẫn xuống cửa chợ Hòa Bình bên dưới, nơi chúng tôi vô lúc nãy. Từ đây, nếu đi sang các phố khác đa số các con đường đều phải đổ dốc. Mấy anh em chọn một nhà hàng ăn ở góc đường gần nhất để đãi hai cậu em của Tráng một chầu ăn tối, đồng thời để gởi lời chào đến thành phố Đà-Lạt, quả nhiên là rất đẹp.Vì vậy tối hôm đó tụi tôi ăn uống tới bến luôn.

Khi ra về dù có ngà-ngà say thì gió lạnh từ hồ Xuân Hương thổi ngược lên, chả mấy chốc tỉnh ra ngay. Nếu có còn lại chăng là cái cảm giác lâng lâng khi nhìn Đà-Lạt về đêm nó lung linh, huyến ảo lạ thường. Từ Hội trường Hòa Bình, chúng tôi đi xuống dốc về phía hồ Xuân Hương. Bên lề phải phía trên đầu chúng tôi là một dãy Ki-Ốt chạy dọc tới rạp hát Ngọc Lan. Từ trên họ xẻ các đường thang bằng Ciment rất hẹp xuống con đường chúng tôi đang đi , cuối dốc bên phải là bến xe Đà-lạt với các hãng xe đò nổi tiếng là Minh Trung hay Minh Nghĩa gì đó(?). Ngay giữa ngã ba sát bờ hồ và cầu ông Đạo là cái bùng-binh xe phải chạy xoay tròn khi đến đó. Ở giữa người ta thiết kế các vòi phun nước tựa như ở đầu đường Lê-lợi, Sài Gòn. Sau khi qua cầu ông Đạo, chúng tôi lại men theo đường cũ về nhà, gia đình ông bà chủ nhà đã đi ngủ.Nhìn đồng hồ đã 10 giờ đêm rồi còn gì!

Tuy vậy việc đầu tiên là phải đi tắm cái đã, vừa dội gáo nước đầu tiên. Trời dất! Lạnh khủng khiếp, giống như dội nước đá vào người. Thôi tôi lạy Trời để con ở dơ sống lâu, nhà lại không thiết kế có thêm vòi nước nóng kế bên, nên tôi lau khô cho lẹ,r ồi mặc hai ba lớp áo, quấn chăn ngủ .

Sáng hôm sau nhằm ngày Chủ Nhật, tôi mời cả nhà cùng tôi đi lễ tại nhà thờ con gà (Dù chỉ có tôi và gia đình chủ nhà là người có đạo). Bước vào trong nhà thờ con gà, thiết kế nội thất y chang nhà thờ Tân Định, Sài Gòn. Làm tôi có cảm tưởng như đang đi lễ tại Giáo xứ của mình. Tan lễ, chúng tôi di vòng ra phía ngoài. Dọc theo tường nhà thờ họ cất những quán ăn sáng rất đơn sơ, chúng tôi chọn một quán phở để vào ăn sáng. Mọi người bắt đầu kêu các món ăn theo ý thích của mình. Riêng tôi gọi một tô phở gà da dòn. Tại sao lại phải là da dòn? Này nhé các bạn, trước hết họ làm cho mình một tô phở gà bình thường như mọi người, song họ bắc một cái chảo gang lên bếp, cho vào đó một chút dầu ăn, một chút mỡ gà... rồi khi nóng họ đập dập tỏi bỏ vào, phi cho thơm, họ mới đổ cái chén đựng da và lòng gà xắt ngắn vào xào cho cháy cạnh, xong đổ vào cái tô phở của mình nghe một cái X..è..o...Xèo! Mùi thơm bốc lên... cả quán đều thèm. Khi ăn bạn lấy xà lách cuộn Đà-Lạt chấm vô nước phở nóng, bỏ vô miệng lẫn với mấy miếng da gà chiên dòn, ngoài Trời lại lành-lạnh. Nếu trong khi ta đang nhai mà Tiên nữ có đi ngang qua, cũng là người thế gian mà thôi! Vì vậy đĩa rau được tiếp liên tục. Hai dứa nhóc con ông bà chủ nhà không lo ăn, ngồi há hốc miệng, trố mắt nhìn tôi. Chắc chúng nghĩ là từ trước tới giờ,tôi chưa bao giờ được ăn rau vậy.

Ăn sáng xong, tôi đứng dậy trả tiền, gia đình ông bà chủ nhà ngỏ lời cám ơn rồi chào về trước, để bốn anh em chúng tôi làm một vòng quanh hồ Xuân Hương. Từ nhà thờ con gà , di thẳng ngang qua Hotel du Parc, nằm đối diện phía sau của Hotel Dalat Palace. Sau khi băng qua một ngã tư, chúng tôi đến đầu đường Trần hưng Đạo, bên phải là Dinh II (Tức dinh Toàn quyền Paul Doumer thời Pháp). Trước mặt dinh II có một ngã ba, rồi theo con đường đó di thẳng xuống bờ hồ Xuân Hương, sau khi đi băng ngang công viên Yersin bên trái và hồ Lắng bên tay phải. Tráng quay qua hỏi Học:

-Tại sao lại gọi là hồ Lắng?

Thấy Học bí xị, tôi đỡ đòn bằng cách nghĩ ra một cách giải thích:

-Này Tráng, bộ mày chưa nghe bản Đà Lạt hoàng hôn sao? Lúc đó Nhạc sĩ Minh Kỳ ngồi tựa gốc thông bên cái hồ không tên này mà sáng tác. Ngay câu đầu tiên ông ấy viết lời như sau:

-Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ. Màu lam tím Đà-Lạt sương phủ mờ.

Sau khi biết chuyện, người ta mới đặt tên cho cái hồ này là hồ Lắng. Nếu mày không tin cứ đi tìm Nhạc sĩ Minh-Kỳ mà hỏi.

Chúng tôi băng ngang đường Yersin là dến hồ Xuân Hương. Từ đó men bờ hồ, theo đường bà Huyện thanh Quan chúng tôi đi ngược lên đầu hồ. Nhìn lên quả đồi trước mặt là các dinh của bốn tướng đang bị quản thúc lúc đó là: Mai-Xuân-Kim-Đính. Xa xa là ngọn tháp của trường Lycee Yersin màu xám (nay là trường cao đẳng sư phạm thành phố) chúng tôi băng qua một cây cầu nhỏ (chỗ suối Đạ Lạch đang đổ nước vào hồ Xuân Hương) rồi đi thẳng đến vườn hoa thành phố. Theo lời kể của nhân viên, ở đây họ trưng bày nhiều loại hoa được trồng tại Đà-Lạt như hoa hồng, hoa Lys, hoa Lay-ơn, hoa cẩm tú cầu ,hoa bất tử ,hoa hướng dương..... Họ còn dẫn chúng tôi đến 1 khu toàn là hoa lan được nhập từ nước ngoài, nhân giống trồng tại đây như các chi lan Kiếm, lan Hoàng thảo, lan Hài, lan Hoàng hậu..... tất cả trên 300 giống.

Rời vườn hoa chúng tôi theo đường Trần nhân Tông, dưới chân đồi Cù đi qua một cơ sở của Viện Đại Học Đà-Lạt (Nay là Trường Đại học tại chức) rồi đến Viện Đại học Đà-lạt với phân khoa Chính trị kinh doanh nổi tiếng. Chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Đinh tiên Hoàng, chạy sát chân đồi Cù (Nay là Dalat Palace Golf Club) qua trường tiểu học Nguyễn- Trãi là di ngang phía sau khu đất của trường Bùi thị Xuân. Chúng tôi tìm đến Giáo Hoàng Học Viện. Vô tình tôi gặp được thày Hội Dòng Chúa Cứu Thế Nha-trang đang theo học một khóa Thần học tại đây. Vì là chỗ thân tình Thày dẫn lên giới thiệu với cha Viện Trưởng,Ngài giữ chúng tôi lại ăn cơm trưa nay với thày Hội. Thật là tiến thoái lưỡng nan, song tiến thì nghe có lý hơn, vì cuốc bộ mấy tiếng đồng hồ phờ cả râu, tô phở hồi sáng biến di đâu không biết, nên chữ YES lúc này là từ nên sử dụng. Hôm đó, chả biết Lễ quan thày của Cha hay thày nào mà Học viện lại đãi món Thỏ nấu bia, ăn kèm bánh mì nóng và chai rượu Tây đã bày sẵn trên bàn khách.

Bữa trưa vừa song chúng tôi ra phòng khách ngồi hàn huyên,tâm sự với thày Hội. Dạo tôi còn học quân sự tại Nha-Trang, chiều cuối tuần ra cổng Long Vân là nhà gia đình Bố Mẹ của thày ở đường Hùng Vương gần đó, tôi đến mượn chiếc xe Mini Vespa lượn lòng vòng ngoài phố ... chuyện vãn, chúng tôi chào thày rôi di lên đồi Cù. Thời đó Đồi Cù họ để tự nhiên, trông rất hoang sơ. Nó là một địa danh hơn là một danh lam thắng cảnh. Nói tên đồi Cù tôi nhớ thằng Hà khờ trong bọn tôi nó giải nghĩa thế này:

-Có thế mà tụi bay không biết,khi lên đồi cù tao thấy các cặp tình nhân, có lẽ vì Trời lạnh, ngồi trên đồi gió thổi còn mạnh hơn, rồi họ cứ rúc vào nách nhau. Tao hỏi tụi mày, họ không Cù léc nhau,thì còn làm gì?
Nên người ta mới đặt tên là đồi Cù chứ! Vì vậy một mình đừng có lên đó, một là không có ai quởn cho mình cù léc, hai là đừng làm phiền thiên hạ đang bận...Cù! (cái này lại phải hỏi người Đà-lạt-xin miễn bàn).
Tiếp tục cuộc hành trình, tụi tôi tìm đến Trường Don Bosco vì nghe nói trường mới khánh thành tuần trước, trường khang trang, rộng rãi. Nhất là Trung Tâm dạy Nghề, đầy đủ tiện nghi và hiện đại. Sau đó chúng tôi đi tắt về chợ Hòa Bình tìm một quán cà phê ngồi nghe nhạc đến tối mới chịu về.

Sáng thứ hai cả toán 12 thằng lên trình diện thì Trường cho biết đang chờ lệnh trên, vì nhà trường chưa bao giờ nhận SVSQ vào học. Rồi liên lạc tới lui, kết quả cuối cùng là mấy ngày sau chúng tôi phải trở về Sài gòn. Hồi đó chưa có bài-Tình yêu như bóng mây-của nhạc sĩ Song Ngọc. Nếu có tôi sẽ sửa lời hát rằng:

-Ngày mai tôi sẽ xa Đà-Lạt, thành phố này xin trả lại cho.....ai?

Vì lúc đó chân ướt, chân ráo mới đến Đà-Lạt chưa được một tuần, còn ngơ ngáo như Mán ra tỉnh thì có em má đỏ, môi hồng nào đâu để... trả lại cho Em! Đà-Lạt ơi biết bao giờ gặp lại???

________________________________

GHI CHÚ:
-Thân tặng 12 chàng Ngự lâm cùng lên Đà-Lạt năm 1973.
-Thân tặng những bạn là -Người Đà-Lạt- và những ai chưa một lần đến Thành Phố này.
-Những dấu (?) có nghĩa là nhờ các bạn ở Đà Lạt nhắc dùm những cái tên, địa danh cho chính xác. Ở cái tuổi này bộ nhớ mà không có vấn đề mới là chuyện Lọa!
Mong các bạn thông cảm.

Thành thật cảm ơn


DZUNGUYEN 72 C

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Lần đầu đến Đà Lạt _ (Dzunguyen) _ (Hồi ký)