Đà Lạt Một Thời Hương Xa _ (Nguyễn Vĩnh Nguyên) _ (Tạp ghi)

  • PDF

Đà Lạt

một thời hương xa

 

Đà Lạt luôn được các văn nghệ sỹ ưu ái nhờ vào khí hậu mát mẻ, dễ chịu và khung cảnh thiên nhiên quá thơ mộng. Dòng Nhạc Xưa xin trân trọng giới thiệu loạt bài của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên viết về Đà Lạt xưa.

Người thổi hắc tiêu cho hoa lan

Đà Lạt, một thời hương xa là tựa đề cuốn sách du khảo văn hóa Đà Lạt của nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên, do NXB Trẻ ấn hành. Cuốn sách đưa người đọc trở về Đà Lạt giai đoạn 1954 – 1975 với những câu chuyện thú vị của một đô thị kiểu Pháp, gắn với tên tuổi các nghệ sĩ vang bóng một thời.

Năm 1955, sau những thất bại trên chính trường, nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) suy sụp tinh thần. Ông nghiện rượu, mắc chứng đau bao tử và trầm cảm nặng. Đà Lạt được ông chọn làm chốn nương náu vì khí hậu tự nhiên hứa hẹn tốt cho sức khỏe, phần nào xa lánh thời cuộc đảo điên gây khổ não. Lúc mới đến Đà Lạt (1955), Nhất Linh cùng cậu con trai út – Nguyễn Tường Thiết – và con gái Nguyễn Kim Thoa thuê phòng ở tại số 12 đường Yersin (gần Hotel Du Parc)

Nhà văn Nguyễn Tường Thiết viết trong cuốn hồi ký Nhất Linh cha tôi“Nhất Linh chơi lan công phu hơn những người khác vì ngoài việc tầm lan ông còn ra thư viện tra cứu hoặc đặt mua từ bên Pháp các sách ngoại quốc viết về hoa phong lan, rồi tỉ mỉ phân loại, so sánh với hoa ở địa phương. Ông lại vẽ từng đóa hoa một, đặt tên và ghi chú từng đặc tính, với dụng ý sau này làm tài liệu viết một cuốn sách. Chiều nào ông cũng thổi hắc tiêu, nói là thổi cho lan nghe. Ông thổi bản J’ai rêvé de vous. Vous đây chính là đám hoa quấn quýt xúm lấy ông, nào là Nhất điểm hồng, Huyết nhung lan, Bạch hạc, Tím đồi mồi, Hoa cô dâu, Bạch ngọc, Thanh ngọc, Văn bao… thứ treo trên vách, thứ cắm trong chậu, thứ bày trên bàn.

Mỗi chiều thứ bảy, ông lại tổ chức hòa nhạc tại gia, ngoài tiếng hắc tiêu của ông, lại có sự phụ họa lục huyền cầm của Giáo sư Vĩnh Tường, khiến khách đi đường phải dừng chân trước khách sạn Du Parc, kẻ ngừng xe hơi, người ghếch xe đạp, để lắng nghe tiếng nhạc hòa tấu vẳng ra từ căn lầu nơi góc đường Yersin trong bầu không khí êm ả yên tĩnh của buổi chiều Đà Lạt”.

Chỉ sau một thời gian ngắn, chỗ ở trên đường Yersin đã trở nên quá chật hẹp, không đủ thỏa mãn để mở rộng chỗ trồng lan, nơi phố xá cũng không tiện cho sự phát triển của loài địa lan (còn gọi thổ lan) cần lối chăm chút cầu kỳ, cha con Nhất Linh chuyển sang sống trong căn biệt thự số 19 đường Đặng Thái Thân – căn biệt thự của ông Lê Đình Gioãn – một chủ gara xe ở Sài Gòn và là bạn chơi lan rất thân của Nhất Linh để lại.

Những người bạn tìm thấy sự giao cảm với Nhất Linh qua thú chơi lan hoặc đến giao du chuyện trò với ông thời kỳ này có thể kể: ông Lê Đình Gioãn, bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm từ Sài Gòn lên, bác sĩ Nguyễn Sỹ Dinh và ông Lê Văn Kiểm – người rất mê chụp ảnh (hầu hết những hình ảnh về Nhất Linh trong giai đoạn này đều do ông Kiểm chụp và lưu giữ).

Thanh ngọc đình sụp đổ

Rất nhiều người trong giới văn bút, trí thức từ Sài Gòn cuối tuần lên Đà Lạt du hí tìm cách lai vãng đến căn biệt thự của Nhất Linh. Có cả những người tìm đến với biệt thự không chỉ vì lan. Nguyễn Tường Thiết kể trong hồi ký rằng, có hôm, tướng Dương Văn Minh đã đến gặp Nguyễn Tường Tam đàm đạo về lan, thực chất là thăm dò ý định chính trị. Bản thân Nguyễn Tường Tam thời kỳ này cũng không phải đã dứt hẳn những khắc khoải của một trí thức từng là chính khách.

Năm 1957 có thể nói là thời điểm Nhất Linh dấn xa nhất vào cuộc sống của một ẩn sĩ. Ông mua một lô đất nằm ở vùng suối Đa Mê (Phi Nôm, nay thuộc H.Đức Trọng), dựng căn nhà gỗ có tên Thanh ngọc đình – tên loài hoa lan mà ông yêu thích, và làm nông, viết trường thiên tiểu thuyết Xóm cầu mới. Hằng tuần, các con Nhất Linh từ Đà Lạt về đây mang theo những tập giấy trắng không kẻ hàng và mỗi lần trở lại, thấy đã phủ kín những dòng chữ nhỏ li ti. Nguyễn Tường Thiết gọi đây là thời kỳ hạnh phúc nhất trong cuộc đời đầy sóng gió của cha mình.

Một cơn bão lớn vào cuối 1958 thổi qua những cánh rừng Đa Mê, biến Thanh ngọc đình của tác giả Đoạn tuyệt sụp đổ hoàn toàn. “Một điềm xấu” – nhà văn đã nghĩ như vậy (hay sự chộn rộn với cuộc thế lúc bấy giờ đã khiến ông tìm cách kiến giải về cơn bão cuộc đời mình theo chiều hướng đó). Ông thẫn thờ nuối tiếc nhìn ngôi nhà chỉ còn trơ nền móng, gỗ đá ngổn ngang.

Nhất Linh đã không còn được tĩnh tại ngồi lại với văn chương lâu hơn. Ông rời Đà Lạt về Sài Gòn và ném mình vào thế cuộc chính trị, trở lại tư cách một trí thức dấn thân để rồi cuối cùng chủ động chọn một kết cục đầy bi thảm.

Nguyễn Vĩnh Nguyên 
(Trích từ Đà Lạt, một thời hương xa – Du khảo văn hóa Đà Lạt 1954 – 1975, NXB Trẻ 2016)

Phạm Duy giữa chốn cỏ hồng

Đà Lạt với đồi núi chập chùng và khung cảnh lãng mạn đã ghi dấu nhiều kỷ niệm với nhạc sỹ Phạm Duy. Qua bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên, Dòng Nhạc Xưa hân hạnh tiếp tục loạt bài về “Đà Lạt, một thời hương xa”.

(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 2016-10-18)

Nhạc sĩ Phạm Duy đến Đà Lạt lần đầu vào năm 1944. Ông đã gọi thành phố này là “nơi thần tiên”.

Ông kể lại trong cuốn hồi ký còn trong dạng bản thảo của mình rằng gánh hát Đức Huy – Charlot Miều lúc đó phải ghé qua Phan Rang trước khi lên được “một nơi thần tiên là Đà Lạt”. Trong thời gian dừng chân ở Phan Rang, Phạm Duy gặp một nhân vật quan trọng, đó là Bảo Đại, tặng quốc trưởng một đêm hát “vo” (hát chay, không tính tiền) và có cuộc chuyện trò đầy kính trọng, cảm mến.

Trong câu chuyện về cuộc hành trình lên Đà Lạt, ta thấy không khí đô thị êm đềm đằng sau những chi tiết thú vị: “Vào hồi đầu thập niên 1940, người dân đen muốn tới thành phố Đà Lạt không phải là chuyện dễ dàng đâu! Phải làm đơn xin phép và chờ Sở mật thám điều tra rồi ba tháng sau mới có giấy đi. Thường thường chỉ là giấy cho phép tới nghỉ mát (villégiature) trong một thời hạn nào đó. Nếu muốn tới làm ăn sinh sống ở Đà Lạt thì lại một chuyện khác, một chuyện khó khăn vô cùng. Người Pháp thành lập ra thắng cảnh Đà Lạt để dành riêng cho người da trắng. Gánh Đức Huy lên Đà Lạt dễ dàng vì anh Chúc đã đút tiền cho Sở cảnh sát rồi”.

Tại Đà Lạt lần này, Phạm Duy gặp nghệ sĩ Lữ Liên, tức thân phụ của ca sĩ Tuấn Ngọc vừa mới nhập cư, đang làm việc cho một ban kịch tài tử và đài phát thanh. Tuy nhiên, những cuộc hạnh ngộ với người, với đất lần đầu tiên đã không đủ để nẩy lên trong tâm hồn chàng nghệ sĩ đa tình hào hoa này một giai điệu hay khúc hát bộc phát tức thì nào cả. Mà phải đợi đến 25 năm sau…

Cỏ xanh đổi sắc theo nhân tình

Năm 1970, những đồi cỏ hồng, chốn hẹn hò yêu đương của Đà Lạt mới quấn quýt trở về với Phạm Duy sau cơn dư chấn tình cảm lớn lao xảy ra với loài “nòi tình” Lệ Lan, người tình trẻ mà ông yêu say đắm trong suốt mười năm, vừa đi lấy chồng. Những gì còn lại có thể níu kéo, vỗ về, đó là hồi ức của hơn chục lần đi về trong ái tình réo gọi. Phạm Duy viết trong hồi ký: “Sau này, tôi có tối thiểu hơn mười lần đi về chốn cao nguyên Đà Lạt. Lần nào cũng nằm tròn trong vòng tay ân ái của một người tình. Một người giúp tôi soạn nổi rất nhiều câu hát ái tình, từ ngày đó có em đi nhẹ vào đời cho tới nghìn trùng xa cách người đã đi rồi… Và có đầy đủ những kỷ niệm tươi vui hay buồn bã nhưng tất cả những nỗi hân hoan hay ủ rũ cũng đều không se sắt hay nặng nề mà chỉ êm đềm như màu trăng đã ấp ủ tôi vào những đêm đầu tiên tới Đà Lạt này. Một màu trăng đã đến từ lâu với nhà thơ Hàn Mặc Tử: Cả trời say nhuộm một màu trăng/Và cả lòng tôi chỉ nói rằng/Không một tiếng gì nghe động chạm/Dẫu là tiếng vỡ của sao băng”.

Tuy nhiên, Phạm Duy cũng có thừa nhận rằng, với bản Cỏ hồng, ông chỉ là người “bắt chước” lối nhạc ca ngợi dục tính của đôi du ca mới nổi Lê Uyên-Phương nơi đô thị cao nguyên: “Vào năm 1970, sau khi tôi đã soạn xong những bài như Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi… vốn là những bài ca tình cảm mô tả cuộc tình của những lứa đôi đang sống một cuộc đời bấp bênh vì không tránh khỏi cảnh xa nhau bởi thời thế. Một nhạc sĩ khác, Lê Uyên-Phương, tung ra một loạt ca khúc mang chất dục tính, ví dụ như bài Vũng lầy của chúng ta. Tôi bắt chước anh, soạn một bài có tính chất xưng tụng nhục thể” (*).

Có những đoạn trong Cỏ hồng mang âm hưởng từng đợt sóng dập dồn từ thấp lên cao, từ nhẹ đến mạnh, từ vuốt ve đến cao trào. Về tưởng tượng âm hình, có thể thấy những đường cong giao nhau tiếp nối liên tục, bản thân cách gieo nốt trên khuông nhạc đã vẽ ra trước mắt nhạc ảnh núi đồi, của nhục thể nhấp nhô, của cung bậc cảm xúc trừu tượng khi đôi sinh vật đang ngấu nghiến thụ hưởng cơn say tình diễm tuyệt. Nhưng trong cơn mê say đó, không có sự vồ vập vội vàng, mà thong dong, thư thái…

Rồi chính Lê Uyên-Phương, đôi tình nhân du “sứ giả của tình yêu đơn sơ và hoang dại” sinh ra bởi Đà Lạt đã thể hiện thành công tình khúc tụng ca yêu đương này trong bộ phim Gánh hàng hoa của Lê Mộng Hoàng.

Phạm Duy còn một sáng tác nữa về Đà Lạt. Cũng tinh tế và cao khiết lạ lùng. Ở đó, ông muốn dệt lại màu trăng dĩ vãng trong cảm nhận riêng đầy thanh thoát trên nền chữ khói sương của tuyệt tác thi ca Đà Lạt trăng mờ (Hàn Mặc Tử). Phạm Duy viết: “Chúng ta có nhiều bài hát xưng tụng miền thông réo, suối reo ở Đà Lạt. Nhưng chỉ với bài thơ phổ Đà Lạt trăng mờ, ta mới thấy được sự thiêng liêng của đất trời cao nguyên trong một đêm trăng giá lạnh. Phần nhạc dạo tạo ngay cảm tưởng về một sự thiêng liêng huyền nhiệm của không gian qua cảm nhận của nhà thơ. Nhạc đề của phân khúc là nỗi đắm say trong tiếng gọi ảo huyền của cái Đẹp mà nhà thơ đã cảm thán rằng phút thiêng liêng đã khởi đầu…”.

Chỉ với hai ca khúc nhưng đủ dựng nên một cõi đào nguyên có tên “Đà Lạt” trong cuộc rong chơi âm nhạc của người nhạc sĩ nòi tình, tài hoa hàng đầu trong nền tân nhạc VN.

Nguyễn Vĩnh Nguyên 
(Trích từ Đà Lạt, một thời hương xa – Du khảo văn hóa Đà Lạt 1954 – 1975, NXB Trẻ 2016)

(*) Phạm Duy (2014). Vang vọng một thời, Phương Nam Book và NXB Hồng Đức

Tuổi đá buồn của Trịnh Công Sơn

Đà Lạt là nơi chốn đi về quá quen thuộc với nhạc sỹ Trịnh Công Sơn vì ông đã có nhiều năm dạy học ở B’lao (huyện Bảo Lộc ngày nay). Cũng từ những lần đi về đó, tình cảm với Đà Lạt đã nảy sinh trong lòng nhà nhạc sỹ đa sầu đa cảm họ Trịnh của chúng ta. Dòng Nhạc Xưa xin mời quý vị tiếp tục quay về với Đà Lạt một thời hương xa qua bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên.

(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 2016-10-19)

Khoảng năm 1964, sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn nghe theo lời rủ rê của hai người bạn thân là Trịnh Cung và Đinh Cường về B’lao dạy học, không ngờ là một cái duyên, một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của nhạc sĩ họ Trịnh.

Trong giai đoạn đầu sống ở B’lao, ngao du Dran, Đà Lạt, phải rời xa người tình nơi đất thần kinh thơ mộng và con đường sự nghiệp âm nhạc đầy hứa hẹn (năm 1959, ca khúc Ướt mi được công bố chính thức và Thanh Thúy trình bày khá nổi tiếng) xem ra là cực kỳ khó khăn với Trịnh. Chàng trai 25 tuổi tự ví mình như “loài củi mục trên miền xứ bỏ hoang”. Trong những bức thư tình gửi cho người tình Ngô Vũ Dao Ánh (tập Thư tình gửi một người), chàng nhạc sĩ trẻ chất chứa đầy ắp những dòng bi đát, đôi khi sướt mướt kể lể về những ngày mây mù, mưa dầm ở B’lao.

Phải thường xuyên lên xuống Đà Lạt vào những dịp cuối tuần hay Tết Trung thu, Giáng sinh để tìm khuây, Trịnh Công Sơn thường dành hết thời gian để du ngoạn, đến phòng trà, la cà quán xá, sống hết mình trong thế giới rộn ràng để “cho bõ những ngày nằm dài bị hắt hủi ở B’lao-sương-mù”.

Cuộc gặp gỡ định mệnh

Đà Lạt mang đến cho anh một định mệnh khác. Trịnh Công Sơn gặp cô ca sĩ phòng trà có tên Nguyễn Thị Lệ Mai (nghệ danh Khánh Ly), để từ đó tân nhạc VN “không còn như cũ nữa”.

Trong bức thư gửi Dao Ánh đề “Đà Lạt, 19.9.1964”, tức 2 tuần sau khi đến thành phố cao nguyên, Trịnh Công Sơn viết: “J’entends siffler le train (tạm dịch Đợi tiếng còi tàu) quấn chặt cổ anh như một loài rắn, quấn chặt thân anh, quấn chặt ngực anh – anh co mình ngồi im, tiếng hát Khánh Ly thả xuống, trải dài, chạy quanh vùng bóng tối Night Club, trói gọn anh vào một j’ai failli courir-vers-toi, j’ai failli crier-vers-toi (tạm dịch suýt nữa anh đã chạy về phía em/suýt nữa anh đã khóc với em) và một tiếng hát khác nhỏ hơn – âm thầm lôi phăng anh đi về một vùng cao hơn, xa hơn có tiếng đàn guitar rất đục và vùng lá xanh non buổi chiều trong con mắt đốt bằng lửa mặt trời. Xin một chút trầm hương cho cuối mùa hạ. Anh đã một phút quên đi những người bên cạnh Kim Vui – Đặng Tiến – Trịnh Cung. Anh đưa Khánh Ly ra vùng đồi Đà Lạt mưa rơi nhỏ rồi Khánh Ly cũng mất dần trong khoảng tối trước mặt. Kim Vui lái DS 19 (xe Citroen) đưa chúng anh về. Trời Đà Lạt đã lạnh rồi đó Ánh. Trịnh Cung lên đón anh ở B’lao rồi cùng có mặt ở đây buổi chiều. Kim Vui lái Austin Décapotable (xe mui trần) đưa chúng anh đi suốt những vùng đồi ở đây, uống cà phê và ăn cơm trên một quán lạ lùng nằm vùi trong tận cùng thành phố”.

Thư đề ngày 28.9.1964: “Thành phố ồn ào dưới kia. Căn phòng của anh Cung đầy những tranh, đĩa hát, sách báo, giấy tờ, mùng màn, quần áo. Chúng anh sống như thế đó, buồn phải không Ánh. Anh còn nhiều chuyện sẽ kể cho Ánh nghe nếu Ánh thấy thích về những ngày chúng anh sống chuồi mình về phía trước vừa rực rỡ vừa hẩm hiu. Lắm chuyện để tạo dựng nên mình buồn thảm”.

Những bức thư tình gửi cho Dao Ánh trong thời điểm này, Trịnh Công Sơn bộc bạch rõ nhất, chân thật nhất cái nhìn của một thanh niên có tâm hồn đa cảm, những rung động nghệ sĩ thực sự với Đà Lạt, một ý thức kiếm tìm nơi vùng đất này vừa là chốn lánh xa thời cuộc, chiến tranh nhiễu loạn, vừa là một nơi để trốn thoát sự cô đơn và nỗi sợ lãng quên vây bủa.

Khoảng năm 1964, trên chuyến xe từ Đà Lạt trở về B’lao sau những ngày lang thang cùng bè bạn, chàng nhạc sĩ 25 tuổi viết Còn tuổi nào cho em, có những ca từ đầy ám ảnh về thời gian, tuổi trẻ: “Xin cho cô đơn vào tuổi này” hay “Còn tuổi trời hư vô”… Trên bản nhạc viết tay, thay vì ghi thuật ngữ tổng phổ thì tay nghệ sĩ si tình lại ghi: “dao ánh – sương mù”. Hay trong Tuổi đá buồn, một ca khúc khác cũng được viết ra trong thời điểm này, mang cảm thức tương tự: “Tuổi buồn như lá/gió mãi cuốn đi/quay tận cuối trời”…

Thời gian này, Trịnh Công Sơn còn viết cả truyện ngắn. Trong truyện, kẻ tình si có vẻ như dự cảm được cái kết không có hậu của cuộc tình mình đeo đuổi. Tháng 3.1965, trong một lần trở lại Đà Lạt để thu âm bản Xin mặt trời ngủ yên, do Khánh Ly hát, nhạc sĩ họ Trịnh viết: “Bản này thu băng để xen vào vở kịch Quê hương chúng ta của Bửu Ý hôm nào sẽ trình diễn ở đài. Vở kịch là một độc thoại của một người con trai trên chuyến xe lửa băng qua những miền đất chiến tranh của quê hương này và kể về một tình yêu đã mất, người con gái chết trong bom lửa của thời cuộc”. Và không khí của trận mưa đá chiều 21.3 năm ấy khiến thành phố như bị phong kín trong màn tuyết trắng. Còn chàng trai si tình thì lại đang phân vân trước một chọn lựa mới của cuộc đời – anh vừa hay tin mình có tên trong khóa 20 của Trường Bộ binh Thủ Đức.

Hè năm 1966, những đêm nhạc Trịnh đầu tiên với các Ca khúc da vàng mang tình tự dân tộc được cất lên trong không gian những trường học. Bắt đầu là sân Trường tư thục Việt Anh, sau đó là Viện ĐH Đà Lạt. Trịnh Công Sơn bấy giờ đã là một hiện tượng của âm nhạc miền Nam.

Nguyễn Vĩnh Nguyên 
(Trích từ Đà Lạt, một thời hương xa – Du khảo văn hóa Đà Lạt 1954 – 1975, NXB Trẻ 2016)

Những giọng ca vàng từ phố núi

Dòng Nhạc Xưa giới thiệu kỳ 4 trong loạt bài của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên viết về các Thanh Tuyền và Tuấn Ngọc, hai danh ca xuất thân từ Đà Lạt.

(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 2016-10-20)

Các chương trình âm nhạc trên Đài phát thanh Đà Lạt, những chương trình sinh hoạt văn nghệ cởi mở, sáng tạo trong các trường, viện và những cuộc thi âm nhạc trong thành phố cùng các phòng trà đã phát hiện, nuôi dưỡng và tiến cử được nhiều tài năng cho đời sống tân nhạc miền Nam.

Tiếng hát học trò gây nhớ nhung

Những ai mê nhạc ở miền Nam trước năm 1975 hẳn không thể quên hiện tượng thành công khá nhanh chóng của ca sĩ Thanh Tuyền. Sinh năm 1949, cô gái người Đà Lạt (tên thật Phạm Như Mai) được trời phú cho giọng ca trong trẻo rất đặc biệt, ví như “một dòng suối trong Đà Lạt”.

Tài năng của Thanh Tuyền phát lộ từ các giải thưởng ca hát cho thiếu nhi và đặc biệt là trong các chương trình biểu diễn văn nghệ ở Trường nữ sinh Bùi Thị Xuân, nơi cô học đến trung học và giọng ca đặc biệt của cô đã được lên sóng Đài phát thanh Đà Lạt. Từ làn sóng này, Thanh Tuyền được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, ông chủ Hãng đĩa Continental ở Sài Gòn phát hiện, mời về Sài Gòn. Ông cũng là người dạy thanh nhạc cho ca sĩ này vững bước vào nghề.

Dù chưa đủ 18 tuổi để hát phòng trà, nhưng Thanh Tuyền được xuất hiện nhiều trên sân khấu, Đài phát thanh Sài Gòn và được “lăng xê” rất nhiều trên báo chí. Nhạc sĩ Bảo Thu có bài viết về cô trên tờ Tiếng Việt nhựt báo, số 111 ra ngày 5.8.1965: “Giọng ca Thanh Tuyền truyền cảm mãnh liệt với tiếng hát êm ái, giọng ngâm tuy không xuất sắc như một Hoàng Oanh, nhưng cũng đã làm thính giả “hít hà”… Tánh tình mềm mỏng, dễ mến, cô nữ sinh khả ái của Đà thành đã chiếm nhiều cảm tình khán giả cũng như bạn bè ngoài đời và thường được các bạn bốn phương gửi thơ vào thăm cũng như khích lệ luôn. Tiếng hát học trò xuất sắc, một giọng vàng mới nở, ai nghe qua vẫn nhớ nhung”.

Khoảng giữa thập niên 1960, ca sĩ Thanh Tuyền nhanh chóng trở thành một hiện tượng của tân nhạc miền Nam. Có lúc, cô vừa đảm bảo thu âm theo hợp đồng cho Hãng đĩa Continental vừa hát thu âm cho Hãng đĩa Asia (Sóng Nhạc) của nhạc sĩ Mạnh Phát. Sau đó, khi đủ tuổi đứng phòng trà, thì cô là giọng ca mà các phòng trà lớn ở Sài Gòn mong muốn sở hữu.

Những tình ca Nỗi buồn hoa phượng của Thanh Sơn, Đà Lạt hoàng hôn của Minh Kỳ – Dạ Cầm do cô thể hiện làm xiêu đổ nhiều con tim mê nhạc vàng thời đó. Sau đó, cô cùng nam ca sĩ Chế Linh làm thành một cặp đôi tuyệt vời trên sân khấu nhạc vàng Sài Gòn. Đĩa 45 vòng của Continental ra chủ đề Hái trộm hoa rừngcủa Trương Hoàng Xuân, do Thanh Tuyền và Chế Linh hát đôi là đĩa bán chạy thời cuối thập niên 1960.

Danh ca nhạc trẻ

Tương tự Thanh Tuyền, Tuấn Ngọc, tên thật Lữ Anh Tuấn, một cậu bé con nhà nghề, có gien trội từ người cha (nghệ sĩ Lữ Liên, thành viên nhóm nhạc Thăng Long và AVT) cũng đến với Sài Gòn rất nhanh từ xuất phát điểm là thành phố Đà Lạt.

Nói thêm về nghệ sĩ Lữ Liên. Theo hồi ký Phạm Duy, Lữ Liên quê gốc Hải Phòng, nguyên là cầu thủ của đội bóng vô địch Đông Dương COTONKIN. Ông ưa thích cuộc đời giang hồ nên đã nam tiến từ năm 1942 và chọn thành phố cao nguyên Lâm Viên làm nơi neo đậu. Tại Đà Lạt, Lữ Liên làm ở Nha Công chánh, hoạt động trong ban kịch tài tử rồi làm việc tại Đài phát thanh Đà Lạt trước khi vào Sài Gòn, trở thành nghệ sĩ thành công trong thể loại nhạc hài hước (ban AVT).

Tuấn Ngọc sinh năm 1948. Năm 6 tuổi, anh theo gia đình về Sài Gòn. 13 tuổi, chàng trai gầy gò phát âm tiếng Anh cực hay đã nổi danh tại các câu lạc bộ tập trung nhiều khán giả Mỹ khó tính. Anh là thành viên của hai ban nhạc The Strawberry Four (tên cũ là The Spotlights; các thành viên: Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Đức Huy, Billy Shane) và ban The Top Five (các thành viên: Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Minh Phúc, Thụy Ái, Quốc Hùng) khá đình đám trong giới chơi nhạc trẻ Sài Gòn thập niên 1960 – 1970. Trước đó, anh từng cộng tác với ban nhạc The Revolution trình diễn hằng đêm tại phòng trà Tự Do. Báo giới Sài Gòn khoảng năm 1970 gọi Tuấn Ngọc là “đệ nhất danh ca nhạc trẻ VN”.

Ngoài Thanh Tuyền và Tuấn Ngọc, nhiều người cũng biết Khánh Ly từng trốn mẹ đón chuyến xe chở rau từ Đà Lạt về Sài Gòn tham gia cuộc thi hát ở Đài Pháp Á tại rạp Norodom. Nhưng Khánh Ly trở lại với không gian phòng trà Đà Lạt một thời gian dài vì tình yêu với thành phố này và vì điều kiện riêng tư, cho đến khi cô rời xa được đô thị nhỏ bé trên cao nguyên để về Sài Gòn thì đã chín muồi điều kiện để trở thành một hiện tượng.

Lê Uyên-Phương, Từ Công Phụng… cũng là những trường hợp tương tự.

Nguyễn Vĩnh Nguyên 
(Trích từ Đà Lạt, một thời hương xa – Du khảo văn hóa Đà Lạt 1954 – 1975, NXB Trẻ 2016)

‘Cơn mưa phùn’ của ‘Thành phố buồn’

Dòng Nhạc Xưa đã giới thiệu nhiều ca khúc về Đà Lạt cùng các giai thoại bên lề. Hôm nay xin mời quý vị yêu nhạc xưa lại lắng đọng lòng mình cùng những nhạc phẩn bất hủ thành phố mộng mơ.

(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 2016-10-21)

Trước 1975 có đến hàng chục ca khúc nổi tiếng của các nhạc sĩ miền Nam viết về thành phố cao nguyên, kết quả của những cuộc dừng chân phiêu lãng ngắn ngủi của họ.

Từ đồi thông tình sử

Hồng Vân nổi tiếng trong giới nghe nhạc bình dân miền Nam với hàng trăm bản bolero. Ông tên thật là Trần Công Quý, quê nhà bên kia vĩ tuyến 17, chuyển vào nam định cư tại Đà Lạt từ năm 1954, sống bằng nghề dạy nhạc và sáng tác ca khúc.

Năm 1960, ông cùng gia đình chuyển về Sài Gòn. Hồng Vân tiếp tục viết nhạc, dạy nhạc kiếm sống. Trên một tờ nhạc Hồng Vân in năm 1958 có đề mẩu quảng cáo giới thiệu “lò luyện”: “Các bạn yêu ca nhạc muốn trở thành danh ca từ sân khấu, đại nhạc hội, phòng trà đến các đài phát thanh, vô tuyến truyền hình và trên mặt đĩa nhựa VN, mời các bạn ghi tên theo lớp ca nhạc Hồng Vân do chính nhạc sĩ Hồng Vân hướng dẫn với sự cộng tác của nhóm ca nhạc sĩ danh tiếng nhứt Thủ Đô – Sài Gòn (nhóm Nguyễn Văn Đông) phụ trách tập luyện. Kết quả bảo đảm sử dụng tài nghệ ngay”.

Hai lớp nhạc của Hồng Vân nằm ở địa chỉ 274 Đề Thám, Sài Gòn và 16/47 Trần Bình Trọng, Đồng Nai. Đây chính là hai trong số những “lò luyện” uy tín, nơi vào nghề của nhiều giọng ca thời bấy giờ. Hồng Vân có nhiều ca khúc nổi tiếng: Gió lạnh đêm hè, Như tượng đá, Chuyện người con gái hái sim… và cũng trả nghĩa cho Đà Lạt với chùm ca khúc về tình sử Đồi thông hai mộ (gồm: Đồi thông hai mộ phần 1 và Tiếng vọng đồi thông, tức Đồi thông hai mộ phần 2) hay Trăng sáng đồi thôngVĩnh biệt đồi thông và Chuyện hồ Than Thở.

Nhưng nói tới những ca khúc Đà Lạt, không thể quên được Lam Phương với Thành phố buồn. Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, gốc Hoa, sinh năm 1937, quê Kiên Giang, xuất thân từ một gia đình nghèo, tuổi thơ bất hạnh. Vốn liếng âm nhạc có được là tự học. Bước qua tuổi 15, Lam Phương đã nổi tiếng như một hiện tượng trong làng nhạc vàng đô thị miền Nam, với một loạt ca khúc rất phổ biến từ sân khấu đến phòng trà: Khúc ca ngày mùa, Nắng đẹp miền Nam, Duyên kiếp, Kiếp nghèo, Chiều thu ấy, Trăng thanh bình…

“Năm 1970, tôi theo Ban văn nghệ Hoa Tình Thương lên Đà Lạt trình diễn. Trước vẻ trầm lặng của một thành phố trập trùng đồi núi, sương mù bao quanh những con đường dốc quanh co, cùng nỗi cô đơn tràn ngập tâm hồn, tôi đã viết nên Thành phố buồn. Đây là một trong những ca khúc có số lượng xuất bản rất cao” – Lam Phương kể về hoàn cảnh ra đời bài hát trong bài phỏng vấn của nhà báo Dạ Ly (Thanh Niên Chủ nhật, ngày 18.8.2013). Bản nhạc viết trên giọng thứ (minor), nhịp 4/4 ca từ đẹp như ôm hết cả khí trời, khói sương nơi xứ sở núi đồi vào trong tình cảnh của một cuộc chia ly. Có lẽ vì thế mà nhanh chóng đi vào lòng người.

Cũng như Hoàng Nguyên (tác giả Ai lên xứ hoa đào, Đà Lạt mưa bay, Hoa đào ngày xưa), cuộc đời Lam Phương trải qua nhiều trắc trở trong tình yêu khiến ông có những ca khúc với vốn từ đẹp, trau chuốt hiếm thấy.

Ngoài ra, thập niên 1960 tại Sài Gòn cũng xuất hiện nhiều sáng tác về Đà Lạt, những tác phẩm kiểu hương xa như: Đà Lạt xa nhau (Anh Bằng), Về thăm xứ lạnh (Hùng Cường), Trên đồi thông lạnh, Mimosa (Trường Hải), hay Hồ Than thở (Nguyễn Hiền, lời Hà Dzũng)…

Đến cõi thế nhân sầu

Đầu thập niên 1970, nhiều người còn yêu Đà Lạt qua hai ca khúc Đà Lạt hoàng hôn và Thương về miền đất lạnh, ký tên Minh Kỳ – Dạ Cầm (bút danh khác của nhóm Lê Minh Bằng gồi Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng). Nhạc Minh Kỳ – Dạ Cầm thoáng chút u hoài, da diết. Không gắn bó lâu với Đà Lạt, nhưng nỗi u hoài của Đà Lạt đi vào nhạc của họ gợi nên nét sầu muộn của cõi nhân thế chìm trong sa mù.

Đặc biệt hơn, có lẽ là trường hợp Từ Công Phụng. Khoảng 1960, có cậu học trò 18 tuổi ở ngôi làng Chăm, Văn Lâm (Ninh Thuận ngày nay) đi ngược đèo Ngoạn Mục lên thành phố sương mù trọ học. Những ngày ở trọ, cậu học trò xứ nắng kết nối với nhiều bạn bè đồng trang lứa để thành lập một ban nhạc có tên Ngàn thông, hằng tuần hát trên Đài phát thanh TP.Đà Lạt.

Bây giờ tháng mấy – tình khúc đầu tay được Từ Công Phụng viết ra trong khoảng thời gian này, lập tức gây chú ý. Ca từ bềnh bồng như sương khói trên giọng trưởng (major), nhịp 3/4, thể hiện nỗi phập phồng bâng khuâng của tâm hồn kẻ khát yêu giữa chốn núi đồi mây phủ quanh năm.

Một bản tình ca khác có màu sắc Đà Lạt khá đặc biệt, cũng là ca khúc khởi đầu cho cuộc đời âm nhạc của một nhạc sĩ, đó chính là Cơn mưa phùn của Đức Huy. Trong một bài phỏng vấn, Đức Huy cho biết, ca khúc lấy hứng từ một cuộc đi chơi: “Giữa năm 1969 là thời gian tôi mới lên đại học và Đà Lạt thường mưa nhiều, trời u ám, lúc đó tôi lại tuổi mới lớn, thành ra rất nhiều mơ mộng”.

Bài hát đưa người nghe vào không gian những ngày mưa bay, rét mướt nơi thành phố núi đồi với giai điệu đầy chất dân ca, thi vị. Những lời ca buồn, sử dụng phép lặp (repetition) để ngân dài một âm hưởng sầu muộn ngọt ngào, khiến tâm hồn người nghe như được nâng vút lên cao cùng một cánh chim lẻ loi giữa vùng trời mây sương mù mịt.

Nguyễn Vĩnh Nguyên
(Trích từ Đà Lạt, một thời hương xa – Du khảo văn hóa Đà Lạt 1954 – 1975, NXB Trẻ, 2016)

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Đà Lạt Một Thời Hương Xa _ (Nguyễn Vĩnh Nguyên) _ (Tạp ghi)