Chử Bá Anh và Vi Khuê _ LS. Ngô Tằng Giao _ (Tạp ghi)

  • PDF

CHỬ BÁ ANH và VI KHUÊ

(Trích "ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ"
của LS. Ngô Tằng Giao)

CHỬ BÁ ANH

Nhà giáo CHỬ BÁ ANH ngay hồi nhỏ đã theo gia đình từ đất Bắc vào Nam trong một kỳ nghỉ hè và có dịp ghé lên Đà Lạt lần đầu tiên. Bao nhiêu năm sau, trong cuộc sống xa xứ, cái thành phố cao nguyên đó vẫn khắc ghi nhiều dấu ấn và được kể lại:

“Tôi đặt chân đến thành phố Đà Lạt vào mùa hè năm 1943… Lúc đó ông ngoại tôi vừa mua chiếc xe Simca 9 là loại xe mới nhập cảng vào Việt Nam lần đầu, nên quyết định đưa gia đình đi nghỉ hè tại 4 vùng núi cao của Việt nam, suốt một lộ trình từ Bắc vào Nam. Chuyến đi gồm 4 người, ông ngoại, bà ngoại, cô Ngọc Lan, - cô giáo của tôi - và tôi…

Chặng đến cuối cùng là thành phố Đà Lạt, sau khi rời Phan Rang qua đèo Dran, đèo Ngoạn Mục Bellevue, đến Cầu Đất, rồi Trại Mát và trạm dừng chân là khách sạn Langbiang Palace nhìn xuống hồ Đà Lạt... lúc ấy dân chúng Đà Lạt còn thưa thớt, phương tiện di chuyển là xe ngựa. Cái ấn tượng khắc sâu trong tâm trí tuổi thơ của tôi là tiếng người lái xe ngựa dùng miệng tạo thành một thứ âm thanh kêu “cọt cọt” để điều khiển con ngựa.

Rạp ciné Eden nay gọi là Ngọc Lan thuở đó bên trên chưa có balcon chia thành từng ô và thiếu tiện nghi hơn bây giờ. Mãi cho đến khi nhạc gia của nhạc sĩ Hoàng Nguyên làm chủ thì rạp Ngọc Lan và Ngọc Hiệp mới tân trang lại.

Mặc dầu đó là lần đầu tiên tôi biết Đà Lạt nhưng nơi đó đã để lại trong ký ức tuổi thơ của tôi nhiều hình ảnh đẹp đẽ mà tôi vẫn giữ mãi cho đến ngày nay dù đang sống xa Đà Lạt muôn ngàn dặm.”

Mãi về sau này khi trưởng thành CHỬ BÁ ANH trở lại Đà Lạt với nghề giáo chức và lập nghiệp luôn tại nơi này gần 20 năm cho đến khi phải di tản ra nước ngoài:

“Từ năm 1951 về sau, hàng năm tôi vẫn có dịp lên lại Đà Lạt và cho đến năm 1957 từ Huế tôi nhận được sự vụ lệnh... bổ tôi lên Đà Lạt dạy tại trường Trần Hưng Đạo. Trường lúc đó do cụ Hoàng Khôi làm hiệu trưởng...

Tôi dạy học ở Đà Lạt liên tiếp từ năm 1957 cho đến cuối tháng 3 năm 1975... chúng tôi về Saigon có việc... cho đến cuối tháng 4 năm 75 thì lên đường di tản sang Hoa Kỳ…

Đà Lạt đối với tôi đã có quá nhiều kỷ niệm, từ cuộc sống đến tình cảm. Tôi mong đợi một ngày về thăm Đà Lạtthăm lại những ngôi trường mà do chính tay tôi xây dựng… gặp lại các bạn đồng nghiệp ngày xưa đã cùng chung sức với chúng tôi trong ngành giáo dục; thăm lại các bạn trẻ học trò cũ.”

Tiếc thay ước nguyện đó chưa thành đạt thì nhà giáo họ Chử đã từ giã cõi đời tại Virginia, Hoa Kỳ, ngày 12 tháng 3 năm 1996, hưởng thọ 63 tuổi, để lại niềm thương tiếc nơi những nhà văn, nhà thơ thân hữu và nhất là các nhà báo đã sát cánh cùng ông trong lãnh vực này từ bao năm tại nước ngoài. Tất nhiên những người Đà Lạt của ngày tháng cũ cũng khó thể quên ông.

VI KHUÊ

Nhà thơ, nhà văn VI KHUÊ (Trần Trinh Thuận) là hiền thê của nhà giáo Chử Bá Anh. Sinh tại miền Trung (Huế), là công chức, giáo chức và cũng là hiệu trưởng một trường trung học đệ nhị cấp tại Đà Lạt. Vào năm 1994 VI KHUÊ viết bài thơ “Mà thương đến cả Vệ Đường Hoa”:

“Trái đất có lẽ sẽ phải nổ

lúc ấy rồi ta cũng tiếc thôi

tiếc sao những buổi rong chơi phố

những buổi nhìn mây, buổi ngó trời...

Xuân này ở Mỹ sao mà lạ

bỗng rộn ràng lên chuyện tiếc thương

và nhớ, và yêu Đà Lạt quá

yêu, ồ yêu nhỉ! Nhớ, sao không?

Nhớ Đồi Cù mướt xanh trong nắng

biệt thự hồ bên đứng ngắm xa

ngựa trắng, tóc hoe vàng, trước ngõ

nàng công chúa Thượng áo hoa cà...

Lên đồi. Lên đồi. Lên đồi cao

những cô con gái má hồng au

những chàng trai gắn Alpha đỏ

Đà Lạt mù sương một sớm nao!

Ai tặng cô em một nhánh đào

một nụ hồng lá thắm xôn xao

và ai âu yếm cài lên tóc

để đến nay cô nhớ ngọt ngào?

Bùi Thị Xuân còn thơm giấc mơ

thì người cứ dệt gấm thêu thơ

còn ai thiếu phụ chiều nay mộng

hãy nhớ sân trường Đại học xưa.

Và rừng. Và thác. Và thung lũng

và gió từng cơn buốt thịt da

Đà Lạt. Trời ơi! Giờ ấm, lạnh?

mà thương đến cả Vệ Đường Hoa!”

VI KHUÊ viết xong bài thơ trên còn ghi thêm lời đề tặng “gởi người Đà Lạt, xưa, sau”. VI KHUÊ yêu muôn hoa Đà Lạt, yêu cả đến những bông hoa vô danh mọc thản nhiên chen lẫn cùng cỏ dại bên lề đường, nay được đặt tên “Vệ Đường Hoa”.

Sách đã trích dẫn nhiều bài viết về Đà Lạt của VI KHUÊ. Chỉ ghi lại đây thêm một chút tâm tình của VI KHUÊ về thành phố này:

“Năm 1972, tôi cùng chồng con sinh sống tại Đà Lạt, một thành phố thơ mộng nhất miền Nam… Đà Lạt của tôi nhỏ bé hơn nhiều. Nhỏ bé nhưng mà đẹp, đến nỗi có lần đã làm sửng sốt một du khách Tây phương đến thăm. Đứng trên sân cù, đưa mắt nhìn bao quát cảnh vật, từ vườn hoa thành phố, Bích Câu, đến những cây cầu đưa ra trên mặt nước hồ Xuân Hương với những chiếc “pê đa lô” màu sắc lộng lẫy đang lướt sóng dưới ánh nắng vàng nhạt, ông ta đã phải thốt lên: “Voilà la huitième merveille de la nature!” Tôi hỏi: “Ông khen cái gì mà tuyệt vời quá vậy?” Ông đáp: “Tôi nói cái thành phố này,” và chỉ tay lên ngọn tháp chuông của ngôi trường học Yersin thấp thoáng phía bên kia, ông ta lại tấm tắc: “Thế mà cái tháp chuông kia còn đẹp hơn!”

Bây giờ ý nghĩ đó lại đến với tôi, khi tôi tập trung tinh thần để thu gọn cả thành phố vào trong ống kính ký ức. Tôi trông thấy tất cả, tôi nhớ lại tất cả. Đà Lạt mùa xuân năm ấy, nắng ửng lên ở khu phố Hòa Bình. Ở nhà tôi, hoa mimosa vàng rực rỡ trong sân. Bà cụ An Hòa, chủ nhân ngôi chùa có tượng Phật bằng vàng bên cạnh, vừa mang qua tặng chúng tôi một chục hoa lay-ơn trắng muốt như cành huệ, cắm vừa tròn chiếc độc bình pha lê nơi phòng khách.”

MỘT VÒNG ĐÀ LẠT VỚI VI KHUÊ

Du khách cũng có thể theo chân nhà văn, nhà thơ VI KHUÊ, một người từng lập nghiệp tại Đà Lạt lâu năm, để được hướng dẫn viếng thăm thành phố một vòng với thật nhiều chỉ dẫn, thật nhiều chi tiết, tương đối là đầy đủ về mọi mặt.

Tại nước ngoài, vào năm 1985 VI KHUÊ viết:

“Những ai đã ra đi từ Đà-Lạt, hôm nay xin hãy làm du khách trở về thăm viếng thành phố xưa! Trước tiên, tôi xin giới thiệu các khách sạn lịch sử: Đà-Lạt Palace trông ra Hồ Xuân Hương, Mimosa đường Phan Đình Phùng, Thủy Tiên số 7 Duy Tân, Duy Tân 83 Duy Tân, Mộng Đẹp khu Chợ Mới, Sans Souci đường Nguyễn Trường Tộ, Cẩm Đô đường Phan Đình Phùng, quán Bồng Lai trên đường Đà-Lạt - Đơn Dương, và các khách sạn bình dân: Phú Hòa, Vinh Quang, Hòa Bình, Nam Việt, Tịnh Tâm, Cao Nguyên, Thanh Ngọc, Thanh Tùng, Lữ Quán Sài Gòn, Văn Huê và Lam Sơn sau lưng trường Văn Học...

Sau các khách sạn, hẳn quý vị cần biết đến các nhà hàng, các tiệm ăn. Đây là các nhà hàng sang trọng nhất: Dalat Palace, Chic Shangai, Mê Kông, Nam Sơn và Thiên Nga, Mỹ Quang, Như Ý, Kim Linh. Bình dân hơn trên những con đường khác. Nhà hàng lịch sự, đặc biệt về món ăn Pháp là Dalat Palace, L'Eau Vive. Đặc biệt về các món ăn Việt, xin mời quý vị đến quán nem Ninh Hòa, số 7 đường Cường Để, có thịt bò bảy món. Nhà hàng bình dân, đặc biệt về các món ăn Việt Hoa là Đông Hải ở khu Hòa Bình với các món bánh bao rất được ưa thích. Tiệm ăn đặc biệt về món Bắc, có Mỹ Hương và Bắc Hương khu Hòa Bình; về các món Huế là các tiệm ở đường Hàm Nghi và Thành Thái. Ngoài ra còn rất nhiều quán bình dân nữa, đáng kể là quán Thanh Phương ở đường Võ Tánh, giá cả rất thích hợp với những thực khách không nặng túi tiền.

Ngoài các nhà cơm sang trọng hay bình dân, chúng ta còn vô số món ăn “dân tộc” rất được tán thưởng. Xin được nhắc lại một lần các tiệm bán các món đặc biệt và hấp dẫn ấy, và mong rằng quý vị, các bạn - nhất là các cô hay ươn mình không thích xơi cơm đừng quá nhớ nhung! Tiệm phở Bằng, đường Hàm Nghi, Tùng, Đắc Tín khu Hòa Bình, Ngọc Lan bến xe Đà-Lạt - Sài Gòn, Như Ý đường Nhà Chung, Bắc Huỳnh và Phi Thuyền trước ga Đà-Lạt, hủ tiếu Nam Vang đường Minh Mạng. Mì vịt Thạnh Ký đường Phan Đình Phùng. Mì Quảng: quán cạnh rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp, các quán tầng dưới Chợ Mới và một quán nằm khuất trong hẻm đường Hoàng Diệu, trước trường Văn Học. Bún riêu, bún ốc ở tiệm Thành Công, đường Nhà Chung. Bún bò giò heo: các tiệm ăn Huế hầu hết đều có món này, nhưng khi nói đến bún bò, người ta thường nghĩ đến quán cây số 4, góc đường Hai Bà Trưng và La Sơn Phu Tử. Món Nai Đồng Quê -tên gọi thanh nhã của món thịt cầy- được tìm thấy ở quán Lá Mơ đường Thành Thái; món thịt dê ở quán Ngọc Dung, hồ Than Thở, gần bến xe Chi Lăng.

Ngoài ra còn rất nhiều quán bình dân nữa, lưu kỷ niệm nhiều nhất phải kể hàng đầu là dãy quán trước trường Đoàn Thị Điểm, đường Trương Vĩnh Ký, với hàng xôi gà, cháo gà “ngon nhất nước” của ông bà Hà Đức Bản, xe mì bánh tôm “ngon hết xẩy a” của chú Tàu nhẫn nại cần cù, xe chè 6 món thơm phức của hai cô nữ sinh trường Tân Sanh, quán cháo lòng nóng hổi và ngọt lịm của mẹ con cô Tí đon đả chào mời...

Về phần các cô cậu thuộc lứa tuổi ô mai thích khoác áo lạnh đi tìm gặp các bạn bè để sưởi ấm lòng nhau, thì quán chè, tiệm kem và quán cà phê là những nơi thích hợp nhất, quán chè Tuổi Ngọc, tiệm kem Việt Hưng, các quán cà phê Tùng, Trúc, Tình Nhớ, Trăng Cao Nguyên, Yêu, Thủy Tạ, Shangai và Mê Kông là nơi thuận tiện nhất để họ và cả lớp người lớn tuổi hơn thường ngồi lặng hàng giờ nhìn ra khu phố chính của thành phố ngắm các tà áo bay... hay luận đàm thế sự?

Khách sạn và nhà hàng ăn là những nơi du khách cần phải biết trước tiên, khi đặt chân đến một thành phố. Nhưng hẳn là còn vô số điều quý vị cần được hướng dẫn và giới thiệu thêm nữa, trên bước nhàn du đến cõi... Bồng Lai này, bởi vì nhu cầu của con người sau khi no cơm ấm áo còn nhiều lắm, mà thành phố của chúng ta thì lại chứng tỏ có khả năng đáp ứng... mọi nhu cầu của kiếp nhân sinh! Thiết tưởng còn gì thực tế hơn -về phần chúng tôilà xin gửi đến quý vị nguyên bản kê khai tất cả các địa điểm quý vị cần dùng tới. (Xin quý vị cứ tìm tên trong niên giám điện thoại sẽ có địa chỉ rõ ràng).”

VI KHUÊ giới thiệu tiếp:

“Các phòng tắm nước nóng: Ninh Thuận, Việt Trang, Minh Tâm, phòng uốn tóc Mô Đéc, Hoàng Cung, Mỹ Dung, Tường Lan, Isana, Cô Sương, Cô Tiền... Các tiệm chụp hình Hồng Thủy, Đại Việt, Mỹ Dung, Văn Khánh, Người Ảnh.

Phòng khám bệnh bác sĩ Phan Lạc Giản, bs Hoàng Khiêm, bs Nguyễn Văn Thạnh, bs Nguyễn Đình Thiều, nữ bs Nguyễn Ngọc Diệp, bs Đào Huy Hách, bs Mai Trung Kiên, bs Nguyễn Văn Liễn. Tiệm thuốc Tây: Đà-Lạt, Hoàng Hy Tuần, Nguyễn Văn An, Hàm Nghi, Duy Tân, Diên Hương, Nguyễn Duy Quang, Lâm Viên... Phòng chữa răng: nha sĩ Võ Thị Sâm, ns Minh Đa, ns Trần Tú, ns Nguyễn Văn Trình. Văn phòng luật sư: Ls Ngô Tằng Giao, Ls Hoàng Huân Long, Ls Phùng Văn Tuệ, Ls Nguyễn Văn Trương.

Các rạp chiếu bóng Hòa Bình, Ngọc Lan, Ngọc Hiệp. Vũ trường La Tulipe Rouge, Đào Nguyên.”

VI KHUÊ và HOA ĐÀO ĐÀ LẠT

Hoa anh đào, một loài hoa đặc trưng của Đà Lạt, nó có mặt khắp nơi trong thành phố mộng mơ này và nở rộ vào những ngày người ta chuẩn bị đón năm mới. Anh đào Đà Lạt cũng giống như đào Nhật Tân Hà Nội khoe sắc vào những ngày mùa Đông. Đến Đà Lạt vào dịp cuối năm, du khách tưởng chừng như mình đang ở Nhật, với những cây hoa anh đào phủ một màu hồng tươi thắm.

VI KHUÊ diễn tả một khung cảnh Đà Lạt thật êm ả và đầy thơ mộng, thật là trí thức với bài thơ “Hoa đào”:

“Đứa con gái có mái tóc Sylvie Vartan

ngồi đọc thơ Thôi Hộ

một buổi sớm mai vàng

dưới chân hoa đào nở.”

Để đón năm mới những cành đào thướt tha đã vội thấp thoáng ẩn hiện trong sân xa, khắp mọi nơi, duyên dáng lộng ngọc thôn bản hoang sơ, điểm xuyết phố thị phồn hoa, thắp lên muôn triệu nến hồng kỳ diệu, hồng lên bao điều hẹn ước, ấm mãi lòng người. Từng cánh hoa, từng cánh hoa lay bay trước gió. Tất cả dịu dàng chào đón ánh dương quang. Hoa đào Đà Lạt gợi hứng cho bao tâm hồn văn sĩ, thi sĩ và nhạc sĩ. Hoa trở thành hình ảnh quen thuộc, tiêu biểu, gợi tình, gợi nhớ cho phố núi mù sương, thơ mộng và vang vọng khắp bốn mùa.

TIN BUỒN

Vi Khuê Trần Trinh Thuận

pháp danh Hạnh Thiện

đã ra đi vào ngày 25 tháng 9 năm 2018

nhằm ngày 16 tháng 8 năm Mậu Tuất

tại Burke, Virginia hưởng thọ 88 tuổi âm lịch.

Last Updated on Thứ Tư, 03 Tháng Mười 2018 14:49

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Chử Bá Anh và Vi Khuê _ LS. Ngô Tằng Giao _ (Tạp ghi)