Bánh cuốn Đà Lạt _ (Quyên Di) _ (Tạp ghi)

  • PDF

 

BÁNH CUỐN ĐÀ LẠT

 

(Đoạn trong [...] không liên quan đến bánh cuốn nhưng tiện thể tôi kể ra. Người đọc có thể không cần đọc đoạn ấy.)

Người phụ nữ khi yêu quý ai, họ thích được chăm chút miếng ăn ngon cho con người có diễm phúc ấy.

Tôi chứng thực điều này trong những tháng năm làm việc ở viện Đại học Đà Lạt. Người phụ nữ ấy là cô con gái Đà Lạt, lúc nào hai má cũng ửng hồng và bao giờ cũng khoác chiếc áo len màu tím. Còn miếng ăn ngon ấy là bánh cuốn.

Những năm tháng ấy sao mà tôi có duyên với bánh cuốn như thế.

Một hôm ngồi ăn bánh cuốn Dakao với vài người bạn, tôi để ý thấy một linh mục dòng Đa Minh ngồi với mấy sinh viên của ông ở bàn đối diện. Tôi biết ông, vì thỉnh thoảng đi lễ ở tu viện Mai Khôi trên đường Tú Xương, tôi thường được nghe bài giảng của ông. Một lát sau, ông đứng lên bước sang bàn chúng tôi. Bắt tay tôi, ông hỏi: “Nghe mấy bạn sinh viên bảo anh là Quyên Di, phải không?” Khi nghe tôi xác nhận, ông nói bằng một giọng rất bình thản và giản dị: “Tôi đang là Giám đốc ban Tu Thư viện Đại Học Đà Lạt, mời anh lên trên ấy làm Phụ tá Giám đốc giúp tôi. Anh bằng lòng nhé.”

[Thật là chuyện bất ngờ, tôi cám ơn và xin khất một vài hôm sẽ trả lời. Và rồi tôi chấp nhận.

Đà Lạt thật khác với Sài Gòn. Không khí khác. Khung cảnh khác. Người Đà Lạt khác và những câu chuyện họ nói, họ bàn thảo hằng ngày cũng khác. Cứ mỗi khi xe của viện đại học đưa đến Tùng Nghĩa (bây giờ người ta gọi là Đức Trọng) thì tôi như bước vào một thế giới khác.

Tôi là nhân viên trẻ nhất (phải nói là bé con nhất) trong hội đồng điều hành viện, ngày ngày lẽo đẽo đi theo những bậc lão thành để học việc: linh mục viện trưởng Lê Văn Lý; linh mục giảng dạy môn triết học Đông phương Lương Kim Định; nhạc sư Hải Linh; linh mục Mai Văn Hùng, điều hành tập san Tri Thức; linh mục Vũ Minh Thái, Khoa trưởng Sư Phạm. Cũng có khi tôi gặp giáo sư Nguyễn Khắc Dương, Khoa trưởng Văn khoa. Lâu lâu thấy có linh mục Vũ Đình Trác lên giảng dạy vì ông là giáo sư thỉnh giảng. Thỉnh thoảng hội đồng điều hành viện cũng ra phố ăn tối, trừ linh mục viện trưởng không đi bao giờ. Linh mục Lương Kim Định rất lịch thiệp, mở cửa xe, đưa tay mời nữ giáo sư duy nhất trong nhóm (cô Hoa Lâu, nếu tôi nhớ không lầm,) miệng nói: “Kính mời quý nương lên xe.” Chúng tôi nhìn nhau mủm mỉm cười, còn nữ giáo sư thì e lệ, bẽn lẽn lên xe ngồi im không nhúc nhích. Không ai dám đùa, và đùa một cách rất duyên dáng như linh mục Lương Kim Định.]

Công việc ở viện đại học làm tôi hứng khởi vì được học hỏi rất nhiều điều mới lạ. Nhưng niềm vui thật của tôi không nằm trong viện đại học. Nó gửi vào một căn nhà nhỏ nhắn nhưng ngăn nắp ở một khu phố khuất.

Vì viết báo, tôi có mấy cô em văn nghệ ở Đà Lạt, trong đó có một cô là ái nữ vị phó tỉnh trưởng nội an Pleiku, tư gia ở Đà Lạt, nằm trên lưng ngọn đồi mà trên đỉnh đồi là tư gia tỉnh trưởng Đà Lạt. Còn cô em gái ở ngôi nhà nơi phố khuất kia thì không mấy ai biết.

Nhà ấy chỉ có hai mẹ con người Thanh Trì, Hà Nội. Năm 1954 khi gia đình ấy di cư vào Nam thì cô gái ấy còn chưa là một hạt bụi hồng. Lưu lạc nhiều nơi, làm nhiều công việc, cuối cùng người cha và ba anh trai đều trong quân ngũ. Bà mẹ và cô con út định cư ở Đà Lạt, nơi phố khuất kia.

Mỗi lần tôi đến chơi, cả hai mẹ con đều vui mừng. Bà mẹ có khuôn mặt đẹp, mái tóc bạc như cước, nụ cười hiền như Bụt. Cô con gái mặt sáng như trăng; hàm răng đều và trắng bóng; đôi mắt to, trong veo mà lúc nào như cũng ẩn bên trong một dấu hỏi. Tôi có cảm tưởng cô luôn luôn ngạc nhiên trước mọi sự việc. Bà mẹ rót nước mời tôi uống rồi nhỏ nhẹ bảo con gái: “Con làm cơm anh xơi, con.” Cô con gái ngoan ngoãn vào bếp, chỉ nửa tiếng sau mâm cơm đã được dọn ra, gọn gàng và tinh khiết. Cơm thơm mùi cánh đồng lúa chín ngày mùa. Còn thức ăn, món nào cũng ngon và cũng… ít. Dưới ánh đèn vàng, ba chúng tôi ăn uống nhỏ nhẹ, chuyện trò nhỏ nhẹ, cười cũng cười nhỏ nhẹ. Đêm muộn, tôi từ giã ra về, đi dưới bầu trời đầy sao mà lòng vui một niềm vui thanh khiết.

Một lần tôi đến chơi, bà mẹ bảo con gái: “Hôm nay con làm bánh cuốn anh xơi, con. Các thức mẹ đã sắm đủ.”

Nghe thế, tôi chợt nhớ gia đình này gốc làng Thanh Trì. Đó là một nếp làng cổ, nằm dọc theo sông Hồng, ngày trước có tên là Thanh Đàm, về sau vì kỵ huý vua Lê Thái Tông mới đổi ra là Thanh Trì. Đầm nước trong xanh đổi thành ao nước trong xanh, sao khéo lạ! Mà âm “trì” nghe còn thanh hơn âm “đàm.” Làng ấy nổi tiếng với nghề trồng rau muống và nghề làm bánh cuốn.

Đừng hỏi thêm về làng Thanh Trì nữa. Để yên, tôi kể cho nghe bữa bánh cuốn hôm ấy.

Chúng tôi vào trong bếp. Nhà nhỏ mà bếp rộng. Dạo ấy, tôi chưa thấy nhà ai có căn bếp gọn gàng đến thế. Chúng tôi ngồi trên những cái ghế thấp, trước mặt là một cái bàn cũng thấp. Một nồi nước sôi, có khuôn vải hình tròn căng bên trên. Cạnh đấy là thau bột loãng và trắng ngần. Cô em tôi múc một môi bột ấy đổ nhẹ lên khuôn vải, dàn cho nó mỏng ra. Chỉ chốc lát bột đã chín, cô dùng một cái đũa dài, rất khéo léo lấy lớp bánh ấy ra, cho lên một cái mâm nhỏ bên cạnh. Cô với tay múc một thìa nhỏ mỡ hành quết lên trên lớp bánh, rồi cũng dùng đũa cuốn lớp bánh, gấp nhẹ hai đầu lại. Thế là xong cái bánh. Nó nõn nà, bóng bẩy, gợi cho người thưởng thức sự ham muốn lạ lùng. Làm xong chừng ba, bốn cái bánh, cô em tôi lấy tay xếp gọn gàng vào một cái đĩa sứ có vẽ hình ngọn lá tre xanh. Em tôi không đeo găng tay như người làm bánh bây giờ, nhưng tôi nghĩ, và tôi biết, không có một thứ khăn, thứ găng tay nào trên đời lại sạch sẽ hơn bàn tay cô. Bàn tay ấy lại đẹp nữa. Ăn bánh mà như được ăn cả vẻ đẹp nuột nà, cả hương thơm tinh khiết của bàn tay ấy.

Tôi lóng ngóng chưa biết ăn như thế nào, mặc dù bánh cuốn thì đã ăn không biết bao nhiêu lần, ở không biết bao nhiêu hiệu, bao nhiêu vỉa hè. Bà mẹ chỉ dẫn: “Con ăn như thế này nhé…” Sao giọng bà dịu dàng và hiền lành đến thế! Mọi hôm bà gọi tôi bằng cháu, mà hôm nay lại gọi tôi bằng con... “Cái hũ này đựng hành phi, con lấy thìa nhỏ đây, xúc hành rải lên cái bánh, ít nhiều tuỳ con. Con ăn với giò bò bác đang thái đây. Giò bò có thì là, nó khử được hết mùi oi của thịt, lại làm cho miếng giò thơm mùi hương đồng cỏ nội, cái mùi thơm này làm cho người ta nhung nhớ một chuyện xa xôi, không rõ là chuyện gì… Em nó dở tay làm mấy cái bánh. Ngơi tay thì em rán đậu cho con ăn kèm. Con nhớ, đừng lấy kéo mà cắt đậu, lấy tay mà xé. Nóng tay một tí nhưng như thế mới thú. Cái thứ đậu phụ này người ta làm gần được như đậu phụ làng Mai Động ở ngoài Bắc ta. Rán lên, bên ngoài vàng ruộm, thơm nức mà bên trong thì xốp chứ không cứng. Như thế khi chấm, nước chấm mới thấm vào miếng đậu. Thế đấy, con ăn thay đổi đi, miếng thì ăn với giò bò, miếng thì ăn với đậu phụ rán. Em nó sẽ chiều con, rán từng miếng đậu một, đợi con ăn xong miếng trước mới rán miếng sau. Nóng và thơm như thế mới ngon…”

Tôi vẫn còn lóng ngóng. Bà nhìn, chợt hiểu: “Tí nữa thì quên không cho con biết nước chấm như thế nào. Đây, nước mắm ngon nguyên chất, giấm nhà làm bằng rượu nếp, ớt khô. Con tự pha lấy bát nước chấm của con. Chua ít hay chua nhiều tuỳ theo con cho giấm ít hay nhiều. Con nhớ đấy, món nước chấm này phải pha với giấm, không phải với chanh. Cùng là chua cả nhưng hai cái chua nó khác nhau. Ớt cũng thế, mình dùng ớt khô, con muốn cay nhiều hay cay ít cũng tuỳ con. Lại còn cái lọ con con này nữa, cà cuống nguyên chất đấy. Con lấy cái đầu tăm nhúng vào rồi nhúng vào bát nước chấm, nó sẽ thơm lẫy lừng và ngon hơn nhiều lắm... Ơ… em nó rán xong miếng đậu phụ rồi đấy. Con pha nước chấm, ăn bánh với đậu phụ đi cho nóng. Miếng giò bò này ăn sau cũng được…”

Và cứ thế, hai mẹ con làm những miếng ngon cho tôi ăn. Bà mẹ thái giò bò. Cô con gái tráng bánh, rán đậu phụ. Tôi ăn… và ăn. Vừa ăn vừa xuýt xoa vì nóng, vì cay và nhất là vì ngon. Lâu lâu cô em nhìn tôi, không nói. Trong đôi mắt trong veo hình như có ẩn hiện câu hỏi: “Anh ăn bánh em làm có ngon không? Anh có vui không? Anh có khen em không?” Ở bên ngoài gió thổi vi vu lọt qua khe cửa. Gió làm cho hàng thông sau nhà reo lên những tiếng reo hạnh phúc, như lây cái hạnh phúc của ba con người trong căn bếp ấm nồng.

Xong bữa bánh cuốn tuyệt vời đó, bà mẹ rót cho tôi tách nước trà có pha quế. Trà thơm. Quế thơm. Hương trà và hương quế cũng làm tôi ngây ngất. Cô em gái nhìn tôi, không nói gì, nhưng tôi biết đó là ánh mắt của yêu thương.

Rồi tôi cũng phải về thôi. Trên đường về, ánh trăng loang loáng. Tôi thấy mình sao mà diễm phúc.

Chuyện ấy đã xa rồi. Đừng ai hỏi tôi phương danh cô em gái ấy và khu phố khuất có căn nhà ấy tên là gì. Tôi chả nói đâu

QUYÊN DI

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Bánh cuốn Đà Lạt _ (Quyên Di) _ (Tạp ghi)