Đà Lạt: Đường Xưa Lối Cũ _ Lệnh Hồ Công Tử _ (Hồi ký)

  • PDF

ĐÀ LẠT: ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ

...Tiếp tục quốc lộ 20 hướng về cao nguyên là vùng đất đỏ trồng cao su của hãng Michelin, qua khu rừng trồng cây gỗ Tếch hay Giá tỵ, một loài cây lớn có nguồn gốc ở Thái Lan, Myanma, Ấn Độ, nhập vào Việt Nam, Lào, Campuchia và Sri Lanka. Hiện nay ở Việt Nam Tếch đã trở thành một loài cây trồng khá phổ biến ở nhiều tỉnh. Cây Tếch cũng là cây biểu tượng của người Thái Lan nên họ thường trồng cây này ở trong các khu biệt thự, nhà máy nơi mà người Thái làm chủ. Dưới thời Đệ Nhất VNCH, chính quyền cho nhập cây Tếch về trồng ở vùng La Ngà, đây là loại gỗ cứng cho nên thời bấy giờ trồng để làm bá súng, nghe đâu đồn điền này do bà cố vấn Nhu đầu tư?.

Xe chạy mải cũng chưa ra khỏi tỉnh Đồng Nai, mà đến một thị trấn ven đường, Định Quán. Nơi đây có ba hòn đá khổng lồ chồng lên nhau với chiều cao 36m, nằm chênh vênh ngay bên cạnh quốc lộ 20, cảnh tượng hùng vĩ cuốn hút nhiều du khách đi ngang qua. Ai cũng có chung cảm giác “không an toàn” khi qua đây. Theo tài liệu địa chất thuộc văn hóa Óc Eo, Phù Nam, nơi đây đã xảy ra nhiều sự kiện làm soi mòn bề mặt trái đất. Các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung của một trong các nền văn hóa đầu tiên của nhân loại. Trải qua hàng triệu năm dãi dầu mưa nắng, chứng kiến nhiều thay đổi thiên tai, đá Ba Chồng vẫn chênh vênh, sừng sững đứng đó tạo ra một cảnh quan hùng vĩ.

Image result for đá chồng định quán

Thời VNCH, Định Quán là nơi các xe đò Đà Lạt, Sài Gòn làm chổ dừng chân để ăn uống trước khi tiếp tục hành trình. Rời Định Quán,, địa phận tỉnh Đồng Nai, một địa danh sau 75 dân buôn bán thường nghe qua đó là Phương Lâm, huyện Tân Phú, cách Biên Hòa 100 cây số. Thời Việt Nam Cộng hòa, Định Quán thuộc tỉnh Long Khánh. Sau 75, thời ngăn sông cấm chợ, trạm Phương Lâm là trạm chận bắt hàng hóa, trà, cà phê nổi tiếng tham lam nhất của các ngài thuế vụ mang băng đỏ.

Cách Sài Gòn hơn 150 km, hướng về Đà Lạt là Đèo Chuối thuộc Thị Trấn Madagui, nằm ở khoảng giữa đường Sài Gòn – Đà Lạt. Tên gọi Madagui bắt nguồn từ một dòng sông Gui và là vùng dân tộc Mạ sinh sống. Đèo chuối thuộc tỉnh Lâm Đồng, dài 4 km, quanh đèo có nhiều chuối rừng nên người dân địa phương đặt tên là đèo Chuối, đến đây sẽ cảm nhận được không khí mát lành của vùng cao nguyên.

Theo quốc lộ 20, trước khi đến thành phố Bảo Lộc thì phải vượt 10 km đường đèo, có tổng cộng 108 khúc cua, từ cây số 98 đến 108 gọi là đèo Bảo Lộc, đèo B'Lao (tên gọi cũ) theo tiếng của người K'ho hay tên gọi nghe có vẻ thần bí hơn là Đèo Ba Cô để nhắc lại tai nạn thảm khốc đã làm tử nạn ba cô gái vào năm 1975. Khoãng 1973, đèo này đã được nhà thầu Mỹ cho xẻ núi, làm đường cho rộng thêm. Đây là đèo nguy hiểm, nhiều khúc cong, xe trước không thấy xe sau hay hai xe chạy ngược chiều muốn tránh nhau thì một xe phải ngừng lại, đèo có nhiều tai nạn nhất trên tuyến đường quốc lộ 20. Đèo cách thành phố Sài Gòn 170 Km, cách Đà Lạt 135 Km, một bên là đồi núi, vách đá dựng đứng, một bên là vực thẳm, đường hẹp với 2 làn xe nên tai nạn là điều không tránh khỏi. Du khách muốn đi Đà Lạt đều bắt buộc phải qua đèo này, những người yếu tim thì đây là đoạn đường hồi hộp nhất, qua khỏi đèo du khách mới thở ra nhẹ nhỏm.

Câu chuyện về ba cô gái và huyền thoại
Du khách đến Đà Lạt nhiều lần đều biết đến con đèo này vì nó có rất nhiều bí ẩn. Một trong số đó là chuyện 3 cô gái trẻ chết ở đèo Bảo Lộc, dường như những người địa phương ở đây và những anh tài xế hay chạy ngang qua đây đều thuộc lòng câu chuyện 3 cô gái trẻ đáng thương này. Theo người dân địa phương kể thì ngày xưa ở đây có 3 cô gái có tên lần lượt là Loan, Hòa, Thảo đều là người Bảo Lộc đang là sinh viên của một trường đại học tại Sài Gòn. Vào kỳ nghỉ hè, ba cô từ Sài Gòn trở về Bảo Lộc trên chiếc xe khách, do tài xế lái xe quá nhanh qua một khúc cua trên đèo nên chiếc xe đã bị lật và tử nạn toàn bộ hành khách trên xe. Không lâu sau đó có một đoàn xe du lịch lên thành phố Đà Lạt cũng chạy tới khúc cua này, bị lật xe và lao xuống vực. Trong đoàn có bốn người sống sót gồm một chàng thanh niên và ba cô gái. Chàng thanh niên được ba cô gái giúp đở để cùng leo lên tới mặt đường. Khi lên tới mặt đường, chàng trai đã ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, chàng trai thấy mình nằm trong bệnh viện nhưng không thấy ba cô gái kia đâu. Chàng trai hỏi mọi người thì biết rằng người ta chỉ thấy có mỗi mình chàng nằm bên đường và toàn bộ số người còn lại trong đoàn xe đã tử nạn, trong đó không có cô gái nào như chàng trai miêu tả. Điều huyền bí ở đây là các cô gái mà chàng trai miêu tả rất giống với ba cô gái bị tử nạn trước đây. Người ta cho rằng vì chết quá trẻ và còn trinh trắng nên oan hồn của ba cô gái cứ vất vưởng nơi chân đèo và khi gặp tai nạn tương tự nên đã hiển linh giúp đỡ chàng trai trẻ thoát chết. Sau thời gian đó người dân nơi đây đã lập một ngôi miếu nhỏ để cầu siêu cho linh hồn của những người chết oan vì tai nạn xe cộ và nhất là oan hồn của ba cô gái trẻ, và cầu an cho những khách bộ hành có việc khi đi ngang qua đoạn đường đèo này. Từ đó tai nạn xe cộ tại khúc cua giảm hẳn, và sau này người ta không còn thấy ba cô hiện ra nữa. Lúc đầu miếu Ba Cô chỉ là một ngôi miếu nhỏ nhưng sau đó người dân đã đóng góp nên mới xây ngôi miếu khang trang như bây giờ. Trước đây mộ ba cô được chôn sát ven đường nhưng nay đã được người thân bốc đưa về Sài Gòn. Từ đó trở đi con đèo này còn có tên gọi là Đèo Ba Cô để nhắc nhở người đi qua đèo cần cẩn thận để tránh những tai nạn đáng tiếc. Tuy nhiên thực tế có nhiều tài xế đã thêm mắm muối để câu chuyện này thêm phần rùng rợn và liêu trai nhằm thu hút khách đi đường vào lễ bái miếu Ba Cô, còn thực hư câu chuyện thế nào vẫn là điều kỳ bí của Liểu Trai Chí Dị Bồ tùng Linh.

Qua đèo là vào địa phân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, ngày nay Bảo Lộc thuộc thành phố Đà Lạt. Đây là một thành phố chuyên về sản xuất trà, dâu nuôi tằm, nay là thủ phủ của ngành tơ lụa Việt Nam.. Trước 75, nhiều tiệm bán trà nổi tiếng như trà Đổ Hữu, trà Thái Đức. Thời Pháp, Bảo Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng. Năm 1958, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đổi tên thành tỉnh Lâm Đồng. Bảo Lộc cách trung tâm Thành phố Sài Gòn 193km, trung tâm thành phố Đà Lạt 110km, cách Dầu Giây 121km. Nhờ khí hậu mưa gió điều hòa, cây ăn trái của Bảo Lộc cũng rất phong phú, trong đó có những loại cây đặc sản như trái bơ, sầu riêng, mít tố nữ, mít nghệ, và cũng là nơi chăn nuôi nhiều bò sữa và dê.

Một danh lam thắng cảnh nữa là Di Linh (Djiring), theo nhiều người, đây là tên của vị chủ làng có công thành lập ra buôn này. Di Linh là vùng đất màu mỡ, khí hậu rất thích hợp cho cây cà phê. Di Linh cách Sài Gòn 222 km và cách thành phố Đà Lạt 78 km.

Từ Di Linh đến Đà Lạt sẽ qua nhiều vùng đồi núi, gềnh thác như:

Image result for thac pongour dalat

Thác Pongour (đọc là Pông-gua), còn gọi là thác Bảy tầng, nằm cách Đà Lạt chừng 50 km. Thác đổ từ độ cao gần 40 mét, trải rộng hơn 100 mét, qua hệ thống đá bậc thang 7 tầng. Truyền thuyết kể rằng, vùng đất này do một nữ tù trưởng người K’Ho xinh đẹp tên là Kanai cai quản. Nàng có tài chinh phục thú dữ phục vụ lợi ích con người, trong đó có bốn con tê giác to lớn khác thường, luôn tuân lệnh Kanai dời non ngăn suối, khai phá nương rẫy trồng bắp, gieo lúa và sẵn sàng xung trận chiến đấu chống kẻ thù, bảo vệ buôn làng. Nhờ đó, cuộc sống cộng đồng ngày càng sung túc, thanh bình. Mùa xuân năm ấy, đúng ngày rằm tháng Giêng, nàng nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng. Bốn con tê giác quanh quẩn đêm ngày không rời thân chủ nửa bước, chẳng buồn ăn uống cho đến chết... Bỗng một sáng bình minh vừa hé, mọi người hết sức ngạc nhiên khi thấy nơi nàng yên nghỉ sừng sững ngọn thác đẹp tuyệt trần. Thì ra, suối tóc Kanai đã hoá thành làn nước trong xanh, mát rượi, tung bọt trắng xoá, còn những phiến đá bàn xanh rêu xếp từ cao xuống thấp, làm nền cho thác đổ, chính là các cặp sừng của đàn tê giác hoá thạch - biểu tượng của sức mạnh đoàn kết, gắn bó vĩnh cửu giữa con người với thiên nhiên bao la. Pongour là tên do người Pháp phiên âm từ tiếng bản địa K’Ho: Pon-gou có nghĩa là ông chủ vùng đất sét trắng. Theo một số tài liệu địa chất của người Pháp, vùng đất này có nhiều kaolin.

Image result for thác gougah dalat

Thác Gougah thuộc huyện Đức Trọng, Lâm Đồng. Thác Gougah nằm sát quốc lộ 20 cách Đà Lạt chừng 37 km. Theo Tây Nguyên cổ truyện thì xưa kia Gougah vốn là một vực sâu chứa kho báu của hoàng hậu Naf Biút (nước Chiêm Thành - Chăm). Naf Biút vốn người Việt, lấy vua Chăm, nàng được vua rất sủng ái, để chữa bệnh cho nàng có quần thần tâu phải xây một cung điện ngoài vương quốc Chămpa để hoàng hậu dưỡng bệnh và vua Chăm đã chấp thuận. Về sau hoàng hậu mất, nhà vua cho chôn cất ở nơi hoang dã ấy và cho chôn theo một kho tàng vàng, ngọc để hoàng hậu dùng.

Image result for thác liên khương dalat

Thác Liên Khương hay thác Liên Khang, tên cũ là Liên Khàng (Liêng: thác; Khàng: ong vò vẽ hay kiến vàng), tại ngã ba Liên Khương, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng. Thác nằm ngay cạnh quốc lộ 20, cách Đà Lạt chừng 27 km, cách sân bay Liên Khương khoảng 1 km. Thác rộng khoảng 200m, cao 50m, vào mùa khô thác có ít nước. Đây là một ngọn thác hùng vĩ ở Lâm Đồng, gắn liền với những truyền thuyết huyền bí của miền đất Tây Nguyên. Tương truyền nơi đây vốn là khu rừng nguyên sinh có con suối thơ mộng chảy qua. Trên cây có lắm quả ngọt dành cho người và khỉ. Dưới suối có nhiều cá đến nổi dân làng ăn không hết. Vì lý do đó mà lũ kiến vàng từ vùng núi xa xăm kéo về cư ngụ. Bởi cuộc sống sung túc nên kiến vàng ngày càng đông. Chúng làm tổ và chiếm vị trí độc tôn khiến người dân bản địa lại thiếu cái ăn. Dân làng phải bắt buộc cầu cứu thần lửa. Nhưng thần lửa càng đốt nhiều thì lũ kiến càng sinh sôi. Thần lửa kiệt sức đành chịu thua. Lũ làng lại dâng lễ vật, đâm trâu cúng Yàng và cầu xin Yàng đánh giặc Kiến Vàng. Cảm động trước lòng thành của dân làng, Yàng đã gọi thần mưa, thần Sấm Sét làm cho lụt to. Nước từ dòng Đa Nhim như nước mắt đổ về cuốn trôi giặc Kiến Vàng. Từ đó dân chúng sống ấm no hạnh phúc. Thác Liên Khương vì do búa sét đánh tan kiến chúa nên tạo thành dòng thác sâu và đẹp.

Image result for thac prenn dalat

Thác Prenn nằm cạnh quốc lộ 20, ở cửa ngõ vào TP.Đà Lạt. Thác ở chân đèo Prenn cách trung tâm Đà Lạt khoảng 10 km. Dòng nước từ trên ghềnh đá với độ cao hơn 20m đổ xuống trắng xóa như một dải lụa bạch trông tựa mái tóc của nàng Bạch Mao Tiên cô. Có thể vì thế mà một số du khách gọi là thác Tiên Sa. Theo truyền thuyết mà các già làng kể lại thì thác có tên gọi trên là xuất phát từ tiếng K’Ho đầu tiên có tên gọi Prềnh – có nghĩa là Cà đắng, sau người dân đọc lại thành Prenn. Bằng chứng là ngày nay, ở khu vực thượng nguồn của thác, dọc hai bên bờ suối vẫn còn rất nhiều cây Cà đắng mọc hoang. Loại cà này có trái nhỏ và tròn như cà pháo nhưng vỏ xanh và có điểm nhiều chấm trắng, khi chín có màu vàng. Ngày xưa người dân tộc đem chế biến và ăn có vị đắng rất ngon. Còn theo các nhà dân tộc học thì tên của thác nước này, lại xuất phát từ tiếng Chăm. Prenn có nghĩa là “vùng lấn chiếm”. Tên gọi này xuất phát từ cuộc chiến tranh khá dai dẳng của các bộ tộc người thiểu số sống trên vùng đất này để chống lại những lần “Tây tiến” của người Chăm ở Panduranga (Ninh Thuận) vào thế kỷ 17, và người dân địa phương lấy tên này đặt tên cho thác nước hùng vĩ quanh năm nước chảy tạo sương trắng cả một vùng và từ đó thác có tên gọi Prenn.

Image result for Thac Datanla Da Lat

Thác Đatanla cách thác Prenn 6 km và thành phố Đà Lạt 4 km. "Đatanla" hay "Đatania" theo tiếng K'Ho ghép lại từ "Đạh-Tam-N'ha" có nghĩa là "dưới lá có nước".

Truyền thuyết thứ 1: Đatanla là nơi dũng sĩ K`Lang và nàng sơn cước Hơbiang gặp nhau. Nơi đây, chàng Lang đã giao chiến với bầy thú dữ gồm hai con rắn hổ tinh, bảy con chó sói và hai con cáo. Truyện kể của đồng bào dân tộc còn ghi lại rất rõ trận đánh ấy: "Cây đổ ào ào, gió cuồng lên dữ dội, cuộc giao tranh diễn ra vô cùng ác liệt. Lợi dụng lúc hai con rắn lè lưỡi, Lang rút dao đi rừng chặt đứt bay 2 lưỡi của rắn rồi lấy 9 mũi cung tên bắn vào bầy chó sói và cáo làm chúng bỏ chạy tán loạn...". Khoảng rừng cây bị đổ phá tạo nên những hố sâu mà một trong những hố sâu ấy là "Vực Tử Thần" ở chân thác. Từ đó Đatanla là nơi hẹn hò của đôi tình nhân.

Truyền thuyết thứ 2: Truyền thuyết kể rằng, Đatanla còn là thác mà các nàng tiên thường hay xuống tắm vì có dòng nước trong vắt, được che phủ bởi nhiều tầng lá. Vì không biết là dưới lá có nước nên khi phát hiện ra con thác, bà con dân tộc thiểu số đặc tên cho nó là "Đạ Tam Nnha" có nghĩa là "dưới lá có nước".

Truyền thuyết thứ 3: Có truyền thuyết kể lại rằng, vào thời Pôrêmê, người Chăm từ Panduranga (Phan Rang) thường kéo lên tấn công người Lạt, người Chil ở cao nguyên Lang Biang để giành đất và bắt nô lệ. Trong lúc người Lạch sắp thua vì thiếu "cái nước" thì tình cờ họ phát hiện ra dòng thác này và có nước uống, nên người Lạt đã chiến thắng và bảo vệ được buôn làng. Còn người Chăm thua vì họ không biết "dưới lá có nước". Từ đó bà con bộ tộc Lạt đặt tên là "Đạ Tam Nia" (dưới lá có nước) để nhắn nhủ với con cháu sau này."

Cũng đừng quên Thiền Viện Trúc Lâm là thiền viện thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Thiền viện cách trung tâm thành phố Đà Lạt 4.5km, nằm trên núi Phụng Hoàng, phía trên Hồ Tuyền Lâm. Đây là thiền viện lớn nhất Lâm Đồng, là điểm tham quan và chiêm bái của nhiều du khách trong và ngoài nước. Thiền viện bắt đầu được xây dựng vào năm 1993 do HT Thiền sư Thích Thanh Từ thành lập. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo bên cạnh hồ Tuyền Lâm với một con đường dốc có 140 bậc thang bằng đá, hai bên là những rặng thông cao vút, xanh rì dẫn qua 3 cổng tam quan để vào chính điện. Chính điện có diện tích 192m2, giữa điện thờ tượng Phật Thích Ca cao khoảng 2m. Từ trên chính điện nhìn xuống là hồ Tuyền Lâm, phong cảnh ở đây rất đẹp, hồ nước trong xanh in bóng rặng thông bên đồi Thanh Lương. Bên dưới lưng chừng đồi, gần hồ Tĩnh Tâm là nhà khách 2 tầng nằm gọn trên một ngọn đồi có khu vườn xanh mát. Đây là nơi những phụ nữ đến xin tập tu ngắn hạn tại thiền viện. Phía trước nhà là rừng trúc xanh tươi. Đứng trước sân nhà có thể thấy đỉnh núi voi phục soi bóng xuống hồ Tuyền Lâm hùng vĩ. Thiền Viện Trúc Lâm là nơi đào tạo rất nhiều Đại Đức ra hải ngoại để làm trù trì các Chùa mới thành lập sau này.

Đèo Prenn dài 10 km, cách thị xã Đà Lạt cũng 10 km, phong cảnh đèo này rất đẹp, một bên là vách núi, một bên là vực sâu thăm thẳm, cũng có nhiều tai nạn nhưng tương đối ít nguy hiểm hơn đèo Bảo Lộc. Trước khi vào Thị Xã Đà Lạt, cách thành phố khoãng 3km, bên tay phải có căn nhà “ma” nổi tiếng, một thời bỏ trống, sau 75, nhiều cán bộ vô thần muốn chiếm nhà này nhưng phải bó tay, không ai có thể trụ lại hơn 1 tuần. Qua hết đèo là vào thị xã Đà Lạt.

Đà Lạt, Sài Gòn, 300 cây số đường qua núi đèo, trước 1975 phải mất 8-10 tiếng để nuốt trọn con đường này. Hiện nay có nhiều khúc đường đã làm thành xa lộ, ngôn ngữ hiện đại gọi là đường cao tốc cho nên chuyến tàu đêm chỉ cần 4 giờ rưởi là nối liền hai thành phố đồng bằng và cao nguyên.

3:30 sáng tôi đặt chân đến thành phố hoa Anh Đào, sau 4 tiếng rưởi nằm trên xe đò.

“Ai lên xứ hoa đào, đừng quên mang về một cành hoa”.

Đà Lạt, xứ hoa Anh Đào

Đà Lạt, Tiểu Paris, thành phố cao nguyên nằm dưới chân núi Lang Biang, ở cao độ 1500 mét so với mặt biển, quê hương của đồng bào Lạch, thành phố được khám phá bởi bác sĩ Alexandre Yersin năm 1893.

Đà Lạt, một xứ rất quen, nhưng cũng còn rất lạ đối với nhiều người, nhất là các bạn đã rời xa xứ khoảng trên dưới 10 tuổi. Bài viết này không tả cảnh đẹp thay cho bạn, không hít thở khí trời mát lành dùm bạn, không bách bộ dưới sương mờ, không nghe thông reo, không ngắm lan rừng, không giúp bạn cảm xúc mà chỉ mời chính bạn đến cao nguyên này, lúc đó bạn sẽ cảm xúc nó mà thôi. TP ĐàLạt mang cái tên thật thơ mộng, có bốn mùa hoa, có thông reo và sương lấp lánh ban mai. Đà Lạt là hiệp chủng của những người từ mọi miền đất nước, con người Đà Lạt có phong cách hiền hoà, thanh lịch và đặc biệt rất ư đáng yêu.

Đà Lạt thành phố của mộng mơ, có không gian hữu tình, có đồi thông reo réo rắc lúc đêm về, có ve sầu mùa hạ, có sương sớm trên mặt Hồ Xuân Hương, Than thở, Tuyền Lâm. Có con đường Tình Yêu che khuất dưới tàn thông, có Thung lũng Tình Yêu trải thảm cỏ xanh mướt cho các cô nàng tình tự, có rừng Ái Ân nơi chốn ghi lại nhiều chuyện tình bất hủ của trai thanh gái lịch, có Thác Cam Ly nước róc rách mùa nắng, cuồn cuộn đỏ mùa mưa mang theo hương thơm của lan rừng cao nguyên, và hơi thở của các cô sơn cước tắm gội sau một ngày nương rẩy, có thác Datanla, Prenn, Ankroet, Gougah, Pongour, có vườn Bích Câu Kỳ Ngộ, Đồi Cù xanh thẩm lác đác điểm vài bụi hoa ngủ sắc, nơi của các cặp tình nhân trẻ không tiền, muốn có cảm giác mạnh ngoài trời, một nơi kín đáo để thề non hẹn biển cùng chết theo nhau cho nên mới một có chuyện tình dở khóc dở cười trong bụi ngủ sắc(1).

Núi rừng Đà Lạt có lan rừng Cymbidium, Paphiopedilum (Vân hài), Dendrobium gratiotissimum (Ý thảo 3 màu), Dentrobium farmeri (Thủy Tiên trắng). Có Mimosa vàng dẫn lối đi, nhiều vườn hoa hồng, Thược dược lửa (Dahlia cultorum), Marguerite (Cúc trắng), Pensée (Hoa tư tưởng), Azala japonica (Đỗ quyên), Salvia splendens (hoa xác pháo), Immortelle (hoa bất tử), Camellia (Trà mi), Sans-souci, Celendula officinalis (hoa vô ưu). Vầ trái hồng, mận, đào lông, dâu tây vv...vv.

Đà Lạt có hai trường đào tạo sĩ quan hiện dịch cho Quân lực VNCH,Vỏ Bị và Chiến tranh Chính Trị. Hai quân trường này đã gởi ra chiến trường những sĩ quan hào hùng ....và cũng tại nơi đây đã ghi lại nhiều nửa hồn thương đau và nhiều cuộc tình đầy trắc trở như Đồi Thông Hai Mộ(2), Tình Thiên Thu Mộng Thường(3). Đó là con đường xưa em đi, con đường anh chinh chiến, nhưng sẽ chẳng bao giờ chúng ta quên nhau, vì đá mòn kia đã ghi ngày đầu hẹn hò và ước nguyện thương nhau suốt đời.

Đà Lạt có Vòng Tay Học Trò (Nguyễn thị Hoàng), một chuyện tình lãng mạn của cô giáo đến từ miền thùy dương cát trắng. Đà Lạt có Dòng Chúa Cứu Thế, có Giáo Hoàng Chủng Viện tiêu biểu một thời thịnh trị của Giáo hội Công giáo, có tiếng chuông chiều ngân vang của Linh Sơn Tự, nơi tình cờ đã gieo vào hồn tôi cô nữ sinh Bùi Thị Xuân, (N.T.), người con gái mà sau 50 gặp lại, má đào vẫn như ngày nào.

Đà Lạt tôi, có những hạt sương lóng lánh ban mai trên những triền đồi, gió lành lạnh khi màn đêm buông xuống, và muôn thuở là thành phố lý tưởng cho sáng chiều cà phê. Ai đã từng qua Đà Lạt, từng sống hay từng học nơi đây mà không từng thưởng thức hương vị cà phê Tùng chiều mưa, không cà phê Mekong buổi sáng, không cà phê đêm trên Nhà Thủy Tạ vừa ngắm bóng trăng lung linh, những đợt sóng lăn tăn trên mặt Hồ Xuân Hương vừa tựa vai nhau tình tự.

Đà Lạt có trường Chính trị kinh doanh, Viện đại học, trường mà tỉ lệ sinh viên sau khi hoàn tất Cử nhân, nhiều chàng trai đưa nàng về dinh nơi miền đất lạ, nhiều thiếu nữ không lấy chồng gần mà lấy chồng xa, chim kêu vượn hú, chứ chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?”. Có nhiều nữ sinh viên quê tận Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc liêu, “nơi muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lền như bánh canh, vì yêu anh nên đành xa xứ”, để rồi “đêm đêm ra đứng hàng ba, trông về quê mẹ lệ sa buồn buồn”.

Và không quên, phải nói đến một thằng con nhà nghèo, xấu trai, học dở mang hơi hám của núi rừng cao nguyên nhiều năm, không ít éo le trong tình trường với các nữ sinh viên, từ đất thần kinh, miền thùy dương và miền tây sông nước. Một thằng đã rời phố thị, bỏ mất mối tình đầu với chị em Ngọc nữ, Ngọc Thanh để đến vùng sông Hậu chèo thuyền cùng cô lái đò. Một thằng từng ru câu hò bên dòng sông Tiền“em đứng bên kia sông nhìn cây mù u chưa chín, anh đứng bên này sông nhìn cây mù u đã chín chưa, mù là mù trên mây, mầy trên....”.

Đà Lạt, xứ hoa anh đào, trước thời Pháp thuộc chỉ có hoa anh đào dại, đến thời Đệ nhất Cộng Hòa, lúc ông Trần văn Phước làm Tỉnh trưởng, chính phủ Nhật biếu cho thành phố Đà Lạt 300 cây anh đào, trồng xung quanh Hồ Xuân Hương và đường lên chợ Hòa Bình. Nếu đến thành phố mộng mơ vào tháng 11 sẽ được chiêm ngưỡng những triền đồi cỏ hồng hay hoa dã quỳ vàng rực.

daquy1.jpg - 22.79 Kb

Hoa Dã Quì

Tháng 1 sẽ xuất hiện màu hồng của hoa anh đào, loài hoa của mùa xuân Đà Lạt, loài hoa đặc trưng của cao nguyên Lâm Viên, loài hoa có màu má đào của các cô “sơn nữ”, một màu hồng để nhớ để thương của các văn nhân, thi sĩ, của các chàng trai Vỏ Bị, Chiến Tranh Chính Tri, sinh viên Viện Đại Học. Vào đầu mùa khô tức tháng 10 hàng năm Anh Đào vàng lá dần, rụng hết, trơ trọi cành nhánh khẳng khiu và ngủ đông. Khi đất trời chuyển mùa, vào khoảng tháng 1 là lúc Anh Đào “bừng tỉnh” nở hoa báo hiệu xuân về. Anh Đào thường nở đồng loạt, chi chít hoa từ gốc đến ngọn, cả thành phố một màu hồng làm lòng người ngất ngây, rạo rực khó quên. Anh Đào không chỉ là niềm tự hào của con người Đà Lạt, nó còn là những kỷ niệm không thể nào phai nhạt một thời của sinh viên Viện Đại Học trước 75, thường bẻ trộm vài cành đào đem về Sài Gòn tặng người yêu, của du khách may mắn chiêm ngưỡng khi đặt chân tới thành phố Đà Lạt đúng mùa hoa nở. Hoa anh đào có mặt ở khắp nơi nhưng nở rộ và trở thành những rừng hoa anh đào thì chỉ có ở những con đường Trần Hưng Đạo, Quanh hồ Xuân Hương, Khu vực Hồ Tuyền Lâm và thung lũng Tinh Yêu.

“Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa/
Cho tôi bớt mơ mộng chiều chiều nhìn mây trôi xa xa/
Người về từ hôm nao mà lòng còn thương vẫn thương/
Bao nhiêu năm tháng cũ mà hồn nào tôi vấn vương/
Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai”.

Hoa Anh Đào

Mùa hoa anh đào vừa kết thúc, Đà Lạt lại trở nên mộng mơ với sắc tím của hoa phượng. Đây là loại cây đặc trưng ở phố núi, nở vào tháng 3-4 hằng năm, có tán rộng, hoa nở thành từng chùm tím ngắt cả khoảng trời khiến bao người say lòng. Đây là thời điểm thích hợp nếu bạn muốn lên xứ sở ngàn hoa xả hơi dịp cuối tuần khi Sài thành rực nóng. Từ trung tâm thành phố đến hồ Xuân Hương dài khoảng 2 km, mặt đường trải thảm tím. Thời gian hoa đâm nụ, nở hoa đến khi tàn kéo dài khoảng 3-5 ngày. Thế nhưng vì các chùm hoa thay phiên nhau nở liên tục, hết lớp này đến lớp khác nên mùa hoa phượng tím có thể kéo dài ít nhất 2 tháng, trước khi thời tiết thay đổi.

Hoa Phượng Tím

Đà Lạt còn có giống đào thường gọi là đào 'má hồng', là loại đào lai, được ghép từ gốc cây đào rừng với mầm của các loại hồng đào, liễu đào, bích đào, bạch đào… nên có tới 25 cánh, đẹp hơn nhiều so với đào 5 cánh thông thường. Cũng như đào thắm phương Bắc, mai vàng phương Nam, đây là đào má hồng đặc trưng cho sắc xuân của thành phố du lịch. Đào má hồng còn gọi là đào lông, đào phai hoặc đào vạn tượng. Gọi đào má hồng vì khi chín một phần quả đào chuyển sắc hồng phơn phớt như đôi má thiếu nữ mười sáu. Chủ nhân Thung lũng Hoa đào Mười Lời (Thung lũng hoa đào đầu tiên ở miền Nam) cho biết Tết Nguyên đán năm nay có 500 gốc đào xuất vườn chưng Tết, trong đó số gốc đào cho thuê chiếm 90%, bán 5% và gửi chăm sóc 5%. Đào được cho thuê trong vòng 1 tháng (từ ngày 15 tháng Chạp đến hết ngày 15 tháng Giêng). Đào má hồng có giá cho thuê chưng Tết giá từ 3-30 triệu đồng tùy từng gốc. Đối với những gốc đào cổ thụ thì giá còn cao hơn nữa có thể từ nửa đến 1 tỷ. Đây là loài hoa giúp cho những ai muốn trở thành đại gia.

Người ta thường nói: “Mùng 5, 14, 23 đi buôn cũng lổ.....”, tôi ra Đà Lạt ngay ngày mùng 5 Tết, mọi việc đều trớt quớt, lò thiêu không hoạt động, giấy phép không xin được, dự tính cả năm như gió thoảng mây trôi, chưa biết bao giờ thực hiện lại.

“Khi một cánh cửa đóng lại thì sẽ có một cánh cửa khác mở ra”. Đà Lạt là thành phố của cà phê chồm hổm, cà phê cóc, cà phê vĩa hè, cà phê đủ loại đã góp phần vào văn hóa Đà Lạt. Phong trào cà phê thịnh hành hiện nay là “cà phê lồng”, một căn nhà xung quanh toàn kính, nhiều tầng, trong trang hoàng hoa phong lan đủ loại, chim chóc treo xung quang. Đây là những quán cà phê dành cho các cô cậu trẻ có nơi hẹn hò và chụp ảnh kỷ niệm.

Một chuyến đi nữa vòng trái đất đã trở thành công cóc do cái mắc dịch Covid-19, dịch Vũ Hán, không còn cái hứng ở lại Đà Lạt thăm những địa danh của kỷ niệm hơn 40 năm xa vắng. Mộng không thành thì sao?

Ngày mai tôi về lại Sài Thành, bỏ lại sương mù, bỏ đôi má đào của một thời đại học năm xưa “đôi khi trộm nhìn em xem dung nhan đó bây giờ ra sao, đôi má đào như ngày nào”.

Trích trong 2 phần ghi lại bởi Lệnh Hồ Công Tử, (Montreal, 06-03-2020)

PHỤ LỤC:

(1) CÙNG CHẾT THEO NHAU

Số là có một nhóm đi câu cạnh đồi cù, một thằng hổng hiểu lý do gì cũng chui vào bụi ngủ sắc bên cạnh bụi ngủ sắc của một cặp tình nhân. Bổng nghe tiếng ve sầu tình tự hết biết “em mà không lấy anh được thì em chết”, thằng chết tiệt đang phùng mang trợn mắt vì bón “ông mà không ị được thì ông cũng chết”, cả bọn bỏ bửa câu.

(2) ĐỒI THÔNG HAI MỘ Đồi thông hai mộ là một địa điểm du lịch nằm trên đồi thông bên bờ hồ Than Thở, Đà Lạt. Nơi này gợi nhớ đến một câu chuyện tình buồn của Vũ Minh Tâm, quê ở Gò Công, con một gia đình đại điền chủ giàu có, là sinh viên Trường Võ bị Đà Lạt và một cô gái năm ấy khi vừa tuổi đôi chín, “tâm hồn đang trắng trong như chim non khi ăn còn chưa no, khi co còn chưa ấm” tên Lê Thị Thảo. Họ gặp nhau tâm đầu ý hợp, yêu nhau tha thiết và thề non hẹn biển. Tốt nghiệp, chàng về xin cha mẹ trầu cau cưới hỏi... nhưng bị gia đình phản đối kịch liệt vì gia đình nàng không "môn đăng hộ đối" và bắt đi cưới người con gái mà chàng không hề yêu. Chàng đã xin chuyển đến một vùng tuyến đầu lửa đạn để tìm quên... Và rồi, nàng nhận được tin báo tử của chàng từ chiến trường. Đau khổ tột cùng, "nàng buồn thơ thẩn chẳng còn ngồi trang điểm qua màu phấn, Để phai úa đến tàn cả hương sắc tháng ngày luôn héo hon". Sau đó, nàng tìm đến khu đồi thông bên bờ hồ Sương Mai (sau tình sử này được gọi là hồ Than Thở), nơi hai người xưa kia từng hò hẹn, tự vẫn chết vào ngày 15 tháng 3 năm 1956. Thuận theo nguyện vọng, gia đình đã chôn cất nàng ngay dưới khu đồi thông. Nhưng thật ra người ta đã nhầm khi báo tử, chàng không tử trận và đang trở về thăm nàng. Hay tin nàng chết, Tâm tìm đến mộ nàng vật vã khóc than, sau đó cũng tự tử chết theo để giữ trọn lời thề. Trước khi chết, chàng để lại bức thư tuyệt mệnh với mong ước được yên nghỉ bên cạnh mộ nàng để hai người mãi mãi được gần nhau. Sau năm 1975, do tuổi cao sức yếu, không thể thường xuyên lên thăm mộ con, cha mẹ chàng đã cho bốc mộ anh đưa về quê. Dù hài cốt chàng đã được dời đi nhưng cảm thương mối tình của hai người, người thân của nàng vẫn để ngôi mộ đôi.

Cảm khái chuyện tình của hai người, nhạc sĩ Hồng Vân sáng tác bài hát "Đồi thông hai mộ".
Đồi Thông Hai Mộ -
Trường Vũ https://www.youtube.com/watch?v=kZQz1SorVzU
Phương Dung https://www.youtube.com/watch?v=NSJO8pTTVk4

(3) TÌNH THIÊN THU Thiếu úy Phạm Thái gặp gỡ cô tiếp viên hàng không Mộng Thường trên một chuyến bay của Air Viet Nam sau khi chàng mãn khóa Võ bị Đà Lạt và đang trên đường về Sài Gòn trình diện Bộ Tư lệnh Biệt động quân. Trước khi lên đường tác chiến, tình yêu đã nảy nở giữa hai người theo thời gian và vào thời điểm tháng 4 năm 1972 thì Liên đoàn Biệt động quân của Phạm Thái đã tham chiến tại mặt trận An Lộc, chàng bị thương nặng và mất tích. Tin Phạm Thái bị thương và tử trận bay về làm cho Nguyễn Thị Mộng Thường đau đớn. Bỗng có một ngày, chàng Thiếu úy lại rạng rỡ trở về với hình hài nguyên vẹn, thì ra chàng may mắn được một bà sơ cứu mạng và cho trú ẩn trong nhà thờ để dưỡng thương. Sau khi trở về, Phạm Thái vinh dự được thăng cấp Trung úy, chàng viết thư về rủ cô người yêu xinh đẹp lên An Lộc cùng ăn mừng ngày lên lon. Trên đường đến An Lộc, chuyến xe đò của Mộng Thường không may bị pháo kích do Việt Cộng. Cô gái bất hạnh bị thương nặng, mất nhiều máu, tuy đã được cấp tốc đưa vào bệnh xá gần đó nhưng không qua khỏi. Ngày trao trả tù binh sau Hiệp định Paris, Phạm Thái trở về mới hay tin người yêu đã chết trên đường đi tìm mình, chàng vô cùng đau khổ nhưng đã muộn. Nhạc sĩ Trần thiện Thanh, sáng tác bản nhạc ghi lại cuộc tình này.

Tình thiên thu Nguyễn Thị Mộng Thường (Thanh Tuyền - ).DAT

https://www.youtube.com/watch?v=W2k3QIiN3XI https://www.youtube.com/watch?v=X8EEpXM8Kgw

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Đà Lạt: Đường Xưa Lối Cũ _ Lệnh Hồ Công Tử _ (Hồi ký)