Nhớ nữ sĩ Lệ Khánh, "Em là gái trời bắt xấu" _ Lê Hoàng Nguyễn _ (Văn / Tạp ghi)

  • PDF

NHỚ NỮ THI SĨ LỆ KHÁNH,
"EM LÀ GÁI TRỜI BẮT XẤU"

 

image1.jpeg

image2.jpeg

 

Tổng hợp

Cô gái Huế có bút hiệu rất là định mệnh. Lệ Khánh. Vì vậy mà cả đời cô đẫm lệ vì khóc, nước mắt nhiều hơn nụ cười.

Trước 1975, chắc nhiều người còn nhớ Lệ Khánh "Em là gái trời bắt xấu". Nhớ đây, không phải là nhớ vì dung nhan được ngắm hay đã đọc thơ LK, mà nhớ vì cái ấn tượng tò mò nỗi niềm em xấu với chút thương cảm ngậm ngùi vì cái tựa đề thơ dấy lên trong lòng.

"Theo một bài viết của La Ngạc Thụy :– “Vào những năm thập kỷ 60, trên diễn đàn văn nghệ xuất hiện một nhà thơ gây xôn xao dư luận, có thể nói là ngang tầm với hiện tượng TTKh, đó là nhà thơ Lệ Khánh tác giả của 5 tập thơ “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” do nhà xuất bản Khai Trí xuất bản liên tục trong 3 năm từ năm 1964 đến năm 1966.

"Có định mệnh, số kiếp cay nghiệt nào vẫn còn theo đuổi một người thơ đến suốt cuộc đời. Tình yêu, nhan sắc, danh vọng, bạc tiền là một con số không to lớn phủ kín hồn chị. Người chị mong ước sống chết mãi mãi có nhau đã ra đi không bao giờ trở lại sau biến cố 75."

Khoảng năm 1974, mỗi lần về phép, thỉnh thoảng tôi gặp Lệ Khánh ở con đường cư xá Đỗ Thành Nhân bên hông trường Hồ Ngọc Cẩn và sau lưngTòa Hành Chánh Gia Định. Đúng như trong bài viết, LK có xấu đâu, tuy có vẻ buồn. Trời không bắt LK xấu nhưng bắt LK gian truân một đời, tội nghiệp quá. Âu cũng là số phận

DgN

 

Lệ Khánh — “ EM LÀ GÁI TRỜI BẮT XẤU “

Vào những năm của thập niên 60, trên thi đàn xuất hiện những bài thơ của một nữ sĩ làm xôn xao dư luận trong giới văn nghệ và độc giả yêu thơ. Đó là Lệ Khánh với những bài thơ “Em là gái trời bắt xấu”

“Em là gái trời bắt xấu” là tiếng than não nùng của những mối tình tan vỡ và ngang trái.

Lệ Khánh ngậm ngùi than thở:

“Chuyện thủy chung biết lấy gì đổi chác

Khi tôi nghèo, bằng cấp trắng bàn tay”.

Một lần tình yêu chấp cánh bay đi, người tình ở lại lệ tràn chia ly. Mối tình sau cùng của Lệ Khánh là nhà thơ kiêm nhạc sĩ Thục Vũ, Vũ Văn Sâm. Thơ và nhạc quyện vào nhau, cuốn hút giới yêu thơ và người ngưỡng mộ một thời trước kia.

Mối tình trái ngang, là yêu một người “không phải của mình”, một người đã có vợ con.

Cuộc sống ngoài đời của Lệ Khánh cũng đầy gian nan. Tù tội vì làm thơ. Vất vả trong khu kinh tế mới. Bàn tay cầm viết làm thơ, thơ đã chết, nên bàn tay yếu đuối của một tiểu thư khuê các phải chẻ tre đốn củi để được chén cơm manh áo. Nỗi đau nầy không phải là chỉ riêng của nữ sĩ mà là nỗi đau của cả đồng bào miền Nam Việt Nam !

Những mối tình dang dở của Lệ Khánh

1 - Người tình Alpha Đỏ.

Người tình đầu tiên của Lệ Khánh là anh chàng Alpha Đỏ, sinh viên sĩ quan khóa 17 Võ Bị Quốc Gia (Đà Lạt), tên là Phạm H.. Th. (H.n.L.) phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân.

Vết thương tình đầu đời đã phá nát tấm lòng của nhà thơ nữ lần đầu tiên biết yêu.

Mối tình dang dở gây nhiều đau khổ cho Lệ Khánh, vì ông ... Alpha Đỏ kết hôn với người bạn của cô. Nỗi đau nầy khiến cho Lệ Khánh có những bài thơ da diết trên thi đàn của một thời trước kia.

2 - Dang dở lần thứ hai

với Nhà văn Hoàng Ngọc Liên

Sau khi chia tay với người yêu đầu đời, một thời gian sau Lệ Khánh có mối tình với nhà văn Mũ Đỏ Hoàng Ngọc Liên, cựu Trung Tá binh chủng Nhảy Dù.

Ông nhà văn mũ đỏ nầy thường hay bay đi, bay lại Sài Gòn-Đà Lạt hàng tuần. Khi ông làm bài thơ “Kỷ niệm sinh nhật em”, thì Lệ Khánh có ngay bài “Kỷ niệm sinh nhật anh” để đáp lại.

Lệ Khánh  viết bài thơ cho người tình mũ đỏ.

HỜN DỖI

Đã ba ngày em đợi thư anh đó

Thứ năm buồn úp mặt khóc biết không? Em giận anh, tức quá muốn lấy chồng Cho xong chuyện để đừng thương với nhớ

Anh kiêu lắm cứ tưởng mình mũ đỏ

Đại úy “to” rồi quên con bé Cao Nguyên Đang chờ thư anh, viết mãi một tên Tên anh đó, người chi lười rứa đó

Em nhất định mai không thèm trông ngóng

Đại úy gì lười hơn hủi nữa cơ Ba ngày rồi con bé chả làm thơ Tức rứa đó, để bi chừ em lại khóc.

Lệ Khánh.

Hai người cặp kè bên nhau một thời gian dài, Lệ Khánh biết được ông nầy quá bay bướm, có nhiều bồ nhí ở Sài Gòn, nên chia tay. Lại một lần tình yêu chấp cánh bay đi, người tình ở lại lệ tràn chia ly.

Lại thêm một vết thương trong lòng nhà thơ Lệ Khánh. Có phải vì “Em là gái trời bắt xấu?”.

Nếu Lệ Khánh là một tuyệt sắc giai nhân thì ra sao?

3 - Mối tình ngang trái với nhạc sĩ          Thục Vũ

Vài nét về nhạc sĩ Thục Vũ

Tưởng niệm Nhạc sĩ Thục Vũ (*)

- Câu Chuyện Âm Nhạc

Nhạc sĩ Thục Vũ, tên thật là Vũ Văn Sâm, sinh năm 1932 tại xã Trực Tuấn, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Tốt nghiệp khóa 4 phụ ở Đà Lạt năm 1954.

Bước đầu binh nghiệp. Thục Vũ phục vụ ở Đà Nẵng, và sau đó là Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Sau thời gian tu nghiệp ở Hoa Kỳ, ông được bổ nhiệm làm Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Ở đó ông sáng tác bản nhạc "Quang Trung hành khúc" .

Đơn vị sau cùng của Trung tá Thục Vũ là làm trưởng khối Chiến tranh Chính trị của trường Bộ Binh Long Thành.

Sau 1975 ,Thục Vũ bị tù cải tạo. Lúc đầu tập trung ở Long Khánh, rồi sau đó về trại Tân Hiệp, Biên Hòa. Giữa năm 1976 bị đưa đến Sơn La, là nơi rừng thiêng nước độc, sơn lam chướng khí. Bịnh đau gan mà không có thuốc chữa trị, mất vào ngày 15-11-1976, để lại vợ và 5 đứa con, một người yêu bé nhỏ với đứa con trai, Dương Khánh Thục.

Khi ở trại Suối Máu, Biên Hòa, Thục Vũ sáng tác bản nhạc "Suối máu" với những câu thơ cũng của Thục Vũ :

Anh Ở Đây

“Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây

Áo rách xác xơ vai gầy Cùng chung kiếp sống lưu đầy Anh ở đây, ngày này cơm chưa đầy chén

Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây

Vẫn giếng nước sâu bên cầu Tìm trăng, trăng vướng dây gàu Anh ở đây, ngày này bên trong rào sắt

Hận thù ưu tư chồng chất

Giữa lòng núi cũ sông xưa”.

Mối tình ngang trái

Thục Vũ là một nhạc sĩ cũng là nhà thơ. Vốn cùng nghệ sĩ nên họ đồng cảm, đồng điệu nhau qua lời thơ tiếng nhạc.

Mối tình ngang trái vì Thục Vũ đã có vợ con. Tình trường lại tiếp tục lận đận. Số phận hẩm hiu. Lệ Khánh đã yêu một người “không phải của mình”.

Tình ngang trái được Lệ Khánh diễn đạt qua những lời thơ trong bài

“Vòng Tay Nào Cho Em”

“Lỡ yêu người có vợ con

Thì đừng nói chuyện sắt son mà buồn Vòng tay nào ôm vợ Còn vòng tay nào anh ôm em?”

“Anh hãy về đi với vợ hiền

Và đàn con nhỏ còn ngây thơ Phần em chỉ sống bơ vơ Tình ta đành lỡ duyên nhau Thì xin hãy hẹn mai sau…”

“Vòng tay” là cử chỉ yêu đương qua 4 câu dưới đây.

“Vòng tay anh chắc giờ đây quá chật?

Ôm vợ hiền, ôm con dại còn đâu Vâng. Còn đâu người con gái đến sau Thương, nhớ, tiếc sao ngỡ ngàng biết mấy?”

Lệ Khánh diễn đạt tình yêu bằng những cử chỉ cụ thể, là sự hòa hợp chuyền hơi ấm giữa hai thân xác, “Vòng Tay”. Ôm nhau thì phải hôn nhau … tuần tự hành động thể hiện tình yêu theo luật tự nhiên.

Người con gái đến sau chịu nhiều thiệt thòi, gợi nhớ đến bài “Lấy chồng chung” của Hồ Xuân Hương.

“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung. Năm thì mười hoạ hay chăng chớ, Một tháng đôi lần có cũng không”.

Và đây là bài thơ gây chú ý thật nhiều trên thi đàn miền Nam xưa :

Bài thơ “Em là gái trời bắt xấu”

Lệ Khánh

Chiều Chúa nhật đợi chờ anh mãi mãi

Sao trễ giờ cho chua xót anh ơi Hẹn hò chi ? Chừ lỡ dở cả rồi Tình mới chớm đã vội vàng lịm tắt

Tôi yêu anh nhưng hoài hoài thắc mắc

Liệu người ta đáp trả lại hay không Đến bao giờ dẫm được xác pháo hồng Áo cưới đỏ cười vui cô dâu mới

Anh hẹn đúng hai giờ anh sẽ tới

Nhưng sao chừ trời đã tối ... anh đâu? Mưa hôm nay êm như tiếng mưa ngâu Anh lỗi hẹn nên chiều buồn rứa đó

Tôi gục mặt khóc thầm bên cửa sổ

Mà cô đơn trời hỡi vẫn cô đơn Nơi xa xôi, anh có biết tôi buồn Anh có biết tôi cười mắt ngấn lệ?

Anh lỗi hẹn hay là anh đến trễ

Cho chiều nay đường phố lạnh mưa thu Và đêm nay thành thị ướt sương mù Người con gái gục đầu thương mệnh bạc?

Chuyện thủy chung biết lấy gì đổi chác

Khi tôi nghèo, bằng cấp trắng bàn tay Sao yêu anh cho đau khổ thế này Thà câm nín như ngày xưa anh nhỉ?

Vì Thượng Đế đày tôi làm Thi-Sĩ

Nên tâm tình trào ngọn bút thành thơ Dâng riêng anh anh nhận lấy, hững hờ Tôi hổ thẹn bực mình đem đăng báo

Thiên hạ đọc bảo nhau rằng tôi láo

Đẹp như tiên vờ nói xấu vô duyên Buồn không anh? Một số kiếp truân chuyên Làm con gái không bạc vàng nhan sắc

Tôi yêu anh nhưng hoài hoài thắc mắc

Người ta sao ? Không nói chuyện ân tình Hẹn hò rồi còn nỡ để một mình Tôi đứng đợi suốt chiều mưa Chúa nhật

Lần sau nhé bận gì anh cứ khất

Xin sẵn sàng đứng đợi vạn mùa đông Bạn bè đi qua trao vội thiếp hồng Tôi vẫn mặc để chờ anh trọn kiếp

(Lệ Khánh 1965)

Bài nầy được Thanh Ngọc và Hồng Lâm phổ nhạc, qua tiếng hát Thanh Thúy.

Tâm sự của Lệ Khánh qua bài thơ “Em là gái trời bắt xấu”

Cô gái Huế có bút hiệu rất là định mệnh. Lệ Khánh. Vì vậy mà cả đời cô đẫm lệ vì khóc, nước mắt nhiều hơn nụ cười.

Trong khi chờ đợi người tình trễ hẹn, cô gái miên man nghĩ ngợi. Nhiều câu hỏi được đặt ra: Không biết người ta có đáp trả lại tình mình hay không?  Mình có được cái diễm phúc trở thành cô dâu với áo cưới đỏ, đạp lên xác pháo hồng, hân hoan bước lên xe hoa cùng người yêu đi trọn đường tình, đến bến bờ hạnh phúc?

“Đến bao giờ dẫm được xác pháo hồng

Áo cưới đỏ cười vui cô dâu mới”.

Đa số những câu thơ của Lệ Khánh cần phải đọc liên tiếp từ câu trên xuống câu dưới thì nghĩa mới liên tục. Không ngắt câu.

Ngày chủ nhật, trông chờ người tình lỗi hẹn, người thiếu nữ nầy phân vân, thắc mắc miên man nghĩ ngợi trong nhiều câu hỏi.

“Tôi yêu anh nhưng hoài hoài thắc mắc

Liệu người ta đáp trả lại hay không?”

Cái mặc cảm của người con gái bị trời bắt xấu thể hiện như sau.

“Hẹn hò chi? Chừ lỡ dở cả rồi

Tình mới chớm đã vội vàng lịm tắt”

“Mưa hôm nay êm như tiếng mưa ngâu

Anh lỗi hẹn nên chiều buồn rứa đó”

Mưa trong cảnh đợi chờ buồn như mưa ngâu, ập xuống cả buổi chiều ở xứ lạnh, sương mù. Đà Lạt.

“Mưa ngâu” xuất xứ từ câu chuyện trên thiên đình, là Ngưu Lang và Chức Nữ. Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng, vì say mê tiên nữ đệt vải tên Chức Nữ. Cả hai bỏ bê việc làm nên bị Ngọc Hoàng phạt hai người phải xa nhau, người ở bên nây sông Ngân, người ở bên kia bờ sông. Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình, cho hai người gặp nhau chỉ một lần vào ngày mùng 7 tháng 7 Âm lịch. Đàn quạ bắt cầu cho hai người gặp nhau. Cầu Ô Thước.

Sau khi gặp nhau, lúc chia tay, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt, nước mắt buồn chia ly tràn xuống trần gian bằng những cơn mưa. Mưa ngâu.

“Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt

Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa”

(Nguyên Sa)

Giọt Mưa Thu (1942) là bản nhạc nổi tiếng của Đặng Thế Phong, làm rung động trái tim của nhiều thế hệ.

Lệ Khánh nghĩ đến nỗi đau buồn của cặp tình nhân trong khi chia xa.

Hẹn mà không đến làm cho người yêu nhỏ khóc thầm trong cô đơn và ngóng chờ bên khung cửa. Thục Vũ lớn hơn Lệ Khánh một con giáp, 12 tuổi. (1932-1944)

Trong nỗi buồn chờ trông, Lệ Khánh nghĩ đến thân phận mình, nghèo mà không có bằng cấp.

“Chuyện thủy chung biết lấy gì đổi chác

Khi tôi nghèo, bằng cấp trắng bàn tay”

Buồn không anh? Một số kiếp truân chuyên

Làm con gái không bạc vàng nhan sắc”

“Em là gái trời bắt xấu”

Xấu ở đây không có nghĩa là hoàn toàn xấu, mà là để so sánh với cái sắc đẹp diễm kiều, quyến rũ như một điều kiện để thu hút và cầm giữ người đàn ông.

Người phụ nữ có hai điều kiện để làm tầm ngắm của đàn ông đó là sắc đẹp nghiêng thành đổ nước. “Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc” hay “Nhất tiếu khuynh nhân thành. Tái tiếu khuynh nhân quốc”. Sắc đẹp làm chết đứng người anh hùng vì tay mỹ nhân.

Điều kiện thứ hai là tài năng.

Về tài năng, cụ thể là bằng cấp và địa vị. Trong hệ thống hành chánh của chính phủ thì địa vị bao gồm những chức vụ như: chủ sự phòng, chánh sự vụ sở, giám đốc nha … Ngoài xã hội thì phải là bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư … Lệ Khánh chỉ có chức vụ tầm thường là thơ ký.

Lệ Khánh có tài làm thơ, nữ sĩ chiếm địa vị “công chúa”, “hoàng hậu” trong lòng người yêu thơ. Thơ văn là món ăn tinh thần, nên không làm no bao tử được.

Vài nét về Lệ Khánh

Nhà thơ Lệ Khánh tên thật là Dương Thị Khánh sinh năm 1944 tại Thừa Thiên - Huế. Con của Phó Trưởng ty Cảnh sát Đà Lạt.

Tác phẩm đã xuất bản:

Em là gái trời bắt xấu (thơ tập 1, 2, 3, 4, 5) – Khai Trí Sài gòn xuất bản: 1964- 1965- 1966.

Vòng tay nào cho em (thơ 1966)

Nói với người yêu (thơ 1967)

Nhà xuất bản Khai Trí đã in 5 tập thơ “Em là gái trời bắt xấu”, 2 tập thơ “Vòng tay nào cho em”, và “Nói với người yêu”, đã có một số độc giả khổng lồ.

Lệ Khánh hiện ở số 71 đường 3 tháng 2, thành phố Đà Lạt.

Cuộc đời lận đận của Lệ Khánh

Nhà văn nữ Hoài Linh Phương (Minneapolis, MN) thân tình với Lệ Khánh như chị em ruột, cả gia đình Hoài Linh Phương cũng xem Lệ Khánh như người thân trong gia đình.

Hoài Linh Phương thuật lại cuộc đời lận đận của Lệ Khánh bên ngoài những vần thơ.

“Thân hình chị đẹp, nếu không nói là hấp dẫn. Tôi nhận ra chị rất mượt mà, có gì đâu mà gọi là “Em là gái trời bắt xấu”? như chị thường than thở. Nhìn khuôn mặt của chị tôi không thấy có điều gì “khuyết điểm” cả”.

Lệ Khánh không tuyệt đẹp nhưng không có nghĩa là xấu như chị thường hay than thở”.

Lệ Khánh làm công chức ở tòa Hành chánh thị xã Đà Lạt, rồi sau đó chuyển về Sài Gòn, làm công chức tại tòa Hành chánh tỉnh Gia Định.

Chị liều lĩnh đắm mình trong mối tình ngang trái. Câu chuyện một màu Alpha đỏ khi xưa đã là quá khứ. Và cháu Dương Khánh Thục ra đời.

Sao không thấy bóng dáng của nhạc sĩ Thục Vũ?

Nhà văn Hoài Linh Phương viết trong tùy bút, kể về cô Khánh như sau:

“Chị không có ai là họ hàng thân thuộc ở Sài Gòn cả. Mỗi ngày tôi vào thăm chị ở nhà bảo sanh Đức Chính, đường Cao Thắng, Sài Gòn, tôi mang theo những thứ cần thiết, ru cháu Thục.

Người đàn ông của chị, tôi chỉ gặp một lần trước kia, khi tôi mới quen chị”. Ý muốn nói là hiện tại chưa gặp lại một lần nào cả.

“Chị sống một mình với con trên căn gác nhỏ, mái lợp tôn, ở con hẻm sâu trong đường Nguyễn Huệ, Gia Định .. Căn gác nóng hầm hập vào mùa Hè, nóng như đổ lửa. Chị cô đơn trong cảnh đời phồn hoa xa lạ. Cô đơn, xót xa nhìn con khóc mà không thấy cha. Thơ chị phảng phất tiếng thở dài:

“Bây giờ mẹ chỉ có con

Con thơ thơm sữa , mẹ mòn tuổi yêu”

Trong cảnh phồn hoa náo nhiệt mà Lệ Khánh cảm thấy rất cô đơn vì thiếu vắng người tình, thiếu hơi ấm của tình yêu lúc ban đầu. Người cha phải nhìn mặt con mình. Con thơ cần phải có cha chăm sóc .. Nhưng không thấy nhạc sĩ Thục Vũ ở đó. Ở thời điểm sinh con, người chồng phải có mặt bên vợ trong lúc sinh đẻ.

Đàn ông đi biển có đôi

Đàn bà đi biển mồ côi một mình.

“Tôi thương cảm sự nhẫn nhục của chị. Cơn mê đã tàn, tình yêu đã tắt. Từ một tiểu thơ, con gái của một Phó ty Cảnh Sát Đà Lạt, với nhà cao cửa rộng, chị theo đuổi một hạnh phúc mong manh. Yêu một người “không phải của mình” để bắt đầu một đời bạc phận, long đong”.

Lệ Khánh muốn về Đà Lạt để gần cha mẹ và cho con được thấy ông bà ngoại và các cậu, dì. Cầm sự vụ lịnh thuyên chuyển trong tay, chưa kịp trình diện nhiệm sở thì Đà Lạt mất. Cả nhà lại di tản về Sài Gòn với hai bàn tay trắng. Tất cả sống trong căn nhà gần như bỏ hoang mà người cha đã mua trước kia.

Từ đó, cuộc sống của Lệ Khánh hoàn toàn bất định ở nhiều nơi khác nhau. Muốn gặp cũng khó.

Lệ Khánh bị tù

Sau đó được tin Lệ Khánh bị bắt bỏ tù, nằm trong số 200 nhà văn, nhà báo, bị ghép tội là “Những tên biệt kích cầm bút”.

Thành phần bị bắt giam gồm có: Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Sĩ Tế, Dương Nghiễm Mậu,  Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Khuất Duy Trác, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Ngọc Tư và Lý Thụy Ý… và Lệ Khánh.

Bị đi kinh tế mới

Ra tù. Vì không có hộ khẩu thường trú nên phải đi kinh tế mới. Nhìn chung quanh chỉ thấy rừng núi. Đêm đêm nghe tiếng gió hú. Ban ngày phải đi đốn tre, xẻ gỗ làm củi đem về Sài Gòn bán để tìm chén cơm, manh áo.

Từ giã vùng kinh tế mới, Lệ Khánh trở về Sài Gòn nhưng cuộc sống bất định, lang thang, rạc rày, lam lũ …

Có một lần bạn bè nhận ra Lệ Khánh bán những rổ chanh ớt, kim chỉ ở bến xe Chợ Lớn. Chị đội cái nón lá sâu, rộng vành, sụp xuống để tránh mặt người quen.

Trở về Đà Lạt

Cả gia đình trở về Đà Lạt. Lệ Khánh bán quần áo cũ. Bán ở chợ không có khách hàng, cho nên chị phải trèo đèo, leo núi, quảy cái túi quần áo cũ trên vai, đi vào những buôn Thượng xa xôi. Khi về đến nhà, tay chân rã rời. Mọi người yên giấc.

Kết luận

Người con gái Đà Lạt, xứ sương mù thơ mộng, đã để lại cho đời những vần thơ gây xao xuyến lòng người của một thời trong quá khứ. Nữ sĩ Lệ Khánh, một bút hiệu định mệnh, buồn nhiều hơn vui. Nước mắt nhiều hơn nụ cười.

Yêu thơ của nữ sĩ Lệ Khánh, quý trọng tài năng và trải lòng chia xẻ niềm đau bạc phận do sự đổi đời vĩ đại trong lịch sử Việt Nam.

Cám ơn nữ sĩ đã để lại cho đời những vần thơ hay, trong một đoạn đường của lịch sử thi ca Việt Nam.

Xin chúc sức khỏe và cầu mong vạn sự an lành cho nhà thơ quý mến Lệ Khánh.

Nhà thơ nữ LỆ KHÁNH

LỆ KHÁNH

 

Một đời gian truân Một đời bạc phận VIẾT VỀ LỆ KHÁNH –
Tùy bút : MH Hoài Linh Phương

Trong nhịp sống xứ người hối hả, tôi đã nhiều lần đuối sức, quỵ ngã khi chạy theo vòng xe xuôi ngược để làm lại từ đầu đời mình một lần nữa. Tôi không còn giờ khắc nào để suy nghĩ suốt bao nhiêu năm ở trường từ sáng đến tối mù. Và cuối tuần thì tất tả một công việc part-time cho đời cơm áo … .

Nhưng những buổi sáng sương mù co ro trong hơi lạnh đi đến lớp, nhìn hoa hồng rực rỡ trong vườn nhà ai, tôi bỗng nhớ Dalat đến thắt lòng, đến một nơi chốn thân quen, như một quê hương êm ấm để tìm về, ở đó … có những vạt hoa vàng trên đồi cao, lũng thấp, có những kỷ niệm một thời gắn bó, dấu yêu, và ở đó, còn một điều xé lòng để nhớ, Lệ Khánh, người chị văn nghệ đầy bất hạnh của tôi.

Tôi muốn ủ lại, giữ kín thật sâu nỗi niềm riêng của chị. Sự phơi bày, với tôi là một điều không chấp nhận. Tội nghiệp cho chị và cho cả những người thân của chị. Nhưng, trong nỗi bất lực riêng tôi trước hòan cảnh bi thương của chị, sự tiếp tay đầu tiên của Vũ Uyên Giang, trích từ quỹ tương trợ của Đất Sống khoản tiền nhuận bút của anh em trong ban biên tập tự nguyện đóng góp gửi về cho chị, sau khi nghe tôi cho biết, từ một người quen, chị lâm trọng bệnh giữa cơn túng quẩn, ngặt nghèo, rồi kế đến là Tạp chí Tiếng Vang, đã lên tiếng xẻ chia những giọt nước mắt mặn đắng của một người thơ Dalat ngày xưa, cho tôi bớt những ngần ngại, phân vân khi viết lên những lời kêu cứu tuyệt vọng của chị.

Tôi quen Lệ Khánh thật tình cờ. Thuở ấy tôi chưa đến 15 tuổi, mắt tròn xoe với hai bím tóc, còn ngậm ô mai, áo đầm trắng trường soeur, mang sandale như các nữ tu dòng Mến Thánh Giá, thường đăng thơ hàng ngày trên nhật báo Chính Luận, thì Lệ Khánh đã là một nhà thơ tên tuổi lúc bấy giờ, rất nhiều độc giả muốn làm quen, ái mộ. Chị làm việc ở Tòa Hành Chánh Dalat, mỗi năm thường về thăm quê ngoại ở Nha Trang. Ở đó chị có những người bạn văn nghệ học lớp Đệ Nhất C Võ Tánh, như Sao Trên Rừng, Sương Biên Thùy, Trăng Thệ Hải và … anh Duy – con nuôi của Ba Mẹ tôi.

Đến một ngày chị khám phá ra anh Duy, bạn chị, có một cô em làm thơ vớ vẩn là tôi – rất chân tình, chị mừng rỡ, viết cho tôi chung cùng trong lá thư gửi cho anh Duy, khuyến khích tôi hãy làm nhiều thơ hơn nữa, từ nay chị sẽ có thêm tôi, một cô em nhỏ (Lúc ấy, anh Duy đã vào Saigon học Văn Khoa và sống chung với gia đình tôi). Và chúng tôi liên lạc thư từ thường xuyên với nhau kể từ ngày đó …

Hầu như lần nào từ Dalat về Saigon chị cũng ghé thăm tôi. Hai chị em lăng quăng đi phố, ăn quà vặt và kể chuyện đất trời. Chị thường mặc áo dài đen ẩn hoa tuyn mỏng. Ở chị có một cái gì hút xa, sâu thẳm. Chị có một thân hình đẹp, nếu không nói là hấp dẫn. Tôi nhận ra chị rất mượt mà, có gì là “Em là gái trời bắt xấu” như chị thường than thở đâu, mặc dù cái mũi bị gãy gập lại. Hay là tại tôi thương chị nên nhìn khuôn mặt chị tôi không cảm thấy một điều gì bất ổn. Chị không đẹp, nhưng cũng đâu có nghĩa là xấu. Chị nói đi cạnh Phương, chắc người ta tưởng Phương là … con chị.

Tôi lúc lắc đầu. Trời ơi! Phương đâu có bé tí xíu đến vậy đâu – Phương không tin hả? Nhìn hình hai chị em chụp chung đây này. Giống y chang. Trong cái đầu ngây ngơ của tôi lúc ấy, chị cái gì cũng hay và giỏi. Kinh nghiệm, từng trải, từ chuyện thơ văn mơ mộng đến cả chuyện đời thường. Những lần vui đó, tiếng cười khua vang một góc phố, còn có Ngô Kim Thu, nhỏ bạn văn nghệ cũng tập tành viết văn, làm thơ con cóc như tôi. Thu cũng mê thơ Lệ Khánh, lên Dalat đi tìm chị, và chúng tôi trở thành ban tam ca Ba Con Chí Mén hăng say sáng tác tưng bừng gởi thơ đăng các báo.

Nhưng có phải, không ai có thể đứng lại hoài bên một dòng sông cũ. Năm tháng đã trôi. Nụ cười đã tắt. Tôi được tin Lệ Khánh về hẳn ở Saigon, thuyên chuyển về làm việc ở Tòa Hành Chánh tỉnh Gia Định. Chị liều lĩnh đắm mình trong một mối tình ngang trái. Chuyện một màu alpha đỏ xưa đã là quá khứ. Và cháu Vũ Khánh Thục ra đời. Chị không có ai là họ hàng thân thuộc ở Saigon. Mỗi ngày tôi vào thăm chị ở bảo sanh viện Đức Chính, mang cho chị những thứ cần thiết, ru cho cháu Thục ngủ … Người đàn ông của chị tôi chỉ gặp một lần (Thuở ấy, lúc mới quen chị, chúng tôi có đi ăn tối cùng với Đinh Hùng, Phổ Đức, Nguyễn Thị Vinh, Động Đình Hồ ở một quán nhỏ bên Gia Định, và càfé Thu Hương khi đêm đã vào khuya …). Và sau đó, gần như cách vài tuần tơi gặp chị một lần. Chị sống một mình với con trên một căn gác nhỏ lợp tôn thuê ở một con ngõ sâu đường Nguyễn Huệ, Gia Định. Căn gác nóng hầm hập vào mùa Hè đổ lửa. Chị bươn chải cô đơn trong cảnh đời phồn hoa xa lạ, xót xa nhìn con trẻ khóc, để thơ chị chỉ còn là những tiếng thở dài :

Bây giờ mẹ chỉ có con

Con thơ thơm sữa, mẹ mòn tuổi yêu.

(Lệ Khánh)

Tôi thương cảm sự nhẫn nhục của chị. Cơn mê đã tàn. Tình yêu đã tắt. Từ một cô con gái tiểu thư, con gái một Phó Ty Cảnh Sát Dalat, với nhà cao cửa rộng, chị đuổi theo một hạnh phúc mong manh, để bắt đầu một đời bạc phận, long đong …

Những ngày trước 75, chị đã có một chỗ ở khang trang hơn, trong một cư xá công chức mới xây gần Tòa Hành Chánh tỉnh Gia Định mà chính phủ cho nhân viên trả góp. Đó là chút vốn liếng đầu tiên của chị sau khi lập gia đình. Nhưng chị nói với tôi, chị muốn về lại Dalat để ở gần Ba Mẹ chị, cho cháu Thục còn có ông bà, và các dì, cậu. Đơn thuyên chuyển đã gửi đi, chị về lại Dalat, chưa kịp nhận nhiệm sở, thì Dalat mất. Chị lại cùng với gia đình di tản về lại Saigon, cùng với thời gian Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam rút quân.

Mọi dự tính, ước mơ tan như bọt sóng. Về Saigon với hai bàn tay trắng, căn nhà cũ đã được bán đi trước khi về Dalat, chị nương náu trong một căn nhà trống trước, trống sau, gần như bỏ hoang trước đó của Ba chị dành cho. Nỗi khổ của chị gần như cũng giống với nỗi đau của những người điêu linh trong di tản, trong cái họa mất nước của tháng tư đen. Tại nơi này, tôi đã gặp vài người đàn bà quen chị, thuộc giới áp-phe, cũng là phu nhân của các vị sĩ quan trước 75. Chị nói với tôi họ giúp chị buôn bán, làm ăn. Nhưng chỉ vài tuần sau đó, căn nhà của chị bị nhà nước quản lý, và chị phải ăn nhờ, ở tạm một nơi khác.

Từ đó, cuộc sống chị hoàn toàn bất định. Tôi chỉ gặp chị nếu chị xuất hiện ghé thăm tôi. Có việc gì cần tìm chị tôi không biết tìm ở đâu, vì chị nói mình đã ở nhờ nhà người ta mà còn tiếp bạn bè, ngại lắm. Rồi bẵng đi một dạo, tôi phải rời thành phố để đi dạy học ở một miền xa, tôi không còn biết tin tức gì về chị nữa.

Bỗng một lần tôi ghé về thăm nhà, Ngô Kim Thu cho biết, Lệ Khánh đang bị giam chung với một số văn nghệ sĩ can tội viết bài gửi đăng báo ở hải ngoại. Nhưng tội trạng của chị khác với mọi người, chị can tội hình sự, vì lường gạt tiền bạc theo đơn thưa. Tôi nghe trái tim mình nhói đau, quặn thắt.

Định mệnh nào nghiệt ngã đã đẩy đưa người thơ Dalat với giọng thơ trữ tình chan chứa, thành một tội phạm giữa cảnh đời đá nát, vàng phai.

Ngô Kim Thu nói, chị không dám liên lạc với chúng tôi, cũng không dám nhắn về chị đang gian nguy, khốn khổ vì tránh cho chúng tôi những hệ lụy.  Có một người đàn bà quen biết gia đình Thu được tha về, bị giam chung phòng với chị đã kể lại. Chị thật thà quá, chị không lường gạt ai hết, nhưng đã bị những tay áp-phe đầu nậu hất vào tù khi chuyện bể ra, bởi chị cùng chung băng nhóm. Tôi chợt nhớ đến những người đàn bà tôi đã gặp ở Gia Định một ngày nào, vừa sau khi mất nước, mà rất vui mừng chị kể tôi nghe chị phải đi theo họ để học chuyện bán buôn …

Chiều hôm đó đi với Thu qua những con phố xưa, Saigon đã thay tên, chúng tôi đi trong Saigon mà nhớ Saigon. Nhớ đến chảy nước mắt khoảng trời mênh mông cũ, Lệ Khánh tội tù, còn tôi ngày mai lại trở về với kênh đào, nước đục, với đám học trò nông thôn vừa đi học, vừa cấy lúa, nhà ở cách trường một con sông, mỗi lần đi học, lội bì bõm, quần áo sạch phải cất vào trong cặp, đến lớp, mới chuẩn bị mặc vào ….

Chúng tôi nén để không bật thành tiếng khóc bởi Ngô Kim Thu và tôi, hai đứa không biết phải giúp Lệ Khánh bằng cách nào, trong khi chúng tôi cũng mù mịt tương lai, tuổi trẻ chúng tôi chìm vào tối tăm không lối thoát.

Tôi vẫn tiếp tục cuộc đời cô giáo nhỏ, bị lưu đày ở một nơi nước mặn đồng chua vì mang lý lịch “Con gái Ngụy Quân”, vài tháng tạt về nhà đôi lần mang cho Mẹ miếng đường mía, mang cho em chút gạo trắng tiêu chuẩn dành dụm chắt chiu.

Một ngày cuối năm 1978, trong một lần về thăm Mẹ, Mẹ tôi cho biết chị Lệ Khánh vừa đến tìm tôi. Chị đang ở vùng kinh tế mới, gánh củi về để bán. Không gặp tôi, chị được Mẹ tôi giữ lại, nhưng chị không ở, ăn xong bữa cơm chị đi ngay. Mẹ tôi lắc đầu, tội nghiệp quá ! Chị đã thực sự bước vào đời lao động sau khi ra tù. Những ngón tay trần bây giờ không phải để làm thơ, để ca ngợi một màu áo chiến, mà phải đốn tre, xẻ gỗ để tìm miếng cơm, manh áo.

Tôi hỏi Mẹ tôi, rồi chị có nói bao giờ chị trở lại nữa không. Mẹ tôi lắc đầu, Mẹ có nói, con đã đi làm xa, lâu lâu mới về, nên Lệ Khánh không hẹn sẽ gặp lại. Bởi vì tôi và chị thân nhau, nên từ một thuở nào, chị hòa nhập như một thành viên trong gia đình. Ba Mẹ tôi thương chị. Các em tôi quý chị. Bất chợt chị đến, ăn ngủ và ra đi đó là chuyện thường. Nhà tôi, không ai thắc mắc. Có tôi, chị ở lại vài hôm. Vắng tôi, chị vẫn ân cần chuyện trò với những người thân tôi, như một đứa con xa lưu lạc.

Khi tôi quyết định bỏ việc, về lại Saigon, vì Mẹ tôi mỗi ngày một yếu, các em tôi còn nhỏ không đảm đang nổi trước sau. Ba tôi đã mất trong trại Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, cũng là lúc tôi gặp lại chị Lệ Khánh. Chị vẫn ở vùng kinh tế mới. Biết chị là một công chức chế độ cũ, nên người ta nhờ chị dạy Bổ Túc Văn Hóa cho dân trong vùng. Cuộc sống tương đối dễ thở hơn, nhưng chị nói không thế nào ở mãi nơi này, còn tương lai của cháu Thục. Nhìn quanh chỉ thấy rừng với núi, đêm đêm nghe tiếng gió hú, nhớ Dalat, nhớ Lâm Viên … Mãn hạn tù, không hộ khẩu thường trú, chị bắt buộc phải về đây, nhưng phải làm sao để thoát được cảnh đời này. Tôi thương chị. Tôi thương tôi. Tôi thương tất cả số phận hẩm hiu của những người con gái bạc phận trong thời chinh chiến vì khi hết chiến tranh rồi, nghe hòa bình còn mỉa mai, cay đắng nhiều hơn.

Tôi đã tìm được một việc làm mới khả dĩ, gần gia đình. Bỏ hết bằng cấp về với Saigon, chuyển xoay theo dòng đời xê dịch. Và chị Lệ Khánh cũng về lại với Saigon, sống lang thang bất định, rạc rày, lam lũ. Thỉnh thoảng chị ghé tôi, tôi làm cho chị những gì tôi có thể làm được, từ những ký gạo trắng đến miếng cá, miếng rau … Chị chỉ nói với tôi tạm buôn bán qua ngày, nhưng hụt vốn liên tiếp, nên kết quả, phải đi cầu cứu bạn bè … Với số lương hành chánh ba cọc, ba đồng tôi cũng không thể làm một điều gì lớn hơn cho chị. Nhưng khoản tiền chị cần, thông thường chị hay ghé Ngô Kim Thu. Vì gia đình Thu có một cơ sở đóng sách, bế hộp ở Tân Định, cuộc sống tương đối dư dã. Bố của Thu lại là một người làm ăn giỏi trên thương trường. Thời nào cũng vượt qua được những khó khăn. Nhìn lại trong đám bạn bè, Ngô Kim Thu có một tuổi thiếu nữ huy hoàng, dài lâu nhất. Bố Thu vẫn giữ được chiếc xe hơi đời mới để di chuyển công việc trong khi mọi gia đình khó có ai còn có chiếc xe gắn máy, chỉ có xe đạp đầy đường trong thời buổi “gạo châu củi quế” mà thôi! Nhưng đến Ngô Kim Thu hoài chị cũng ngại, có lúc chị đến hỏi mượn tiền tôi. Tôi diễu cợt cho quên buồn, Thu là “cây tiền” mà chị không hỏi nó, chị hỏi Phương, thôi chị chờ Phương nuôi heo đất cho lớn chờ chị. Chịu chưa?

Chị vẫn nói với tôi là chị đi buôn bán, nhưng chị không nói là chị buôn bán những gì. Mà tôi là người không có thói quen tị mị hỏi về những chi tiết mà người thân mình chưa muốn nói. Mãi đến một hôm, tình cờ gặp Trần Thị Kim Anh, một độc giả của tôi, cô nữ sinh Gia Long ngày xưa, sau này làm việc ở trường Trung học Sư Phạm, Kim Anh cho biết thấy chị Lệ Khánh bán những rổ chanh ớt, kim chỉ ở bến xe Chợ Lớn. Chị đội cái nón lá sâu, rộng vành, sụp xuống không ai nhìn rõ mặt, nhưng Kim Anh vẫn nhận ra. (Kim Anh biết chị Lệ Khánh vì có lần cùng đi với tôi đến thăm chị ở Tòa Hành Chánh Gia Định trước 75, khi chị mới dời từ Dalat về).

Với chị trong tôi vẫn là một nỗi thương cảm, ngậm ngùi, quay cuồng với cái ăn, cái mặc chắc chị bây giờ không còn nghĩ nữa đến niềm đau nhan sắc. Vận nước nổi trôi. Một cuộc đổi đời lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cái lằn gạch giữa có và không, giữa còn và mất chỉ là một đường chỉ mỏng. Chỉ còn lại chăng là tình nghĩa, là tấm lòng có còn giữ được cho nhau. Mệt mỏi, cô đơn, một thân lạc loài nuôi con thơ dại, chị quyết định về Dalat sống với gia đình. Căn nhà xinh xắn của Ba Mẹ chị ở 71 Duy Tân xưa bị nhà nước tiếp thu làm cơ quan, ban ơn mưa móc cho cả gia đình hơn mười người được tá túc trong cái garage để xe cũ kỹ chật hẹp của chính họ. Sau nhiều lần sửa chữa, chị có một chỗ riêng, một căn gác nhỏ, mà Ngô Kim Thu và tôi đã lên sống với chị những giờ khắc ở đó.

Khoảng trời Dalat lộng gió với thông ngàn, mượt mà hoa hồng và mimosa bị đọng lại trong cái góc tối đen, buồn bã. Chỉ nghe cái hiu hắt lạnh, cái se lòng trong tẫm đẫm hơi sương Dalat. Ngoài ra, một Dalat đã chết, như đời của chị tôi vẫn sống nhưng là một đời sống chết của một kiếp người cơ cực, lầm than … Ba chị ra khỏi tù, bệnh trở nặng. Mẹ chị co ro trong chiếc áo laine cũ ngồi trên lề đường Duy Tân bán từng điếu thuốc lá lẻ. Những đứa em trai sửa xe đạp trước hiên nhà, lặng thinh, câm nín, không buồn nhìn đến kẻ lại, người qua. Những đứa em gái nghề nghiệp bấp bênh, Hồng vừa bị cho nghỉ việc vì phong trào chống học ngoại ngữ, mà Hồng là cô giáo dạy Pháp văn. Trang chuẩn bị thành ma soeur, hiến dâng đời cho Thiên Chúa …

Nghe Thu và tôi lên thăm, Ba Má chị nhất định giữ lại ăn cơm. Từ chối thì hai bác buồn, mà nhìn thấy tận mắt cái cảnh đạm bạc của gia đình chị không thể không nát lòng. Bữa ăn được dọn ra với con cá nục được cắt làm đôi nấu mặn lại với muối, có một ít nước, theo kiểu người miền Trung và tô canh đọt mùng. Tôi và Thu không dám gắp thức ăn để chị em chị dành cá cho cha mẹ, chỉ ăn nước mà thôi …

Từ năm sau đó, gần như tôi đi Dalat hằng năm, nhưng tôi chỉ gặp mặt chị đôi lần. Thường tôi hay mang một ít thức ăn ở Saigon lên cho chị. Nhưng lần nào Bác cũng nói chị đi bán quần áo cũ tối mịt mới về, bán ở chợ không có khách hàng chị phải trèo đèo leo núi, quảy túi quần áo cũ trên vai vào những buôn thượng xa xôi. Nên khi chị về được đến nhà, tay chân rã rời, mọi người đã yên giấc. Tôi hẹn sẽ trở lại, chị vẫn bằn bặt. Tôi đi lang thang với Hồng, em gái chị ở café Tùng, ở phở Hiếu … rồi chia tay. Tuy nhiên, có dịp về Saigon là chị đến tôi có thể năm ba tháng một lần. Tôi gom hết quần áo cũ để dành cho chị. Hai chị em cơm nước xong, ghé Tân Định với Ngô Kim Thu, rồi về nhà tâm sự cho đến sáng.

Trước khi đến sở, tôi đưa chị đi ăn sáng, và lần nào tôi cũng gửi chị tiền xe về lại Dalat, dù chị không hỏi.

Ngày Vũ Khánh Thục thành hôn, chị cũng xuống gửi thiệp cưới cho tôi. Phương chia xẻ niềm vui với chị, Thục đã lớn khôn, nhưng không về Dalat để góp vui với chị được cho Phương gửi chút quà mừng. Chị cảm động ôm tôi. Chị không ngờ cái tình văn nghệ tưởng chỉ là văn nghệ vậy mà bền chặt đã mấy mươi năm …

Thường chị ít chịu kể về những thay đổi trong cuộc sống của chị. Nhưng tôi linh cảm chị không còn ở Dalat nữa, mà ở rất gần tôi. Tuy nhiên lần nào sau khi ghé thăm tôi, tôi cũng gửi chị một ít lệ phí trở về Dalat. Năm nào, những ngày gần Tết chị cũng đến tôi. Tôi cất dành sẵn cho chị những món ăn ngày Tết, như bánh mứt, lạp xưởng, để chị không phải mua sắm, và tủi thân buồn. Chừng như xúc động vì chân tình tôi dành cho chị, có lần chị lãng đãng nói:

– “Mấy lần Phương đi thăm chị ở Dalat, chị trốn, vì không có quần áo đẹp để đi phố với em. Những quần áo em cho, chị túng tiền về bán hết, không còn giữ lại bộ nào. Có lần nằm một mình trên gác, nhìn theo bóng em khuất xa, chị đã khóc lặng lẽ … Chị cũng không hiểu sao chị làm vậy.”

Cũng như có một lần, sau khi tôi đi Dalat về, những món quà Dalat cho gia đình còn đó, chưa được mở ra, chị tất bật tạt qua nhà tôi trong vội vã. Chị kẹt tiền mua bán và hỏi tôi. Rất thật thà, tôi trả lời, em hết tiền, vì vừa mới ở Dalat về. Chị nhận cho em một ít quà được không. Chị nhất định không cầm gì hết và quày quả bước đi … Sau này chị phản tỉnh, kể lại tôi nghe, lần ấy chị giận tôi lắm, và thề trong lòng không bao giờ gặp tôi nữa. Nhưng nghĩ lại, thấy mình vô lý quá, tôi vẫn đối với chị thật đầy, có lầm lỗi nào đâu? Nên chị lại đã không rời xa tôi được.

Lần cuối cùng tôi gặp chị, chị hớt hãi, ngơ ngác cho tôi biết không thể sống được, chỉ có nước tự tử vì bị úp hụi. Có định mệnh, số kiếp cay nghiệt nào vẫn còn theo đuổi một người thơ đến suốt cuộc đời. Tình yêu, nhan sắc, danh vọng, bạc tiền là một con số không to lớn phủ kín hồn chị. Người chị mong ước sống chết mãi mãi có nhau đã ra đi không bao giờ trở lại sau biến cố 75. Từ những tuyệt vọng, khốn cùng, thiếu niềm tin bám víu chị có ý định trở lại đạo, để được nguyện cầu dưới chân Thiên Chúa.

Tôi thấy mình nhỏ bé, bất lực. Nỗi khó khăn của chị là một đại dương, mà tôi chỉ là con ốc nhỏ. Sự giúp đỡ chỉ như muối bỏ biển, như gió vào nhà trống, tôi cúi đầu không biết phải làm sao …

Và dòng sông xưa đã về biển lớn, theo gia đình, tôi lìa bỏ quê hương, tìm về một vùng đất mới, bắt đầu kiếp người nổi trôi lưu lạc. Năm tháng đầu tiên xứ người, tôi dành dụm ít tiền kiếm được trong lúc vừa học, vừa cày gửi về cho chị. Vẫn không có hồi âm. Chị không còn ở Dalat nữa. Không biết chị đã trôi giạt về một phương nào. Tất cả đã ở ngoài tầm tay tôi. Tiếp đó tôi biết tin Mẹ chị từ trần, và Ba chị cũng đã nằm xuống năm ngoái trong khổ đau vì chị. Chị không thể đền đáp hiếu đễ cho mẹ cha từ buổi sinh tiền đến lúc mãn phần vì nợ nần vây kín. Bây giờ nghe tin chị đau nặng, không ngồi dậy được, và đã trở về mái nhà xưa vì không còn bôn ba được nữa, sao đất trời, số mệnh vẫn chưa chịu buông tha. Và nếu nợ nần của chị lên đến hàng trăm triệu do lãi mẹ đẻ lãi con, chị phải đi trốn nợ nên không thể thư từ liên lạc với tôi, thì cũng đành thôi, tôi chẳng bao giờ hờn và trách chị bởi bao giờ tôi cũng hiểu chị như ngày xưa những lần quá khổ chị đã khóc với tôi cho vơi nỗi xót xa …

Có lẽ bây giờ tiếng thơ chị đã nghẹn ngào tắt lịm nhưng những câu thơ xưa thì vẫn đẹp ngàn đời. Ngô Kim Thu đã viết về thơ chị: “Bài thơ hay như một bình rượu quý, một bức tranh đẹp chẳng hề ảnh hưởng bởi thời gian. Mỗi mùa xuân về, dù đang ở bất cứ nơi nào xa vạn dặm, đọc lại những vần thơ sau đây của người thơ Dalat, người đọc lại thấy mình như đang trở về những ngày xa xưa với những cô gái Dalat mắt quá đổi trong, môi quá chừng hồng, những mối mình màu hoa đào thuở đầu đời quá đẹp, mà trên bước đường đời đôi khi chẳng thể còn gặp lại …”

Sau những bộn bề nơi đất khách, một chút trầm tư, bên chén trà sen, kính mời quý vị cùng đọc lại với Phương và Ngô Kim Thu một bài thơ cũ sau đây của Lệ Khánh, để xẻ chia những thăng trầm, bạc phận của một người thơ xứ lạnh, và hy vọng những dòng tùy bút của Phương hôm nay không rơi vào lạc lõng của sự lãng quên.

CHIẾN Y LÀM ĐẸP PHỐ PHƯỜNG

Lệ Khánh

Trời hôm nay nắng buồn hong gió thổi

Chiến y về làm đẹp phố cao nguyên Em lặng nhìn, mang chua xót làm riêng Rưng rức nhớ … em gượng cười quên ca?

Chiến y đó nhưng chỉ toàn xa lạ

Em cúi đầu nước mắt nhẹ vương mi Áo cưới ngày nào … bạn cũ vu quy Nên áo chiến người yêu xa vắng phố

Vui hạnh phúc họ quên em gái nhỏ?

Hay dỗi hờn, hay khóc giận vu vơ Tình đơn phương cô bé sớm làm thơ Và khôn lớn khi tuổi đời chưa lớn

Trời hôm nay bướm buồn bay lởn vởn

Bướm đùa hoa, hoa cợt bướm … vui chưa? Em nghĩ mình, em thẹn với hồn thơ Thơ vẫn đẹp, sao hồn em chẳng đẹp

Áo muôn sắc giữa phố phường khép nép

Chiến y về làm hồng má hây hây Mắt đa tình gợn suối tóc bay bay Alpha đỏ, Ô đẹp màu môi con gái

Em kỷ niệm với mía đường tình ái

Nên độc hành tìm áo chiến ngày xưa Để đem về ướp trọn mấy vần thơ Thơ nhè nhẹ gửi người trai lính chiến

Đêm dừng quân có bao giờ anh biết

Có một người em gái nhỏ thương anh Luôn nguyện cầu đất nước thôi chiến tranh Ngày trở lại, có tình em đón đợi

Hôm nay gió, hoa anh đào phất phới

Có một người “thi sĩ nhỏ” cô đơn Gọi tên anh … một tiếng gọi rất buồn: “Người biên ải có thương người hậu tuyến?”

Trời Dalat hôm nay nhiều áo chiến

Áo chiến mùa đông pha màu đỏ alpha Em nhớ anh nên nước mắt em nhòa Song gạt vội : “Bụi đường bay ác quá!”

(Lệ Khánh)

MỘT CHÚT VỀ LỆ KHÁNH

Nhà thơ nữ Lệ Khánh, tên thật: Dương Thị Khánh, sinh năm 1944 tại tỉnh Thừa Thiên – Huế. Hiện đang sinh sống cùng con trai ở số 71 đường 3/2 thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.  Đ T : 063.3828534.

Là một người thơ nữ mang nặng tình thơ lẫn tình đời trong chuỗi “Một đời gian truân – Một đời bạc phận” như MH Hoài Linh Phương tâm sự ở trên.

Theo một bài viết của La Ngạc Thụy :

– “Vào những năm thập kỷ 60, trên diễn đàn văn nghệ xuất hiện một nhà thơ gây xôn xao dư luận, có thể nói là ngang tầm với hiện tượng TTKh, đó là nhà thơ Lệ Khánh tác giả của 5 tập thơ “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” do nhà xuất bản Khai Trí xuất bản liên tục trong 3 năm từ năm 1964 đến năm 1966.

“Chính tên tập thơ “Em là gái trời bắt xấu” đã gây chú ý hấp dẫn, từ đó độc giả đã “đua nhau” tìm đọc. Điều làm mọi người kinh ngạc là Lệ Khánh xuất bản thơ với tựa đề “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” nhưng thật ra Lệ Khánh lại là một cô gái Huế xinh đẹp từng làm nhiều chàng trai đất Quảng ngẩn ngơ chứ chẳng hề xấu chút nào, lúc xuất bản tập thơ đầu tiên Lệ Khánh vừa đúng 20 tuổi.

“… Một điều đáng chú ý khác là đời thơ của Lệ Khánh không dài, chỉ bắt đầu vào năm 1964 và kết thúc trước năm 1975; sau đó có sáng tác thêm gì cũng không còn cái chất thơ “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” như xưa nữa.

Chuyện tình của Lệ Khánh

Lệ Khánh sống ở Đà lạt thành phố sương mù, thành phố của tình yêu nhưng lại khổ vì tình, lụy vì tình. Nhưng nhờ éo le trong tình yêu mà Lệ Khánh đã có những vần thơ để đời …

Vì vào thập niên 60, báo chí thời đó phần nhiều theo chiều hướng “Tình thơ cho lính”, ngoại trừ một số rất ít là loại thơ hơi mới. Tiêu biểu phải kể đến Lệ Khánh nổi tiếng với tập thơ “Em là gái trời bắt xấu”, lúc đó có người yêu là nhạc sĩ Thục Vũ đang mang cấp bậc Đại Úy.

Thục Vũ tên thật là Vũ Văn Sâm, sinh năm 1932 tại làng Nam Lạng – Trực Ninh – Bắc Việt. Ông tốt nghiệp khóa 4 phụ Đà Lạt năm 1954, năm ký hiệp định đình chiến  Geneva. Vì thế, ông ở lại miền Nam Việt Nam bỏ lại phía bên kia người vợ chưa cưới. Năm 1955, người vợ chưa cưới của ông vào Nam và làm lễ cưới năm 1956.

Là một nghệ sĩ, Thục Vũ không thoát khỏi hệ lụy của chữ tình. Ông đã gặp và yêu Lệ Khánh, lúc nữ thi sĩ vừa tròn 20 tuổi, trong thời gian này ông đã phổ nhạc bài thơ “Vòng Tay Nào Cho Em”, làm xôn xao giới yêu nhạc, yêu thơ với mối tình của ông và Lệ Khánh. Hai người có một đứa con là Vũ Khánh Thục. Bà Thục Vũ biết nhưng không làm to chuyện mà còn đến thăm nom, chăm sóc cho ngày con Lệ Khánh ra đời … Sau đó, Thục Vũ lên Trung Tá ở Sư Đoàn 5 Bộ Binh thì miền Nam mất. Sau 1975, ông đi cải tạo và chết trong trại năm 1978, để lại cho bà vợ lớn 5 đứa con, và nhà thơ Lệ Khánh 1 đứa con.

Mối tình của cô gái làm thơ trời bắt xấu được nhiều người trong giới văn nghệ biết đến như là một mối tình đẹp ….

– Tác phẩm đã xuất bản: Em là gái trời bắt xấu (thơ tập 1, 2, 3, 4, 5) Khai Trí Sài Gòn xuất bản : 1964 1965-1966; Vòng tay nào cho em (thơ 1966); Nói với người yêu (thơ 1967).

Lê Hoàng Nguyễn
(tổng hợp)

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Nhớ nữ sĩ Lệ Khánh, "Em là gái trời bắt xấu" _ Lê Hoàng Nguyễn _ (Văn / Tạp ghi)