Việt Trang với Thơ ca và Địa phương chí Đà Lạt _ Trần Ngọc Trác _ (Văn / Tạp ghi)

  • PDF

VIỆT TRANG với

Thơ ca và Địa phương chí Đà Lạt

Ông là một người đặc biệt. Cả cuộc đời ông gắn bó, yêu mến Đà Lạt như chính quê cha đất tổ của mình Núi Ngự sông Hương. Ông là người chân chất, sống giản đơn giữa đời thường, nhưng sâu nặng tình cảm gia đình và dành nhiều thời gian cho thi ca. Nét nổi bật của ông là những bài thơ Đường Luật, thơ Lục Bát do ông sáng tác và một tập địa phương chí về Đà Lạt được ông biên soạn từ năm 1965. Đó là ông Phạm Gia Triếp (Theo gia đình, chữ Triếp trong tiếng Việt không có nghĩa, tiếng Hán có nghĩa là mái chèo). Ông theo đạo Phật nên có pháp danh là Tâm Trí và có bút danh là Việt Trang (Bút danh này là ghép tên hai người con đầu lòng Phạm Gia Việt và Phạm Thị Mai Trang).

Một ngày, tôi theo nhà thơ Duy Việt (Hoàng Chùm) – người bạn vong niên của ông - đến nhà số 12 Trần Nhật Duật, phường 5, thành phố Đà Lạt. Đó là căn nhà mà cả gia đình ông sinh sống hơn nửa thế kỷ qua. Chúng tôi gặp anh Phạm Gia Việt – con trai trưởng và bà Nguyễn Thị Huệ - vợ của ông Phạm Gia Triếp (Việt Trang). Bà Huệ sinh năm 1927 ở làng An Cựu, thành phố Huế.

Năm 1950, ông Phạm Gia Triếp một mình lên Đà Lạt. Về sau đưa thêm vợ và 2 con nhỏ cùng lên. Giai đoạn đầu, ông thất nghiệp, ở nhà trông nom các con để vợ buôn bán ở chợ Đà Lạt. Vợ ông một mình mở quán bán thịt heo. Mỗi ngày bà nhận từ hai đến ba con heo từ lò mổ mang đến để bán. Được một thời gian ngắn, thì bà cô ruột biết được, bảo: Dù con không giết heo để bán, nhưng vì yêu cầu của con, họ mag heo đến, như vậy là con cũng tiếp tay sát sinh. Oan nghiệt lắm con ơi!. Nghe vậy, bà quyết định bỏ nghề buôn bán thịt heo và chuyển sang làm bánh phở. Nghề này được các con ông bà tiếp tục kinh doanh cho đến bây giờ.

Khoảng 1 năm sau, ông xin được việc làm ở Ty Thông tin và được chính quyền lúc đó cho thuê căn nhà số 8 đường Trần Nhật Duật. Đây là căn nhà hoang của một gia đình xây xong rồi bỏ về Sài Gòn. Năm 1962, ông Phạm Gia Triếp được một người bạn ở bên Pháp nhờ trông coi ngôi nhà số 12 đường Trần Nhật Duật. Cũng từ căn nhà này, vợ ông một mình tần tảo cất lò làm bánh phở để nuôi sống gia đình. Tất cả 2 căn nhà đều không phải tài sản riêng của ông: Một nhà thuê của Nhà nước. Một quản lý giùm bạn.

Sau năm 1975, chính quyền mới buộc ông phải trả ngôi nhà số 8, cho dù gia đình ông bây giờ rất đông con cháu và có người đã lập gia đình riêng. Tất cả mọi người trong gia đình đều tập trung về ở ngôi nhà số 12 Trần Nhật Duật cho đến nay.

Ông Phạm Gia Triếp là một công chức mẫu mực. Suốt cả cuộc đời chưa biết tơ hào một đồng tiền công quỹ, chưa biết tham ô tham những là gì, chỉ biết làm việc và sống bình yên, không mưu toan lợi lộc, vì thế mà cả cuộc đời ông lúc nào cũng cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi, yêu đời. Một lần, ty thông tin có một kiosque nằm ngay ở đường đi vào chợ Đà Lạt, gần Nam Đô Ngân hàng, có người đề nghị ông tìm chỗ khác để trưng bày triển lãm, họ lấy chỗ đó buôn bán sẽ biếu ông 200.000 đồng. Đó là số tiền rất lớn, nhưng ông từ chối. Ông không biết tiêu tiền, lương bổng đều đem về đưa cho vợ quán xuyến gia đình. Ông chỉ dành một ít dằn túi khi gặp bạn bè.

Khi ông là công chức, vợ ông chỉ được phép làm nội trợ cho gia đình. Chính quyền đương thời cấm các bà vợ công chức ra mở hàng bán quán, kinh doanh cạnh tranh với dân thường. Quan điểm lúc đó, những người đã ăn lộc Nhà nước, giữ lấy phận sự và không được tham lam.

Ngồi trong căn phòng ấm cúng, trên tường là những bức hình chụp vợ chồng ông bà Việt Trang, bên cạnh là những bài thơ được viết dưới dạng thư pháp; tôi ngắm nhìn bà và thật sự bà quá đẹp lão. Có lẽ thời thiếu nữ bà đã làm cho bao chàng trai si mê như điếu đổ. Nét đẹp, quý phái và giọng Huế ngọt ngào của bà làm tôi thật sự ngỡ ngàng. Năm 2015, bà đã bước sang tuổi 89, da dẻ hồng hào, nói khẽ, nhẹ nhàng nhưng vẫn làm cho người nghe chú ý.

Bà kể giây phút cuối cùng trước khi ông Việt Trang ra đi vào cõi vĩnh hằng. Bà kể dạo này không hiểu sao chồng bà không rời bà nửa bước. Khi theo dõi các trận bóng đá World Cup, ông thường ngồi sát ti vi, vặn nhỏ âm thanh để không làm phiền giấc ngủ của bà. Khi ngủ, mỗi lần ông trở mình rên khẽ, bà lại xoa ngực, bóp tay cho ông.

Hôm đó, bà nghe ông ngáy, tuy nhỏ thôi, nhưng bà vẫn nhắc nhẹ. Vậy là không nghe tiếng ông ngáy nữa. Đến khi lay ông dậy, thì ông đã đi xa rồi, thanh thản, nhẹ nhàng.

Tôi rất vui và cảm động, khi được yêu cầu, chị Phạm Thị Mai Hương - con gái ông Phạm Gia Triếp đã gởi cho nhiều file tư liệu bài viết, hình ảnh mà chị đã chịu khó ghi chép, sưu tầm về người cha thân yêu của mình. Tư liệu hàng trăm trang đủ để in một cuốn sách đầy đặn. Đọc tư liệu, càng hiểu hơn về một con người làm thơ với một nhân cách lớn; một người cha mẫu mực, một người chồng thủy chung và một con người xã hội đầy lòng nhân ái, hiền lành khi sống với mọi người. Càng đọc tư liệu của chị gởi cho, tôi càng quý trọng sự chỉnh chu, lo toan và lưu trữ của chị với tài sản văn học của người cha thân yêu của mình. Những tản văn, ghi chép, những bài thơ, lời điếu của bạn bè thân hữu viếng ông trong ngày từ giã cõi trần… đều được chị chia thành file cho tiện tìm kiếm, theo dõi. Tôi có nhã ý muốn được chuyển tải một phần tư liệu vào bài viết để các thế hệ về sau hiểu ông hơn, nhưng chị Phạm Thị Mai Hương cho biết: Khi sinh thời ông (Phạm Gia Triếp) không thích nói về mình, không muốn ai ca ngợi mình. Các con cháu trong nhà có bài viết, hoặc những tùy bút viết về ông cũng chỉ lưu hành trong phạm vi gia đình và rất ngại phổ biến ra ngoài sợ hiểu sai lệch về ông. Ban đầu, tôi cũng lấy làm buồn, vì tư liệu thông tin về ông vô cùng quý giá. Nhưng tôn trọng ý kiến của gia đình ông Phạm Gia Triếp, tôi chỉ giới thiệu được một phần về cuộc đời của ông – một người làm thơ, lặng lẽ cống hiến cho đời những vần thơ đẹp.

Ông Phạm Gia Triếp sinh năm 1924, tuổi Giáp Tý tại làng An Cựu, Huế. Khi đương chức, ông Phạm Gia Triếp rất lưu ý đến việc ghi chép địa chí Đà Lạt. Với vốn kiến thức rộng, am hiểu và giỏi tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Anh cộng với sự cần mẫn, tỉ mỉ, ông Phạm Gia Triếp đã làm rõ một giai đoạn lịch sử của Đà Lạt, để sau này trở thành tư liệu quý khi viết về Địa chí Đà Lạt.

Ông chia “Địa phương chí Thị xã Đà Lạt” ra 8 chương. Chương I nói về lịch sử. Chương này ông đề cập đến 3 giả thuyết liên quan đến chữ Đà Lạt, như:

“ a/ Giả thuyết thứ nhất: Khi bác sĩ Yersin đến suối Cam Ly ngày nay gặp nhiều thổ dân đang tắm rửa, hỏi tên con suối ấy, họ đáp là DAK LAT. Dak là suối và Lát là một bộ lạc Thượng, và Dak Lat có nghĩa là suối của người Lat.

b/ Giả thuyết thứ nhì: Khi bác sĩ Yersin có ý định lập thành phố, có hỏi ý kiến một người Việt học thức rộng. Ông này đáp: “Giá cất đây một thành phố thì vui lắm, nào là sông, hồ, đồi, suối…” Vậy, dịch chữ “ vui lắm”, đặt tên cho thành phố ấy. Đó là chữ “Đa Lạc”. Đa là nhiều, lạc là vui, do đó, sau này được viết trại ra là Đà Lạt.

c/ Giả thuyết thứ ba: Bác sĩ Yersin vốn biết nhiều về La Tinh, nhận thấy Đà Lạt thích hợp với mọi người, Bác sĩ cho là nơi đây “giúp cho người này nguồn vui, kẻ khác một thời tiết tốt” (donner aux uns la joie, aux autres la température) rồi Bác sĩ dịch thành tiếng La Tinh “Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem”, đoạn lấy những chữ đầu ghép lại thành danh từ Đà Lạt ngày nay.

Trước kia, vùng Đà Lạt đặt dưới quyền cai trị của vị Tù trưởng tài ba tên là Yaguot, đã từng chiến đấu chống lại thực dân trong thời kỳ đô hộ.”

Trong chương này, ông Phạm Gia Triếp còn nhắc đến sự hình thành thị xã Đà Lạt năm 1946, và chặng đường trước đó, khi bác sĩ Yersin tìm ra Đà Lạt và đề xuất với các viên toàn quyền Pháp tại Đông Dương thời bấy giờ như Paul Doumer, Pierre Pasquier, Roume, Maurice Long, xây dựng thành phố Đà Lạt, và công tác này được thực hiện qua 4 giai đoạn, mà ông gọi là:

Giai đoạn khai sinh : Trước tiên, nguyên Toàn Quyền P. Doumer tán thành đề án của Bác sĩ và sau khi phái 2 đoàn thám hiểm vào năm 1897, 1898 do các ông Thouard, Cunhao và Guynot cầm đầu lên quan sát tại chỗ, liền cho xây dựng sở Khí Tượng và căn cứ thí nghiệm trồng trọt, đồng thời mở một con đường từ miền duyên hải Trung Việt lên vùng sơn cước.

Năm 1899, ông Paul Doumer tự mình đến viếng thăm tình hình Đà Lạt do ngã Phan Rang lên. Sau đó, dinh thự của viên Toàn Quyền Pháp, đồn lính bản xứ bắt đầu dựng lên. Một viên Đốc Lý thành phố được chỉ định để khuếch trương công tác mở rộng thành phố. Nhưng sau khi ông Paul Doumer về Pháp, chương trình xây dựng này bị đình chỉ hẳn.

Giai đoạn bừng tỉnh: Mãi vào cuối năm 1915, Toàn Quyền Roume thức tỉnh Đà Lạt khỏi cơn tê liệt hãi hùng và tiếp tục chương trình xây dựng của ông Paul Doumer. Nhờ thế, số nhà nghỉ mát tăng lên, vài ngôi dinh thự được tiếp tục kiến tạo như: Ty Bưu Chính, Ty Ngân Khố, khách sạn Palace…,và đến năm 1920, thành phố Đà Lạt có đầy đủ tiện nghi điện nước.

*Giai đoạn xây dựng: Năm 1923, Toàn Quyền M. Long giao phó kiến trúc sư Hebrard phác hoạ án đồ mở rộng thành phố nhằm mục tiêu tô điểm Đà Lạt thành một thủ đô “Liên Bang” và trung tâm thành phố quy tụ quanh Hồ Lớn Đà Lạt. Đồng thời, đến năm 1933, quốc lộ số 20 dài 300 cây số có thể đưa khách du lịch từ Saigon đến viếng thăm Đà Lạt trong vài giờ đồng hồ.

*Giai đoạn thịnh vương:Từ năm 1940, Đà Lạt mỗi ngày thêm phồn thịnh. Nhà cửa, công thự san sát, dân cư càng ngày càng tăng dần, khai khẩn những thửa đất hoang vu, lập thành thôn ấp. Năm 1932, dân số dược 1500 người. Mỗi năm, cứ thế tăng lên mãi và hiện nay (1965) vượt con số 60.000 người.”

Trong chương II : Phần nói về Địa dư. Ông cho biết:

Về địa lý: Diện tích Đà Lạt năm 1965 là 69,200 km vuông, được thiết lập trên vùng Cao Nguyên Đà Lạt nằm trong lòng lãnh thổ Tỉnh Tuyên Đức, khoản 11.57 độ thuộc vĩ độ Bắc và 108.28 độ thuộc kinh độ Đông.

Từ trên phi cơ nhìn xuống, Đà Lạt có một dãy đồi tốt tươi, tứ hướng giáp giới rừng xanh vô tận và cao từ 1 400 thước đến 1 707 thước so sánh với mặt bể. Những đỉnh núi cao nhất: Lap Be Sud (1.707 thước) Drey Knon (1 603 thước ) Hurla Vent (1 621 thước). Đất thường thường màu đỏ, có nhiều lớp đất sét do địa chất hoả diệm sơn tạo thành.

Giới hạn: Đà Lạt nằm trên cao nguyên miền Lâm Viên ở Bắc vĩ tuyến 11.57 độ và Đông kinh tuyến 108.28 độ..

Phía Bắc: một đường đi từ điểm tối đoản 1.424 qua điểm tối đoản 1.515; dọc theo phía tây bờ hồ Ankroet làm thành một đường gồ ghề, sát những cánh đồng Dankia, Dangia và Wang Da Kon liền với sông Da Dung. Con đường ranh giới ấy lại vượt qua cánh đồng Wang Da Kon từ Dangia đến trại Dankia rồi dọc theo phía Bắc đường Dankia – Đà Lạt đến điểm tựa cách điểm tối đoản 1.419 về phía Tây Bắc 240 thước, đoạn theo một con đường gồ ghề đi qua điểm tối đoản 1.501, 1.483, 1.507 và 1.500 để gặp con đường Dankia tại cây số 10.

Từ cây số 10, một con đường chạy qua điểm tối đoản 1.509, 1.544 tới con đường mòn “ Vòng Lâm Viên” đến khi gặp con đường mòn Dasar rồi đi thẳng đến điểm tối đoản 1.707 được gọi là “Lap Be Sud”.

Phía Đông: Một đường ranh giới đi từ điểm tối đoản 1.707 (Lap Be Sud) nối điểm tối đoản 1.570 gọi là Bnom – R’Me, rồi từ điểm này nối thẳng với ranh giới phía Tây Bắc của đồn điền Darrigade, bọc theo phía Tây Nam đồn điền trên   đến tận giới hạn Đông Nam của đồn điền Da Lachevrotiere nối điểm tối đoản 1.474.

Phía Nam : Một đường đi từ điểm tối đoản 1.474 đến một điểm toạ độ kinh vĩ tuyến: Kinh vĩ tuyến 117 G 8.804 Đông Ba Lê, Kinh vĩ tuyến 13 G 2.304 Bắc. Và điểm ấy nối liền phía Tây Nam phi trường Cam Ly

Phía Tây: một đường đi từ phí Tây Nam phi trường Cam Ly, dọc theo phía Tây rồi phía Bắc phi trường trên đến khi gặp ranh giới phía Tây của đồn điền Cam Ly, đoạn sát theo ranh giới phía Tây của đồn điền trên tận đầu Tây Bắc đồn điền Cam Ly và chấm dứt tại điểm tối đoản 1.424.

Về Sông ngòi: Đà Lạt có một con sông nhỏ Cam Ly phát nguyên từ đỉnh núi You Boggey chảy tù Bắc Nam xuống hồ Than Thở và đổ về sông Da Du. Ngoài ra Đà Lạt lại có những Hồ khác như : Hồ Lớn Đà Lạt, Hồ Mê Linh, (St-Benoit), Hồ Đa Thành, Hồ Bellevue, Hồ Ankroet…

Về Khí hậu: Đà Lạt quanh năm có khí hậu mát mẻ, thời tiết không thay đổi. Khí hậu trung bình trong năm 18 độ. Đặc biệt Đà Lạt có hai mùa: Mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 5. Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 11.

Về Thảo mộc: Đồi núi tươi đẹp gồm thông ba lá, hai lá và xa hơn có các loài cây như: sến, dẽ, liễu, bồ đào…

Chương III : Về Hành chánh. Ông Phạm Gia Triếp nêu cụ thể:

Về dân cư: Ông đề cập đến dân số Đà Lạt năm 1965 là 59.634 người, chuyên về canh nông và chăn nuôi (95,7 %), gồm các thành phần như: Đồng bào miền Trung miền Nam đến lập nghiệp từ lâu, đồng bào Bắc Việt định cư, Hoa Kỳ nhập tịch Việt Nam, một ít đồng bào Thượng và Ngoại kiều : Pháp Mỹ. Sắc thái tuy phức tạp nhưng không có mâu thuẩn sâu sắc về chính trị, tôn giáo, kinh tế v.v..Dân số trung tâm Thị xã chiếm 1/3 tổng số. Mật độ trung bình 600 người trên 1 cây số vuông.

Về cơ cấu bộ máy hành chánh: Là một đô thị tại cao nguyên Trung Phần, Đà Lạt đặt dưới quyền điều khiển của 1 Thị trưởng, chức vụ được ấn định do sắc lệnh 57– A ngày 24 – 10 – 1956. Hiện nay (1965), Đà Lạt được sáp nhập vào tỉnh Tuyên Đức thành một Thị Xã do Tỉnh trưởng Tuyên Đức kiêm nhiệm chức vụ Thị trưởng. Bên cạnh Chính quyền có Hội Đồng Thành Phố gồm 10 đại biểu chính thức và 4 đại biểu dự khuyết do các Hội Viên Hội Đồng Khu Phố chọn định. Hội Đồng Khu Phố lại do đồng bào địa phương bầu cử. Nhiệm kỳ của Hội Đồng thành phố cũng như của Hội Đồng Khu Phố là 2 năm. Hội Đồng Thành Phố trong các buổi hội nghị do ông Thị Trưởng chủ toạ, thảo luận các vấn đề hoặc diễn đạt những ý kiến, nguyện vọng của nhân dân liên hệ đến quyền lợi của thành phố.

Đà Lạt chia làm 10 Khu Phố. Mỗi Khu Phố có 1 Hội Đồng Dân Cử nhiệm kỳ 2 năm. Hội Đồng Dân Cử Khu Phố đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của ông Thị Trưởng, có nhiệm vụ quản trị về địa hạt Hành Chánh và các vấn đề thuộc địa phương.

Hội Đồng Dân Cử Khu Phố tuyển chọn giữa các vị hội viên, 1 chủ tịch, 1 thư ký, 1 thủ quỹ đảm trách thường trực công việc và gọi là Hội Đồng Hành Chánh Khu Phố.

Các Khu Phố chia thành nhiều Ấp Tân Sinh.

Khu phố I, có 9 ấp Tân sinh như An Hoà, Đa Hoà, Hồng Lạc, Chi Lăng, Tân Thành, Cô Giang, Võ Tánh, Đa Thuận, Ánh Sáng.

Khu phố II, có 8 ấp Tân sinh như Đa Trung, Đa Cát, Đa Thuận, Lạc Thành, Mỹ Thành, Nam Thiên, Vạn Thành, Du Sinh.

Khu phố III, có 5 ấp Tân sinh như Bạch Đằng, Nguyễn Siêu, Cao Bá Quát, Thánh Mẫu, Thống Nhất.

Khu phố IV, có 3 ấp Tân sinh như Đa Lợi, Tây Hồ,  Sào Nam.

Khu phố V, có 3 ấp Tân sinh như Phước Thành, Tùng Lâm, Cựu binh sĩ.

Khu phố VI, có 2 ấp Tân sinh như Trung An, Tây Thuận.

Khu phố VII, có 4 ấp Tân sinh như Xuân An, An Lạc, Du An, Saint Jean.

Khu phố VIII, có 2 ấp Tân sinh như Tân Thành, Tân Lạc.

Khu phố IX, có 3 ấp Tân sinh như Đa Thiện, Hà Đông, Nghệ Tĩnh.

Khu phố X, có 2 ấp Tân sinh như Tự Tạo, Đa Phước.

Sau ngày đảo chánh chính phủ Ngô Đình Diệm 01.11.1963, Các Ban Trị sự Ấp được nhân dân bầu cử theo phổ thông đầu phiếu nhiệm kỳ 2 năm, điều hành công tác trong ấp.

Về tài chánh: Thị xã Đà Lạt trên nguyên tắc có 2 nguồn: Ngân sách điều hành (Budget ordinaire) và Ngân sách đặc biệt (Budget extraordinaire). Ngân sách điều hành để duy trì hoạt động các cơ cấu công quyền địa hạt (Hành Chánh, Công Chánh, Y tế, Học Chánh, Vệ Sinh v.v… đặc trách các vấn đề thuần tuý tại thị xã nhằm mục tiêu : an ninh, trật tự, phát triển xã hội, kinh tế, cải mỹ thành phố). Ngân sách đặc biệt chỉ áp dụng trong những kế hoạch riêng, có thời hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư, khuếch trương kinh tế quy mô cho công ích địa phương (ít khi có ngân sách này trên thực tế). Ngân sách điều hành hay ngân sách đặc biệt đều bắt buộc phải có tài nguyên riêng. Việc sung dụng các tài nguyên này cho công phí đều do luật lệ tài chánh chung hiện hành quy định.”

Ông đã ghi chép rất cụ thể cẩn thận về cách cấu tạo nên ngân sách lúc bấy giờ, có 2 nguồn chính, đó là tài nguyên, các loại thuế, các hoa lợi khác, tiền phạt…và công phí chi cho hành chánh, an ninh, công ích xã hội, công ích kinh tế, chi phí chung…Bên cạnh đó, ông còn nêu rõ cách thức dự trù ngân sách, phê chuẩn ngân sách, phân bổ ngân sách, sử dụng ngân sách hằng năm và trách nhiệm trực tiếp của ông thị trưởng với tư cách là Chánh Chủ chi Ngân sách Thị Xã (Ordonnateur Prinoipal du Budget) trong việc thi hành Ngân sách này.

Đà Lạt tuy nằm trong Tỉnh Tuyên Đức, nhưng là một cơ cấu hành chánh tiên lập, đã và đang hoạt động theo một quy chế riêng, có ranh giới, có tài sản, có ngân sách biệt lập đối với Tỉnh Tuyên Đức, không như nhiều Thị xã khác mà tổ chức tài chánh lệ thuộc hoàn toàn vào tài chánh Tỉnh. Bởi đặc điểm này nên trong Cộng Đồng Quốc Gia, Thị Xã Đà Lạt hoạt động với đủ mọi quyền hành như một đơn vị Hành chánh địa phương tổ chức theo dụ số 57 – A ngày 24 . 10 . 1956.

Ngoài các Ty trực thuộc, Thị xã Đà Lạt có các cơ quan cấp Ty, Phòng hoạt động cho cả 2 đơn vị hành chánh Đà Lạt và tỉnh Tuyên Đức, như các ty: Bưu Điện, Cảnh Sát, Công Chánh, Điền Địa, Tiểu Học, Kiến thiết, Lao Động, Mục Súc, Ngân Khố, Ngư Nghiệp, Nông Tín, Nông Vụ, Quan Thuế,  Thanh Niên, Thông Tin, Thuế Vụ, Trước Bạ, Vệ Sinh, Vô Tuyến Điện, Y Tế, Hiến Binh, An Ninh Quân Đội.

Ngoài ty còn có các phòng, như: Du Lịch, Thống kê, Nghĩa Sĩ Đoàn và các Tỉnh Đoàn, như: Địa Phương Quân, Xã Hội ,Hạt Lâm Vụ và Tỉnh Cuộc Diệt Trừ Sốt Rét...

Ở Đà Lạt, còn có các cơ quan mang tầm hoạt động cấp vùng, khu vực và phạm vi quốc gia như: Trung tâm Thực nghiệm Lâm Sản, Khu Thuỷ Lâm, Đài Phát Thanh, Sở Hoả Xa, Trung tâm Nguyên Tử Lực Cuộc, Nha Địa Dư, Bệnh Viện Dân Sự, Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ (Bộ Thông Tin), Trung Tâm Huấn Luyện Địa Phương Quân, Trung Tâm Huấn Luyện Hiến Binh, Trường Đại Học Quân Sự, Trường Võ Bị Quốc Gia, Văn Khố Quóc Gia, Toà Án Hoà Giải Rộng Quyền, Viện Pasteur, Viện Đại Học Đà Lạt, Nha Thanh Tra Kinh Tế Cao nguyên Trung phần…

Những tổ chức văn hoá, đoàn thể, chính trị được chính thức hoạt động tại Đà Lạt, như: Phòng Đại Diện Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam, Hội Khổng Học Việt Nam, Hội Cựu Chiến Sĩ, Hội Việt Hoa thân hữu, Hội Hướng Đạo Việt Nam, Hội Phụ Huynh Học Sinh Cao Nguyên Trung Phần, Tỉnh Hội Phật Giáo Đà Lạt, Hội Thánh Tin Lành, Thánh Thất Cao Đài, Sở Họ Công Giáo Đà Lạt…

Trong chương IV: Tôn Giáo. Ông cho biết, người Đà Lạt rất mộ đạo. Thánh đường, tu viện, chùa chiền, tịnh xá, đền đài, thánh thất …được xây dựng trong khắp thành phố.

Về Công giáo (Thiên chúa giáo) thì có Thánh Đường St- Nicolas, Tu Viện Đa Minh, Nhà Giòng Chúa Cứu Thế, Tu Viện Lazarietes, Giáo Hoàng Chủng Viện, Domaine de Marie, Giòng Fransiscain, Giòng La Salle, Giòng Châu Sơn.

Về đạo Tin lành có Toà Thánh Tin Lành, Nhà Chung Hội Gia Tô Giáo Pháp, Nhà Thờ Cơ Đốc Phục Lâm Pháp.

Về Phật giáo có Chùa Linh Sơn, Chùa Linh Quang, Chùa Linh Phong, Chùa Viên Quang.

Về đạo Cao đài có Thánh Thất Đa Phước (Tây Ninh), Thánh Thất Đa Thành ( Bến Tre).

Với thị xã Đà Lạt, văn hóa giáo dục luôn được quan tâm đặc biệt.

Đến năm 1965, ở Đà Lạt, về trường công lập: có 2 trường trung học: Trần Hưng Đạo (23 lớp, 32 giáo sư, 1.250 nam học sinh) và Bùi Thị Xuân (21 lớp, 30 giáo sư, 990 nữ học sinh); 03 trường tiểu học: Tiểu Học Phổ Thông (13 trường, 116 lớp), Tiểu Học Cộng Đồng (02 trường, 22 lớp),Trường Nữ Công Gia Chánh ( 01 trường, 03 lớp); 04 trường sơ học với 11 lớp. Tổng cộng  (trường tiểu học và sơ học) là 20 trường, 152 lớp. Số giáo viên:148 người. Số học sinh: 7.998 em (trong đó nam sinh là 4.072 em).

Bên cạnh trường công lập, hệ thống trường tư thục cũng được xây dựng. Riêng bậc trung học có 8 trường, gồm: Việt Anh, Bồ Đề, Thăng Long, Trí Đức, Minh Đức, Vinh Sơn, Adran, Văn Học với số học sinh lên đến 5020 em. Bậc tiểu học có 8 trường với 65 lớp. Bậc sơ cấp có 09 trường với 26 lớp. Số giáo viên là 92 người và có 3919 học sinh.

Ở Đà Lạt có 1 trường chuyên nghiệp là Kỹ thuật La Salle, có 4 lớp, 13 giáo sư và 90 học sinh theo học. Đây là trường chuyên giảng dạy và thực hành các môn: gò, hàn, rèn, gỗ, điện.

Bên cạnh những trường đang dạy chương trình Pháp, không thuộc sự kiểm soát của Học vụ như: Grand et Petit Lycée Yersin, Couvent des Oiseaux, Domaine de Marie, Nasazareth, Franciscaines, Adam…

Ông Phạm Gia Triếp đã dành thời gian nghiên cứu về xã hội Đà Lạt, mà ông gọi là Chương VI. Chương này, ông nói rõ khu vực hoạt động và náo nhiệt nhất của thị xã lúc đó là Chợ Đà Lạt. Ngôi chợ gồm 2 tầng lầu, kiến trúc tân kỳ theo chương trình thiết kế đô thị với một ngân sách khoản 40 triệu đồng bạc, được xây dựng trên một thung lũng rất tiện lợi cho sự lưu thông, buôn bán. Năm 1965, Chợ Đà Lạt là một trong những ngôi chợ mới đẹp nhất ở Việt Nam và Đông Nam Á. Ngôi chợ cũ ( nay là Rạp chiếu bóng Hòa Bình hay Rạp 3 tháng 4 Đà Lạt - NV) được chỉnh trang biến thành một Hí viện chung quanh tô điểm những gian hàng xinh đẹp, phần đông trình bày những sản phẩm của địa phương.

Về y tế, Đà Lạt có 1 bệnh viện dân sự với những nhà hộ sinh, dưỡng bệnh, phòng giải phẩu có y cụ thuốc men đầy đủ cho bệnh nhân điều trị. Tại các khu phố xa đều có trạm cứu thương do cán bộ y tế hoặc ủy viên y tế Ấp Tân Sinh phụ trách. Người Đà Lạt có thể đến khám và điều trị ở 5 bệnh viện và phòng khám bệnh, 4 bảo sanh viện, 2 nha viện và mua thuốc ở 4 nhà bán thuốc Âu Dược và nhiều tiệm Đông y.

Năm 1936, Y Viện Pasteur được xây dựng trang bị những dụng cụ tối tân. Y Viện này đã đóng góp một phần lớn lao cho bệnh viện địa phương về việc phân chất và thí nghiệm dược phẩm.

Trong những năm qua (1955 -1965), nhiều cơ sở xã hội cộng đồng được xây dựng góp phần vào chương trình cải thiện đời sống nhất là cho giới lao động và bình dân, như: 2 khu xã hội được thiết lập gồm 2 ký nhi viện tiếp nhận hàng ngày trên 100 nhi đồng gia đình nghèo (Ký nhi viện Hồng Lạc và Nhị Trung); 1 quán cơm xã hội với giá rẻ tiền giúp đỡ rất nhiều cho học sinh, sinh viên và du khách; 1 lữ quán Thanh niên và Lao động trang bị gần 200 giường cá nhân, phòng đọc sách, phòng giải trí; 1 thao trường dành cho Thanh niên đến luyện tập về thể thao, thể dục không mất tiền.

Ở Đà Lạt còn có những tổ chức từ thiện, như: Phòng xã hội thành lập năm 1953, Hội Từ thiện Phật Học, Chi nhánh Hội Hồng Thập Tự Việt Nam, Hội Từ Thiện giúp đỡ những bệnh nhân phong hủi, Uỷ ban Xã Hội Đà Lạt và Tuyên Đức, Tỉnh Hội Phụ nữ Chí Nguyện Đà Lạt, Những tổ chức từ thiện Ấu Trĩ Viện của các Dòng Thiên Chúa Giáo…

Chương VI, ông Phạm Gia Triếp ghi là Chương Kinh tế. Lúc đó Đà Lạt có đến 10.944 hécta đất có thể khai thác, trong đó có 9.464 hécta đã đưa vào sử dụng. Nguồn lợi chính của thành phố là rau cải, hoa quả như: Sà – lát, Sú, Bắp cải, Sú- lơ, Cải thảo, Sà – lát cô ron, Cà – rốt, Cresson, Hành ta, Su – hào, Khoai – tây, Artichaut, Poireau v.v.. Mức sản xuất hàng năm khoảng 15 000 tấn, xuất bán trên 10 000 tấn. Đà Lạt có đến 90% dân số sống về nghề trồng rau.

Người làm vườn cần cù chịu khó, sản phẩm làm ra vẫn bị các chủ vựa và thương lái bắt chẹt, ép giá. Vì vậy, đến năm 1958 Hợp tác xã rau Đà Lạt được thành lập, quy tụ được 3 434 xã viên tham gia. Tổ chức và hoạt động của Hợp tác xã nhằm mục đích loại trừ trung gian bóc lột, đem lại sự giúp đỡ về hương dẫn chuyên môn cũng như về tiếp tế nông phẩm, nông cụ cho nhà vườn. Tuy nhiên hợp tác xã đã bị gian thương tìm cách lũng đoạn, nên dù chính quyền tận tâm giúp đỡ vẫn chưa đem lại kết quả mong muốn. Thêm vào đó, thủ tục vay tiền quá phiền toái, nhà vườn không đủ điều kiện, lại chưa ý thức được rõ rệt về bổn phận và quyền lợi xã viên trong Hợp tác xã, nên có xu hướng trở về lại với nếp sống cũ.

Nông dân Đà Lạt còn sản xuất nhiều loại hoa và được khách hàng ưa chuộng, như Hoa Hồng, Glaieul, Lis v.v.. và các loại Phong Lan, tìm kiếm trong các khu rừng lân cận Đà Lạt. Cây ăn trái, thì có: Mận, Hồng, Đào, Bơ, Dâu tây (Fraise)… cùng với việc kết hợp làm mứt mận và rượu dâu.

Về chăn nuôi, Đà Lạt có 4 trại chăn nuôi: Cam Ly, Datria, La Savoisienne và Touloux, chủ yếu là trâu, heo, gà vịt. Về khoáng sản, Đà Lạt chỉ có một vài hầm đá và đất sét trắng (Kaolin) dùng làm đồ gốm. Về Công nghiệp, kỹ nghệ,, Đà Lạt có: 8 xưởng cưa lớn hoạt động tại Đà Lạt và Tuyên Đức hằng năm sản xuất 9 400 m3 gỗ; 2 lò nhựa thông sản xuất 400 tấn;  3 máy nước đá và kem, 1 xưởng đồ sứ Thiên Nhiên (Trại Mát, Khu Phố X) sản lượng hằng năm 207 000 chén bát đủ loại. Ngành tiểu thủ công nghiệp, có: Dệt vải,  Đóng giày, Làm bún,  Làm đồ gỗ,  Kim hoàn v.v…Chủ nhân của các ngành nói trên, chủ yếu là người Việt, chỉ có 1/10 là Hoa Kiều.

Về giao thông, có các con đưởng bộ nối liền Đà Lạt với các tỉnh khác, như: Đà Lạt – Saigòn dài 305 cây số vượt qua Di – Linh và đèo Bảo Lộc, đường tráng nhựa; Đà Lạt – Phan – Rang (108 cây số) – Nha Trang (219 cây số) và Pleiku; Đà Lạt – Saigòn dài 375 cây số, qua Phan Thiết; Đà Lạt - Buôn Mê Thuột có 2 đường mòn xe hơi đi được. Đó là một con đường từ Liên Khương ngang qua Fyan và Lạc Thiện; một con đường khác từ Di Linh ngang qua Kinda và tiếp nối quốc lộ Saigòn – Buôn Ma Thuột tại Đà Lạt Trois Frontieres.

Đường xe lửa, Đà Lạt nối liền đường xe lửa Huế - Saigòn ngang qua Krongpha, Tháp Chàm (quãng đường Đà Lạt - Krongpha đường sắt có răng cưa và phải vượt đèo). Nhà ga Đà Lạt được hoàn thành từ năm 1936.

Về hàng không, thì từ năm 1961, sân bay Liên Khàng (nay là cảng hàng không Liên Khương - NV) đã trở thành sân bay quốc tế. Sân bay này cách Đà Lạt 30 cây số về phía Nam. Ngoài ra Đà Lạt còn có sân bay Cam Ly, cách Đà Lạt 3 cây số về phía Tây đã được sửa chữa và khai thác dùng cho các loại máy bay nhẹ và quân sự. Chính quyền sở tại cũng lưu ý đến việc tráng nhựa, rải đá cấp phối cho các con đường trong thành phố sạch đẹp và quang đãng.

Trong chương VIII ông Phạm Gia Triếp giới thiệu những thắng cảnh tiêu biểu của Đà Lạt như Thác Cam Ly, Suối Vàng, Hồ Than Thở, Hồ Mê Linh, Thác Prenn, Rừng Ái Ân...với những huyền thoại rất hấp dẫn.

Những thông tin mà ông Phạm Gia Triếp đã kỳ công sưu tầm, ghi chép cẩn thận về Đà Lạt mang tính chân thật cao và rất có ý nghĩa cho việc hoàn thiện Địa chí Đà Lạt về lâu dài.

Tôi bắt đầu biết đến Xóm Lò Gạch. Cứ tưởng địa danh này phải ở rất xa thành phố, tít tắp tận Langbiang. Nhưng thực sự bất ngờ: Lò Gạch nằm ngay đường Hoàng Diệu – Trần Nhật Duật, phường 5, thành phố Đà Lạt.

Tôi thích bài viết của chị Phạm Thị Mai Hương – con gái của ông Phạm Gia Triếp về xóm Lò Gạch. Chỉ có những người trong cuộc mới hiểu được ngõ ngách cũng như tình cảm của mình khi hoài niệm về những kỷ niệm của một thời không thể nào quên:

“… Được gọi là xóm Lò Gạch nhưng chẳng còn dấu tích nào của nơi làm ra gạch thời Pháp. Xóm nằm dọc một phần con suối lớn chảy từ hồ Xuân Hương đến thác Cam Ly - con thác duy nhất nằm trong thành phố. Phần nằm dọc theo con suối thường bị nước dâng lên, bồi thành vùng đất gọi là xóm Sình. Phía ngoài chạy dọc từ đầu đường Hoàng Diệu đến một buôn làng người K’ Ho. Buôn làng chiếm một ngọn đồi rộng bao quanh thác Cam Ly chạy dài từ cuối đường Hoàng Diệu đến chân lăng mộ Nguyễn Hữu Hào – thân phụ của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ vua Bảo Đại. Người Kinh ít khi bén mảng vào đây, họ gọi vùng đất đó là huyện Mọi. Bản chất người Thượng hiền lành chất phác. Mỗi sáng, từng đoàn người xếp thành hàng một, người nọ nối tiếp người kia theo thói quen đi trong rừng, họ ra chợ lớn trao đổi thức ăn. Đàn ông đóng khố hay mặc quần dài, cầm xà gạc. Đàn bà quấn sà rông địu con trên lưng, họ gùi hàng trong những chiếc sọt. Hàng hóa của họ thường là con gà ốm nhom, chân dài lêu khêu; con heo mọi đen ngòm, nhỏ như chiếc bình tích, thịt ăn ngon, ít mỡ; những trái dưa gang to đùng, nhiều nước mà không thơm, những bó ngo đầy nhựa thông tươi… Chiều đến họ trở về với gùi gạo, cá khô, mắm muối…

…Đi hết con đường Yaguot thì đến cửa bệnh viện của thành phố, còn gọi là nhà thương thí, nơi chữa miễn phí cho người dân ( Nay là Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng - NV). Ngoài bác sĩ chuyên trị, bệnh nhân còn được sự chăm sóc tận tình của các bà Phước của nhà thờ Domain De Marie gần đó.

Đầu đường Trần Nhật Duật giáp ranh với đường Hoàng Diệu có một ngôi chợ xỏm. Chợ nằm hai bên lề đường kéo dài hơn chục mét và chỉ họp vào buổi chiều nên có tên ”Chợ Chiều”, cái tên chết cứng dẫu sau này có họp thêm vào buổi sáng và đặt tên chính thức : Chợ Mỹ Thành . Người ta bày thịt cá, rau dưa, trái cây… trên chiếc sạp cố định, gồm vài miếng ván thông ghép lại, bốn thân cây cong queo chống đỡ một miếng tôn rách. Đa phần là người quảy gánh từ nơi khác đến bán rong. Người buôn kẻ bán ngồi chồm hổm quanh cái mẹt hay quang gánh. Đôi khi có người chết tên cùng loại mặt hàng mình bán như chị Cấu bán lòng, bà Năm trái cây….

…Xóm Lò Gạch có một ngôi đình thờ Thần Hoàng. Ngôi đình không lớn, kiến trúc đơn giản , gồm một nơi thờ tự rộng có tượng, bài vị. Vòm mái đình cong, phía trước có sân rộng nơi hội tụ dân đến lễ và  một bức tường hoa vẽ hình con cọp oai vệ trấn áp ma quỷ. Vào dịp đầu năm hoặc ngày tế lễ. các vị lớn tuổi mặc áo dài khăn đóng lớn tiếng đọc bài sớ cộng trống chiêng rền vang khiến buổi lễ thêm trang trọng. Bên cạnh đình có một gian nhà gỗ nhỏ làm lớp học vỡ lòng cho con em cư dân Lò Gạch… Sau khi trường Trần Bình Trọng được xây thì tất cả học sinh được dời lên đó. Trong xóm còn có một ngôi trường tư thục của bà giáo Mười chuyên dành cho trẻ con tiểu học, bà giáo hiền lành, có tài làm bánh. Hai người con dạy phụ với mẹ là thầy Tuấn và cô Liễu.

Trên đồi cao chếch lên một chút có một khuôn hội Phật Giáo dành cho người mộ đạo. Mặc dù có thờ Thần Hoàng, có chùa nhưng ở Lò Gạch người ta vẫn sợ ma nhất là vào đêm tối khi đi ngang qua cây mít ở nhà bảy gian đối diện gần trường Văn Học, cái am trước nhà bà Chef Mi, cái máy nước công cộng ngay đầu đường Trần Nhật Duật hay cái mùi thơm yêu quái của cây hoa dạ lý hương làm hàng rào chung quanh nhà bà Đán trên đường Yaguot. Câu chuyện con quỷ một giò, con ma bàn ủi…  đem ra kể ban đêm khiến chúng tôi nhiều phen khiếp sợ.

Căn nhà của ông Võ Đình Dung cất đầu đường Hoàng Diệu. Ông là một con người tài giỏi, có đầu óc kinh doanh nhà cửa và nổi tiếng có tấm lòng đức độ. Ông xây hàng trăm căn nhà khắp nơi trong thành phố cho giới thợ thuyền thuê với giá không cao. Ông cũng là một Phật tử thuận thành, bỏ tiền của xây cất nhiều chùa trong và ngoài thành phố.

Căn nhà gỗ của bà Su làm nghề y ở cạnh đó, nhà xây của ông Viên Cò ở đối điện. Đi thêm chút nữa đến nhà bà Cửu Bé, nằm bên cạnh là nhà bà Xã Láo, ông mất sớm để lại bà vợ hiền lành, chất phác nói năng như đinh đóng cột bị mắc quai tên Láo do chồng để lại.

Cùng dãy nhà với bà Su có nhà ông thầu khoán Tôn Thất Sanh. Bà Tôn Sanh là người hoàng tộc đẹp, quý phái. Mặc dù giàu có, thương vợ nhưng ông vẫn quen phát tiền chợ cho vợ hàng ngày. Về già, ông còn mắc thêm chứng sợ ăn trộm. Ông rào xung quanh ngôi nhà mình bằng ba lần kẽm gai, đêm thức giấc đi tuần sợ trộm lấy cắp dây kẽm gai. Mạ tôi rất thích xuống nhà bà Tôn Sanh để đánh bài tứ sắc.

Căn nhà mặt tiền của ông Hai Đưa gồm ba dãy ngang và khoảng đất rộng đến lò sát sinh, người dân hay gọi A Ba Toa ( Abatoir) nuôi đàn bò đến hàng trăm con.

Nổi tiếng thời đó có quán ăn Ba Cao. Món thỏ sốt vang, gà đút lò của ông chủ nổi tiếng thu hút khách người Pháp. Nhà hàng xây theo kiến trúc Pháp hình vuông có cửa chớp chung quanh, phía trên gác gỗ , mái đóng nhọn thành khối chóp. Sau căn nhà bếp rộng đến chiếc sân có dãy chuồng thỏ , gà .. mỗi chiều ông thường  mở cửa vườn sau để cho những con gà tây ăn thêm ngọn cỏ non. Vài con ngỗng to vươn cổ dài kêu quang quác chực cắn những đứa trẻ đi ngang qua. Mấy con gà mái hoa mơ dẫn con bới đất dưới cây ổi bom, trái to và ngon.

Trong xóm có hai tiệm tạp hóa nhỏ, một của ông Vạn Hương, con ông là thầy giáo Thịnh dạy toán rất nổi tiếng. Tiệm chạp phô của bà xẩm ở bên kia đường, cạnh máy nước công cộng.

Nhà ông trưởng ấp Năm Ân nằm cuối xóm. Ông có khuôn mặt hồng hào, phúc hậu. Vợ của ông là một bà mụ mát tay. Mạ tôi sinh Lâm - em trai tôi, không kịp lên nhà thương, mời bà đến, bà đỡ mau mắn mặc dù em tôi nằm ngược thai. Người lớn trúng gió hay trẻ em bị sài đẹn, phong bạch điếng…. chỉ cần vài mảnh mẻ chai nhọn sát trùng bằng lửa hay dầu Nhị Thiên Đường, bà cắt vào các huyệt đạo trong người, nặn máu.. chỉ vậy mà bà cứu sống không biết bao nhiêu người. Chị Lê, người bạn chí cốt của chị Trang tôi là con gái áp út của họ có làn da trắng như gà bóc và đôi mắt to đẹp…

Ngoài các vị có tiếng làm nhà ở mặt đường như ông Tôn Cao, Bác Hai Dĩ… Xóm Lò Gạch sinh động thêm nhờ những người thợ, người lao động, người buôn bán như ông Thắng bán phở, ông sáu Hố, bà Sẹo… chả hiểu sao lại có người có tên: bà Bảy Cứt.

Mỗi sáng mạ tôi cùng bà Sắc, vợ ông chef ga, chịu sự giá lạnh của khí hậu, cái rờn rờn khi đi qua cây mít đến chợ lớn bán thịt heo. Người bán hàng ở Đà Lạt mặc áo dài, đội nón lá dù gánh hàng rong. Dân lao đông như thợ mộc, thợ hồ phải đến chỗ làm sớm, khi về phải đi tắt những con đường mòn, nếu bị phú lít bắt sẽ bị phạt...”

Qua bài viết của chị Phạm Mai Hương, người đọc có thể hình dung rõ Xóm Lò Gạch một thời thật sống động và đầy tình nghĩa như thế nào.

Quê quán của nhà thơ Việt Trang (Phạm Gia Triếp) ở làng Vĩnh Xương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đó là một miền quê nghèo nên ông nội của ông đã phải rời làng đi làm ăn xa. Sau một thời gian, trở về quê cũ, ông bà nội của ông đã sinh ra cha ông và một người con gái – thường gọi là bà Thị. Thân phụ của ông Việt Trang là một giáo làng, giỏi địa lý, có 3 người con gái và 4 người con trai. Tuy đông con, lương bổng khiêm tốn nhưng được các con của ông lại chịu khó học hành.

Bà Thị lớn lên ngày càng xinh đẹp. Tuy con nhà nghèo nhưng phong cách khoan thai, dung mạo trang nghiêm. Năm 14 tuổi, bà Thị theo người chị họ làm cung nữ trong cung Nhà Nguyễn vào Đại Nội hầu vua Thành Thái. Nhờ vậy mà bà học được cách ăn nếp ở trong cung đình. Khi vua Thành Thái bị lưu đày, bà Thị trở về nhà và lọt vào mắt xanh của một người đàn ông ở phố, nhưng cả cuộc đời bà không có con. Thương anh trai, bà Thị lấy số tiền dành dụm lâu nay trong cung mua một lô đất khá rộng ở làng An Cựu, góp thêm tiền để anh trai cất một ngôi nhà 2 gian 3 chái nằm bên dòng sông An Cựu nắng đục, mưa trong. Mảnh đất này bao phủ bởi một hàng tre rợp bóng thơ mộng. Ở nơi đây, cha mẹ của ông Phạm Gia Triếp đã sinh ra được 07 người con ( 04 trai, 03 gái), lần lượt như sau: Chị gái đầu là Phạm Thị Thương, ông Phạm Gia Triếp (Nhà thơ Việt Trang), ông Phạm Gia Tùng, ông Phạm Gia Ngô, bà Phạm Thị Lang, ông Phạm Gia Đồng và bà Phạm Thị Tiếu Lan.

Bà Thương mất sớm. Ông Tùng mất khi đang ở nhiệm sở. Hiện nay chỉ còn ông Ngô ở huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam và cô em gái út của ông là Phạm Thị Tiếu Lam còn sống ở Mỹ. Các em của ông đều đã trên 80 tuổi.

Nét đẹp thanh tao, má lúm đồng tiền của cô hàng xén đã làm điên đảo bao chàng trai xứ Huế. Một ngày có anh học trò vô danh nào đó đi ngang qua, không dám ghé lại, tối đến lén để lại bài thơ trên sạp của cô Huệ. Bài thơ có những câu:


Đến bến đò ngang dạ thấy buồn,

Nhìn dòng Hương chảy giữa trời thương.

Mêng mông một dãy bờ vô tận,

Bóng chiếc thuyền qua dạ vấn vương.

Tôi đã hàng ngày bước đến đây,

Phận hèn không dám ngắm trời mây.

Đò qua một chuyến tơ duyên bén,

Của khách sang thuyền dạ tỉnh say.

Thuyền ơi có hiểu nỗi ta không?

Sao mãi nhìn ta vẻ lạnh lùng.

Thổn thức đáy lòng song chẳng hé,

Lòng thơ đón bớt nỗi tình không”


Đêm nhớ ngày mong, anh học trò biết cô hàng xén đã có người thương, lòng đau đớn vô cùng, để rồi có thêm bài thơ:


Đã mấy lâu rồi tôi mải trông,

Lòng buồn lai láng lệ mênh mông.

Thuyền ơi! Trên nước Hương Giang chảy

Có biết lòng ta tê tái không?

Cố muốn quên đi những muộn sầu,

Tơ lòng dẹp bớt nỗi tê đau.

Than ôi! Đang sống trong tình ái

Một vết thương lòng rỉ quá sâu.


Chàng thanh niên được cô hàng xén đem lòng yêu thương không phải chàng học trò kia, mà lại là ông Phạm Gia Triếp và cuối cùng, đôi trai tài gái sắc đã nên chồng vợ, chung thủy cho đến tận ngày “đầu bạc răng long”.

Tình yêu đó được ông Phạm Gia Triếp gửi gắm, qua 2 bài thơ viết tặng cô hàng xén:

Sao không hò hẹn lại thăm em,

Hoa nắng chiều xuân rụng trước thềm.

Đợi ngẩn ngơ hoài song cửa khép,

Bồi hồi chưa thấy dáng kiều liên.

……..

Ngày đó em còn tuổi mộng mơ,

Nâng niu lòng mẹ mới lên ba.

Từng mùa xuân tới hoa xuân nở,

Hương phấn thêm hồng áo tiểu thơ.

Một bài thơ đã gắn chặt đời hai người với nhau.

Tuổi mười sáu em bán hàng bên chợ,

Anh thư sinh hơn thầy khoá thôn trong.

Nhà gần giữ lâu lâu cùng gặp gỡ,

Hẹn hò nhau mai thành vợ thành chồng.


Yêu ông Phạm Gia Triếp như thế, nhưng bà vẫn có lúc ghen tuông với Nàng Thơ của ông. Đó cũng là lẽ thường tình.

Ông Phạm Gia Triếp tính tình hiền lành, dung dị nên được nhiều người mến mộ về tài năng lẫn đạo đức. Trời phú cho ông tài làm thơ. Ông có năng khiếu làm thơ với nhiều ngôn ngữ, như tiếng Việt, Hán, Pháp và tiếng Anh. Về thơ Đường, ông là người có kiến thức rộng trong cách dùng từ và giữ đúng niêm luật. Vì thế, mà ông có nhiều người bạn yêu thơ khắp nơi gửi thư, thơ họa và mong được kết bạn tri âm. Ông và các bạn thơ trong “Nhóm Thi tập Trà Sơn” vẫn thường cùng nhau ngâm vịnh, xướng họa với đầy đủ tiếng sáo, tiếng đàn… Vợ ông là một phụ nữ đoan trang, nết na của cô gái Huế, biết ông chung thủy nhưng vẫn cảnh giác.

Có giai thoại: Một hôm, từ cơ quan về, ông Phạm Gia Triếp mang theo 1 chiếc thùng carton đựng đầy giấy tờ và để trên đầu tủ riêng của mình. Vợ ông - với sự nhanh nhạy và cảm nhận của người phụ nữ sâu sắc, bà nghĩ có điều gì đó ông muốn giấu giếm bà. Một buổi trưa, chờ ông đi làm, bà sai cậu con trai thứ 10 trèo lên lấy chiếc thùng carton xuống. Bà lục trong đám giấy tờ tìm ra những lá thư viết mực tím, chữ tròn, nội dung ướt át vừa trao đổi về cách làm thơ nhưng cũng lồng tình cảm riêng tư. Sau đó, bà sai con đem chiếc thùng lên trả lại chỗ cũ.

Buổi tối, ông có thói quen đọc sách trước khi đi ngủ. Bà đặt một lá thư vào giữa trang ông đang đọc dở và giả vờ ngủ lắng nghe. Như bị điện giật, ông húng hắng ho. Ông ngồi dậy lấy thùng giấy xuống kiểm tra nhưng chưa phát hiện điều gì lạ. Ông suy nghĩ đến mất ngủ thì hôm sau cũng lại lá thư màu tím, chữ tròn khác xuất hiện. Cuối cùng, ông phải giải thích mãi, đó chỉ là những người bạn thơ và đem tất cả ra đốt, từ đó vợ ông mới chịu từ bỏ những lá thư kia. Rút kinh nghiệm, lần sau, những lá thư màu tím được gởi qua nhà ông Trác, bạn thân của ông trước khi chuyển lại cho ông. Nhưng cuối cùng, vợ ông cũng không còn muốn ghen với Nàng Thơ của ông nữa.

Bà Nguyễn Thị Huệ đã sinh cho ông Phạm Gia Triếp đến 12 người con (08 trai, 04 gái), gồm: Phạm Gia Việt,  Phạm Thị Mai Trang, Phạm Gia Hoàng, Phạm Thị Mai Hương, Phạm Gia Lạc, Phạm Gia Lâm, Phạm Gia Quyền, Phạm Thị Mai Chi, Phạm Gia Cẩn, Phạm Gia Sâm, Phạm Thị Mai Phương và Phạm Gia Hoành. Hiện nay có 02 người con của ông đang ở Mỹ, 01 người ở Sài Gòn và 09 người con còn lại đều lập nghiệp tại Đà Lạt.

Gia đình ông Phạm Gia Triếp (Việt Trang) vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của Đà Lạt ngày xưa. Bà Nguyễn Thị Huệ - vợ ông rất giỏi đan móc áo bằng len.

Từ nhỏ, bà Huệ đã theo mẹ buôn bán và tranh thủ đến nhà các bà đầm học đan may. Bà rất thông minh, nhanh nhẹn, không chịu đầu hàng trước những khó khăn. Kiểu áo nào khó đến mấy, bà cũng làm cho kỳ được. Khi ở Đà Lạt, cứ mỗi giữa năm, bà lại cặm cụi đan áo cho các con. Đến cuối năm thì có đủ 12 chiếc áo len. Bức ảnh đầu năm được chụp thường là 12 người con trong “đồng phục” áo len. Bà là người con của Huế nên giỏi giang trong việc bếp núc, làm bánh trái. Mứt gừng, mứt bí đao, mứt dừa, mứt carotte, bánh in làm bằng đậu xanh hoặc đậu trắng, làm bánh tét, bánh chưng, bánh ú…

Cứ hình dung đến các loại mứt bánh này, tôi lại nhớ chuyện ngày xưa mình còn thơ bé ở Huế. Tôi cũng từng được ngồi bên các mạ, các dì, chú thím lau vuốt từng ngọn lá dong, lá chuối gói bánh chưng, bánh tét; đổ bột vào khuôn làm bánh in bằng đồng, gói bánh ú, bánh ít đen… Những khi chờ bánh chưng, bánh tét chín, thay nước, chúng tôi lại quây quần bên nhau chơi bài Tới để giải khuây. Những hình ảnh ngày nào cứ gợn lên, trào dâng trong ký ức của mình.

Với bút danh Việt Trang, ông Phạm Gia Triếp là người làm thơ Đường Luật ở Đà Lạt được nhiều người biết đến. Ông thành lập “ Nhóm Thi tập Trà Sơn” để cùng nhau xướng họa với bạn bè, những người yêu thơ. Ông có nhiều bạn bè là văn nghệ sĩ thành danh, như Võ Phiến, Quách Tấn, Thanh Tuyền, Song Nguyên, Võ Quê, Tô Kiều Ngân, Phan Ngọc Thường Đoan...

Vốn là người theo Đạo Phật, chủ trương sống trung đạo, không quá khích với bất kỳ việc gì vì vậy mà trong thơ văn của ông Phạm Gia Triếp cũng ảnh hưởng ít nhiều. Đọc thơ của ông, không có từ nào diễn tả cái ác. Thời gian ông dành cho thơ ca nhiều nhất là từ năm 1980 đến năm 2000. Đây là giai đoạn ông thường thả thơ, họa thơ cùng các thi hữu từ Bắc vô Nam. Ông chưa bao giờ gởi bài đăng báo để nhận nhuận bút, nhưng ông vẫn có nhiều báo, tạp chí đăng thơ của ông, là do bạn bè chuyển gởi. Trong tủ sách gia đình, ông vẫn còn lưu trữ nhiều bài thơ, tập thơ bạn bè gởi tặng ông. Thậm chí, có người nhờ ông dạy cho họ làm thơ.

Chỉ đến khi đọc thơ của ông Phạm Gia Triếp, mới biết ông có nhiều bài thơ hay. Ông làm thơ không phải để tự khoe mình là nhà thơ, mà ông rút ruột nhả tơ cho đời bằng chính những năm tháng của chính cuộc đời ông. Ông quan sát, chiêm nghiệm và cảm nhận để cho ra đời những câu thơ lung linh đậm chất triết lý về lẽ sống của cuộc đời.

Khi nghĩ về quyền uy, danh lợi là hư ảo, ông có những câu thơ: “Bon chen chi mệt vòng danh lợi / Thanh thoát non cao ngọn gió vèo”, “ Khanh tướng công hầu hư huyễn cả / Nỗi đời xuôi ngược khó tìm nhau”, “ Bạc tiền nhẹ hẩng như tờ giấy / Danh lợi nhăn nheo tựa vải gòn”, “ Mê theo tiền bạc cơn mê hão / Mộng đuổi công danh giấc mộng hời”, “  Nhìn bóng mây bay nhòa ảo mộng / Nghe làn gió quyện xóa hư vinh”…

Hay những lúc nhận ra chân giá trị của đạo Phật “Vinh hoa sương khói bay nườm nượp / Huyễn mộng tan rồi rượu cạn theo”

Ông có những câu thơ gợi mở: “Tìm đâu áo lụa trong thành nội / Cọng khói rong chơi lững tháng ngày”, “Tóc ai phơi trắng bên hè phố / Cứ ngỡ tơ trời đọng khói sương”, “Áo cơm sớm nhuộm làn tơ tóc / Sương khói đâu nhòa bóng dáng xuân”, “Đây không gió bụi không xe ngựa / Thơ nhạc ru đời hương thảo lan” , “Không hoa không bướm không chi cả / Còn rượu còn thơ ấm cuộc đời”, “ Cỏ cây sách đá vui làm bạn/ Hương đạo hương đời mạch sống reo”, “ Sương khói thời gian pha bạc tóc / Nguồn vui lẽ sống cảnh đoàn viên”

Thấm nhuần giáo lý nhà Phật, ông hiểu cuộc đời vốn dĩ là bể khổ trầm luân: “Đã hay phận đá mồ hôi rịn /Mới rõ trần gian nước mắt đầy”, “Cây cối ngả nghiêng cơn gió giận / Cửa nhà tan tác trận mưa day”, “Nhạn đã một thời tung cánh lụa / Tằm còn muôn kiếp nhả đường tơ”

Và ông tự chọn cho mình một lối đi tự tại, bình yên: “Ngồi dưới trời khuya hồn nhập định / Hóa thân du tử giỡn cùng trăng”, “ Bừng soi đuốc tuệ vùng tăm tối / Thuyền giác đây rồi vượt bể khơi”, “Trần gian là quán trọ / Tạo hóa lẽ huyền vi/ Thế nhân là lữ khách /Dừng lại rồi ra đi”, “Như lá vàng rụng rơi về cội / Xin ngày mai xanh lại trên cành / Như cát bụi trở thành cát bụi /Xin hình hài hóa thể vô sinh”, “Lá úa nhẹ nhàng rơi uống cội / Nước trong thanh thản chảy về nguồn / Trăm năm nhân thế đều mang nợ /Giữa cõi vô thường lại phụ duyên”, “Ngàn năm sao đá làm thinh / Ta ngồi bên cạnh đá thành tri âm / Nghe như đá hỏi thì thầm / Ta rằng nhân thế trăm năm kiếp người”, “Xin nhẹ bước đừng làm đau lòng đất / Từ nghìn xưa đất nhân hậu vô cùng / Khi còn sống đất xem mình ruột thịt / Vĩnh biệt đời đất ôm ấp như con”…

Tài sản văn chương của ông Phạm Gia Triếp khá đồ sộ. Ông có hơn 1000 bài thơ được viết theo nhiều thể thơ. Phần lớn là thơ Đường Luật và thơ lục bát. Ông có nguyên tập thơ đặt tên “ Chừng nghe chiếc lá nhẹ chao nghiêng và Ngàn năm nhớ Huế” do anh Lê Văn Trung là bạn của Phạm Gia Cần – con trai của ông trình bày, in ấn nhưng để tặng bạn bè, gia đình và lưu hành nội bộ. Về sau, con gái của ông là Phạm Thị Mai Hương đã dành thời gian gần 2 năm thu thập những bài thơ của ông từ những cuốn sổ tay, bản thảo… để tuyển thành một tập thơ.  Bước đầu chỉ in 3 bản: 1 bản lưu giữ ở nhà, 1 bản cho Mai Trang và 1 bản cho Gia Lâm ở Mỹ.

Ông Phạm Gia Triếp cũng là người có tài viết điếu văn. Nhiều bạn bè ông từng có bài viết ngợi ca ông là người viết và đọc điếu văn hay ở Đà Lạt. Ông chưa bao giờ phân biệt giàu nghèo, sang hèn khi viết điếu văn cho người đã khuất. Khi đọc điếu văn, ông đều ăn mặc lịch sự và luôn cầm giấy để đọc tỏ rõ sự kính trọng người đã mất.

Một người bạn của ông từng viết về ông:

“Từ ngày xuất gia đến nay tôi đã qua gần 20 tuổi hạ, từ khi còn cắp khánh theo hầu hay thay thầy làm chủ lễ trong các đám tang, tôi luôn gặp ông cụ. Ông cụ không nằm trong ban tụng niệm hay người làm công quả của chùa. Ông cụ là một người đặc biệt.

Vào lúc hạ huyệt, sau khi tôi tụng:

- Nam Mô Tiếp Dẫn Đại Sư A Di Đà Phật…

Và ngừng đến trước khi hạ huyệt, tôi thường hỏi:

-Tang gia có điều chi muốn nói.

Ông cụ luôn thay gia đình tang chủ đọc điếu văn đáp từ. Hơn hai mươi năm tôi gặp và có lẽ thời gian trước đó còn nhiều hơn thế, bao giờ ông cụ cũng mặc một bộ quần áo âu phục lịch sự, hôm nào trời lạnh khoác thêm chiếc áo khoác bằng dạ, đầu đội chiếc mũ phớt đen, ông cụ lấy trong túi tờ điếu văn được chuẩn bị kỹ càng và lên tiếng với giọng Huế nhẹ ấm áp. Ông cụ cùng với tất cả mọi người hoài niệm người đã khuất; lấy giáo lý nhà Phật làm đầu: “ Trăm năm trước thân ta không có/ Trăm năm sau có cũng như không / Cuộc đời sắc sắc không không”.

Và cứ như thế, khi tôi xướng câu kinh cuối cùng, ông đáp từ bằng bài điếu văn. Suốt từng năm tháng ấy, những bài điếu văn ông cụ viết không hề trùng lắp bởi cuộc sống nào có giống nhau. Ông cụ thay mặt, đứng vai trò tang chủ luôn tìm được những điều tốt đẹp của người đã khuất và đưa vào những vần thơ ngọt đến lịm người:


Cậu đi rồi mất cậu ngàn năm
Một nửa đất trời bỗng tối tăm
Vân thọ quan hoài sầu khó cạn
Hồng trần mộng đoạn lệ khôn cầm.  (Khóc cha)

Câu thơ bạn cũ tìm trong mộng
Tiếng ngọc người xưa biệt giữa đời
Đốt nén tâm hương xin bái vọng
Theo niềm thương tiếc lệ châu rơi  (Nhớ bạn)

Khó nguôi thương nhớ lệ châu tràn
Áo hiếu bông hồng cũng rã tan
Lặng lẽ mẹ đi về cõi tịnh
Bồi hồi con ở lại trần gian.  (Khóc mẹ)

Hoặc mượn cái tên con đường nói về lẽ tử sinh và người đi tiễn biệt:

Đường Du Sinh bỗng dưng thành Du Tử
Chiếc xe tang nhoà nhạt với hoa xinh
Gió thở than trên sỏi đá gập ghềnh
Từng bước cuối lặng đưa người vĩnh biệt. (Thi lệ)

Sáng nay, đứng phía trên mộ phần, nhìn ra xa “ Đỉnh Lâm Viên trời xanh cao lồng lộng”, sau khi tôi tụng:

- Nam Mô Tiếp Dẫn Đại Sư A Di Đà Phật…

Và ngừng đến trước khi hạ huyệt, tôi lại hỏi:
- Tang gia có điều chi muốn nói ?!
Bất giác tôi nhìn vào di ảnh, ông cụ nheo mắt hóm hỉnh:

-  Mô Phật! công việc của tui đã xong rồi thầy ạ, phải nhường người khác thôi.

Và cười khẽ:

Xin chào tất cả tôi đi
Nghĩ mình thân phận chim di một đời
Mây trời như sóng nổi trôi
Gió tha thiết mãi như lời từ ly

Xin chào…
Xin chào…
Tôi đi!
(thơ Việt Trang)”.

Trong những điếu văn của ông Phạm Gia Triếp (Việt Trang) còn lưu lại, tôi lưu ý đến bài viết  tiễn đưa ông Nguyễn Văn Quý, có đoạn:

“ …Vào thời điểm những ngày tháng khó khăn, cụ đã từng xuống vùng Lang Hanh, Tam Bố quận Đức Trọng, vất vả khai phá đất hoang, làm rẫy, trồng trọt hoa màu cùng các con tự túc kinh tế, mưu sinh, chung sức xây dựng cuộc sống khả quan, an lạc cho gia đình.

Những năm sau, cảm thấy tuổi đã cao, phong cách an bần lạc đạo  người xưa, cụ vui vẻ sống bên cạnh con cháu và vốn là một Phật tử thuận thành, cụ sớm khuya tụng kinh  phụng Phật để tâm hồn thêm minh mẫn, tinh tấn thấm nhuần ý niệm từ bi nhiệm màu của Phật pháp.

Trong gia đình, cụ là bậc huynh trưởng đức độ, mực thước, nghiêm từ, nêu gương sáng cho con cháu, ưa thích sự sạch sẽ, ngăn nắp, thứ tự, dạy dỗ thương yêu các con các cháu. Nhờ công đức đó , tất cả các con bước vào đời đều có nếp sống đạo hạnh, có một phương vị vững vàng trong xã hội. Đối với hương lân, bằng hữu gần xa, với tánh tình thuần hậu, khiêm tốn, hiếu khách, cụ không bao giờ làm mất lòng một ai nên mọi người đều dành niềm mến thương, kính trọng cụ. Cụ mất đi phước quả viên thành …

Thế nhân không một ai hiện hữu mãi ở trần gian. Cuộc sống nhân sinh hữu hạn, ngắn ngủi trăm năm mà không gian và thời gian lại vô cùng, vô tận. Chung qui đời người là một cuộc hành trình hướng đến Chân Thiện Mỹ, đòi hỏi mọi người nhiều cố gắng, nhiều phấn đấu về thể lực, trí tuệ và tinh thần để mưu cầu hạnh phúc cho mình, cho những người thân và ước mong góp phần xây dựng xã hội, quê hương ngày càng được thăng hoa, giàu đẹp. Tuy nhiên bên cạnh những điểm tích cực đó, ai ai cũng vương vấn trong lòng không ít ưu tư, phiền muộn giữa hồng trần.

Tựa như mặt trời vân hành trên bầu vũ trụ, có bình minh rực rỡ thì có hoàng hôn u hoài tiếp nối. Thế nhân cũng vậy, như một người khách ta ở quán trọ trần gian, dừng lại khoảnh khắc vui buồn lẫn lộn rồi phải ra đi, nên giữa cõi vô thường có sinh , có diệt, có thuỷ có chung.

Phật tử Nguyên Thiện, cụ Nguyễn Văn Quý, theo tháng năm đi dần vào tuổi thọ, sắp khép trọn một vòng nhân sinh. Sức khoẻ cụ dần dần mòn mỏi và gần đây kéo thêm những ngày bệnh tật bất an. Con cháu chí thành, chí hiếu tận tuỵ thuốc thang, lo lắng, săn sóc phụng dưỡng, song định mệnh không cho phép. Giữa khuya ngày 19.5 Canh Thìn, nhẹ nhàng như làn gió thoảng, mơ hồ như bóng mây tan biến, đông đủ cháu con túc trực chung quanh, cụ lặng lẽ ra đi, thanh thản như cánh hạc bay vào cõi chân thường vĩnh cửu và sẽ gặp được giấc mộng chân như, hương linh nương bóng Từ Bi, tràn đầy ánh đạo vàng của Đức Như Lai.”.

Với bạn thơ ở Huế, ông nhớ đến Mẫn xích lô, Phương xích lô.

Một lần ở quán cà phê Thủy Tiên trên đường Duy Tân (nay là đường 3 tháng 2 - NV), Đà Lạt, gặp Mẫn xích lô một cách tình cờ; ông Phạm Gia Triếp kể:“ Một thanh niên ngồi bàn đối diện, người tầm thước, khuôn mặt hiền lành dễ gây cảm tình. Khi nghe chàng thanh niên lên tiếng gọi cà phê, tôi bỗng có cảm giác gần gũi bởi giọng Huế ngọt ấm đậm đà nên cười làm quen và chúng tôi trở nên thân thiện đến không ngờ.  Anh mang theo một chiếc giỏ lát đựng vài bộ quần áo và xấp giấy tờ. Anh tâm sự: - Em tên là Mẫn. Lúc trước em đi dạy, sau một thời gian em bỏ dạy đi chạy xích lô. Những lúc rãnh rỗi, em cũng viết vài bài thơ ngâm nga đỡ buồn. Em lấy tên Mẫn Xích Lô. Mẫn lấy trong giỏ lát một tờ giấy học trò chép bài thơ tứ tuyệt tặng tôi:

“ Em là chim sâu nhỏ

Hồn nhiên hót xuống đời

Vô tình anh biết được

Bẻ ná đứng nhìn chơi” .

( “ Chim sâu nhỏ” của Mẫn Xích Lô )

Bài thơ quá tuyệt vời ! Vào buổi sáng trời đẹp, được quen một người bạn mới và nghe một bài thơ hay, tôi thật hạnh phúc. Mẫn mỉm cười:

-   Em làm bài thơ đó ở Huế tặng cho nhà em. Lên đây em có làm thêm bài thơ nữa cũng để cho nhà em để tạ lỗi không đủ tài nuôi nấng vợ con cho đầy đủ như mọi người.

“ Thời buổi vợ chồng áo cơm chóng mặt

Rượu thì buồn như nước mắt người thương

Đôi khi về chùa sống đời tu sĩ

Thương em và con lạc lõng bên đường”. ( Mẫn Xích Lô)

Chúng tôi nói chuyện không dứt, tôi thương người bạn mới quen :

“ Mồ hôi rịn chân chai một góc

Nhìn ra em để bụng mà thương”  ( Việt Trang)

Mẫn hứa khi nào có dịp sẽ giới thiệu Phương Xích Lô, một người bạn thơ cùng nghề với mình.

Năm sau, nghe tin  tôi về Huế thăm gia đình,  Mẫn đến nhà dặn:

-Ngày mai chín giờ, em đến đón rồi chở anh đi thăm thành phố Huế nghe.

Hôm sau, Mẫn đạp xe từ Bao Vinh lên An Cựu.:

- Anh ngồi tự nhiên nghe, em chở anh như chở khách đó.

Tôi lên xe ngồi, Mẫn đạp phía sau, vừa đi vừa trò chuyện. Xe chạy từ từ qua các con đường. Huế chỗ nào cũng đẹp, cũng thơ: hàng phượng đỏ rực hai bên đường, những ngôi nhà cổ thấp thoáng sau vườn cây xanh mướt... Một chiếc xích lô đạp ngược chiều ngang qua, Mẫn gọi:

-  Phương ! Phương !

Người đạp xích lô tên Phương to lớn, vạm vỡ hơn Mẫn nhiều, ngoái đầu lại:

-  Phương ! Quay lại ! Anh Việt Trang từ Đà Lạt về thăm Huế nì.

A ! Thì ra Phương Xích Lô. Có lẽ đã được nghe Mẫn kể về tôi nên Phương không hỏi thêm, quay xe đi theo. Trời đẹp, tình cảm đẹp, một người già hai người trẻ chúng tôi vừa trò chuyện. Không bao giờ tôi quên được niềm hạnh phúc của ngày được bạn tri âm chở khắp thành phố quê mình:

“ Chiếc xích lô cùng em bè bạn

Bánh lăn tròn xuôi ngược bình minh”.

( Viết cho Mẫn - Việt Trang)

“ Tay ghì xuống chân bay tròn với gió

Hạnh phúc nào chạy theo kịp em không ?”

( Viết cho Phương - Việt Trang)

Từ đó Phương Xích Lô trở thành người bạn, người em thân thiết của tôi. Đời Phương Xích Lô thật lận đận: Trước anh là giáo viện không được đứng  lớp nên phải bỏ nghề; giờ sống với mẹ già vì vợ chê anh nghèo lại vướng nợ thi nhân. Thỉnh thoảng Phương bỏ Huế lên Đà Lạt thăm người bạn cao niên. Tôi dành cho anh căn phòng nhỏ cạnh phòng mình nhưng Phương cũng ít ở nhà, nhiều hôm đến  khuya mới chịu về ngủ. Giấc ngủ của anh không yên , thỉnh thoảng anh lại hét lên, như giận đời ngày không nói được, đêm về chiêm bao.

Giờ Phương Xích Lộ không còn nữa, có lẽ buồn nên uống rượu say mà chết đuối. Đó là nhà thơ trẻ tài hoa nhưng bạc mệnh!  Mặc dù tuổi đã cao, tôi cũng tự hứa sẽ về thăm Huế một lần cuối, tôi sẽ nhờ Mẫn Xích Lô đạp xe đưa đến mộ của Phương thắp nén nhang hoài niệm nhưng nay chính Mẫn Xích Lô cũng không còn nữa !

Với nhà thơ Bùi Giáng, ông Phạm Gia Triếp  cũng có kỷ niệm.

Ngày 20 tháng 12 năm 1991, có việc về Sài Gòn, ông ghé thăm nhà thơ Song Nguyên ở đường Lê Văn Sỹ. Nhà thơ Song Nguyên có nhắc đến Bùi Giáng ở ngay con hẻm 220 này. Ông Phạm Gia Triếp cũng từng biết đến tên tuổi, cuộc đời và thơ ca của Bùi Giáng. Lúc đó, ông viết bài thơ tặng Bùi Giáng mà chưa được gặp mặt và nhờ bạn thơ Song Nguyên chuyển hộ. Bài thơ vỏn vẹn có 4 câu:

“Đất Sài Gòn nuôi anh Bùi Giáng
Nắng như mưa lãng đãng suốt ngày
Hẻm Lê Văn Sỹ rác đầy
Anh thiền bên cạnh hương bay ngát trời.”

Bùi Giáng nhận được bài thơ mừng như nhận một món quà, đọc xong xếp bỏ vào túi áo. Thời gian sau – khoảng cuối mùa đông năm Tân Mùi, ông Phạm Gia Triếp lại về Sài Gòn và có thêm bài thơ khác tặng Bùi Giáng và mong được gặp để đưa tận tay:

“ Gặp nhau đâu lạ lẫm gì
Vì chưng trong mộng ta đi tìm nguời
Một cõi thơ hai nét đời
Hai miền gió bụi một trời biển dâu
Ngàn năm cũ ngàn năm sau
Nụ cười vô lượng tiếng chào tiền duyên”

Chờ mãi không thấy, thì duyên lại đến. Một sáng, trên đường đi gửi thư cho anh Phong Vũ, bất ngờ ông Phạm Gia Triếp thấy Bùi Giáng gầy guộc, quần áo xộc xệch rách nát nằm ở góc đường. Ông Phạm Gia Triếp kể:

“ Tôi dừng lại bên Bùi Giáng, vỗ vai:

-  Anh Bùi Giáng ! Tôi chờ anh cả tuần nay mới gặp.

Bùi Giáng hơi nhỏm dậy, cất giọng khàn khàn:

-  Tui đau ! tui đau!

Tôi đỡ Bùi Giáng dậy:

-  Tôi có bài thơ tặng anh đây.

Bùi Giáng cầm bài thơ đọc, cất vào túi

-  Tên gì? Tên gì ?

-  Tên tôi ghi nơi bài thơ . Việt Trang

-  Có bút không ? Có bút không ? Có giấy không ? Có giấy không?

Đang lúng túng vì không kịp chuẩn bị, may có mấy đứa học trò hiếu kỳ đứng xem, tôi xin một tờ giấy, mượn cây bút đưa cho Bùi Giáng. Dường như không phải nghĩ ngợi, ông viết rất nhanh bài thơ “ Tặng Việt Trang Đà Lạt” với 4 câu thơ lục bát:

“ Gặp nhau chợt cảm thấy rằng
Niềm vui tao ngộ thường hằng lạ thay
Việt Trang Đà Lạt một ngày
Sài Gòn bất chợt nhớ ngày xa xưa.”  ( Bùi Giáng 1992)

Viết xong, ông nằm uống, co người lại ngủ. Tôi đứng lặng người đau xót trách tạo hóa hóa sao trêu người quá thể.

Khi nghe tin Bùi Giáng mất, quan tài quàng ở Việt Nam Quốc Tự. Không về Sài Gòn được để thắp nén nhang tiễn đưa, với niềm xúc động sâu xa, tôi viết bài thơ tỏ lòng kính mến “ Vĩnh biệt Bùi Giáng”, như sau:

“Sáu năm trong cõi người ta
Sáu năm đâu gặp như là ngàn năm
Hoá thân cát bụi anh nằm
Còn tôi ở lại lần khân với đời…”

( Ngày vĩnh biệt  07.10.98)

Ông Phạm Gia Triếp có nhiều bạn tâm giao, bạn văn nghệ như Bùi Minh Cửu, Duy Việt, Huỳnh Quan Lâm,  Phong Vũ, Cam Lĩnh, Tâm Minh Ngô Tằng Giao, Trần Vấn Lệ, Lan Hinh, Đức Minh, Xuân Đài, Lê Phỉ, Chúc Mai, Thy Hoài, Đỗ Tư Nghĩa, Duy Việt, Anh Ban, Phạm Văn Hạng, Mộng Hoài Nhân, Chơn Toàn Tôn Thất Mậu… Xướng họa cùng những nhà thơ nổi tiếng Bùi Giáng, Thân Thị Ngọc Quế, Võ Quê, Phương Xích lô, Mẫn Xích Lô, Song Nguyên... hay ngâm vịnh với Quang Vinh, Tô Tư, Cam Lĩnh, Đức Minh, Xuân Tôn, Tôn Thất Viễn Bào, Nguyệt Đình, Mạnh Hồ, Thường Quân, Đông Huy, Tô Kiều Ngân, Đoàn Yên Linh…

Là người con của Huế, ông yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình một cách nhiệt thành. Ông có nguyên một tập thơ “Gởi Huế ngàn năm” gồm 40 bài thơ, chủ yếu là thơ Đường Luật và thơ mới, phát hành nội bộ tháng 8 năm 2004. Ông có tuổi thơ đầy ắp kỷ niệm bên dòng sông An Cựu; là học sinh trường Trung học Khải Định (nay là trường Quốc Học Huế)…nên ông rất nặng lòng với cố đô. Có thể tìm thấy trong thơ Việt Trang (Phạm Gia Triết) những câu thơ ân tình với Huế: “ Đêm đêm cùng cố hương / Mộng hồn không cát bụi (Tha phương); “ Núi Ngự hong buồn chao sợi nắng / Sông Hương trải nhớ vọng đôi bờ. (Nhớ kinh đô);  “Ngự lĩnh đứng thầm chiều nắng lả / Hương giang trải mộng gió canh thâu”. (Chiều xuân kinh); “Thành phố cũ nghĩ ngàn năm vẫn vậy / Một dòng sông một dáng núi thanh kỳ. (Bụi tha hương); “Đường qua Vĩ Giạ một chiều / Chói chang con nắng đuổi theo sầu hoài / Trở về An Cựu mình ai/ Đường trơ sỏi đá trải dài lá khô”. (Tháng tư phố Huế); “Cây sầu đông gầy guộc bên đường / Ôi Huế tàn đông lạnh thấu xương.” ( Về Huế); “Ngõ trúc nhà ai vừa vội khép /Bên trời mây tím dạt lê thê”. (Huế tàn thu) ; “Tâm tư khép mộng tha phương / Xin cùng với Huế vấn vương trọn đời” (Bài thơ gởi Huế); “Chưa chi gió nhuộm thu sầu / Mà nghe sương khói xanh màu biệt ly.” (Bài thơ tạm biệt); “Ngày tháng tha hương nỗi sầu quay quắt/ Giọt mưa sa chưa trở lại cội nguồn / Hai mươi năm không về thăm Huế được/ Như một loài chim xa lánh cố hương.” (Gởi Huế ngàn năm); “Ngoảnh lại Lâm Viên mờ gió lạnh / Trông vời cố quận thoáng mây giăng / Thân không bèo bọt mà trôi nổi / Đời lắm sông hồ lắm trở trăn.” ( Đường về quê); “Xin chào tất cả tôi đi / Nghĩ mình thân phận chim di một đời” (Bài thơ tạm biệt); “ Ngàn năm máu dội về tim/ Trăm năm tôi nguyện tìm về cố hương”. ( Bài thơ gởi Huế)…

Ông Phạm Gia Triếp có nhiều bài thơ viết về Đà Lạt gợi cho người đọc nhiều cảm xúc. Chẳng hạn như: “Lá mộng ngập ngừng bay chiếc chiếc / Đường thơ tha thẩn dạo mình mình./ Một linh hồn nhỏ cùng thiên hạ / Vô nhiễm từ lâu bụi thị thành”. Hoặc: “Nằm trên biển nóng Sài Gòn,/ Mà nghe Đà Lạt vẫn còn mưa sương.”  Và: “Và phút chia tay / Chưa kịp lời từ giã /  Xuân vừa tàn nắng rơi về phương đó / Chiều tháng tư mưa rớt lại nơi này.”

Một lần đến Thác Cam Ly, ông viết: “Vài cánh chim chiều chao cỏ biếc,/ Một làn gió muốn động cành dương./ Đầy vơi thác có cùng mưa nắng,/ Mà biết đâu rồi khách viễn phương.

Thơ Đường Luật là thể thơ thế mạnh của ông. Trong bài thơ “Cao nguyên cảm xúc”, ông viết năm 1964 như sau: “Cao nguyên bát ngát cảnh buồn teo, / Đất đỏ rừng xanh lắm suối đèo. / Lũng hẹp đìu hiu thôn bản dựng, / Đồi cao thấp thoáng thượng kinh trèo. / Mười năm đất khách sầu khôn cạn, / Muôn dặm quê nhà nhớ mãi đeo. / Những lúc hoàng hôn trời tím nhạt, / Ai cùng tâm sự gởi  tình theo”. Vần “ eo” hay “ e” là một trong những vần rất khó gieo trong thơ Đường Luật, ông vẫn có một bài thơ tứ tuyệt thật hay: “Chợ đời lăn lộn thân đơn lẻ /Chẳng ngại mưa đông lẫn nắng hè. / Chừng đã bao phen danh trước lợi, / Giữ gìn nếp áo dẫu tua te!”. Hay như  bài thơ “Chiều thu bên hồ Đà Lạt”: “ Chiều thu lành lạnh cuối trời thu / Sương bạc mong manh rải mặt hồ. / Đỉnh tháp Hùng Vương thấp thoáng nhạt, /Bóng cầu Ông Đạo chập chờn lu/ Nhớ ai ngày đó vui tao ngộ, / Chờ bạn hôm nao hẹn tạc thù. / Thương mảnh trăng non nhoà sóng nước, / Nẻo về bước lạc ý hoang vu”.

Một lần đến thăm Thác Cam Ly và hồ Than Thở, ông cảm tác: “Giọt nước Cam Ly thành lệ đá / Thông ngàn Than Thở nghẹn muôn lời/ Đời như sương khói trên bờ mộng/ Trăng hạ huyền neo giữa biển trời ”.

Trong bài thơ “ Đà Lạt mưa”, ông viết: “Đà Lạt mưa hoài ... em chẳng hay, / Tiếng mưa ướt lạnh cỏ cây gầy. / Mặt trời chưa bao giờ chịu nắng, / Bài thơ tình chết lặng trên tay. / Mưa vẫn bay qua rừng qua núi / Mưa vẫn rơi xuống phố xuống phường. / Không gian đang tan thành lệ đá, / Gõ xuống hồn giọt nhớ giọt thương. / Trong khoảnh khắc, em chợt tới. Muộn màng!/ Trong khoảnh khắc, em vội xa. Phiền muộn. / Anh hụt hẫng trong niềm tin vô vọng,, / Rất ngậm ngùi như ốc đảo cô đơn.”

Bài thơ “ Đà Lạt tàn thu” cũng là một bài thơ ấn tượng của ông:

Đà Lạt tàn thu lạnh ít nhiều,

Một chiều tao ngộ đượm thương yêu.

Lòng sao chùng xuống niềm xao xuyến

Như biển bao la dậy thuỷ triều.

Đà Lạt tàn thu lạnh ít nhiều,

Lá vàng chiếc chiếc rụng rơi theo.

Thơ say bạn thiết nồng men rượu,

Ai xoá hồn ai nỗi quạnh hiu.

Đà Lạt tàn thu lạnh ít nhiều,

Con chim quyên hót giữa hoang liêu.

Gió qua đồi vắng lời than thở,

Mây vẽ buồn lên với ráng chiều.

Đà Lạt tàn thu lạnh ít nhiều,

Sương choàng lối cũ đá phong rêu.

Lầu thơ khép kín dòng tâm sự,

Thềm mộng từ đây vắng dáng Kiều.

Đà Lạt tàn thu lạnh ít nhiều,

Tiếng thu tha thiết gió phiêu phiêu.

Mơ hồ đâu đó bàn tay vẫy,

Một nét hoa văn giữa lụa điều.

Đà Lạt tàn thu lạnh ít nhiều,

Trăng thu lơ lững bóng thuyền treo.

Ta dừng phố núi . Tình xa ngái…

Thoáng gió thu sầu dạt cỏ xiêu.

Đà Lạt tàn thu lạnh ít nhiều…”

Nhà thơ Việt Trang còn dịch thơ tiếng Pháp sang tiếng Việt và làm thơ bằng tiếng Pháp.

Với 100 bài thơ trong tập bản thảo “Chừng nghe chiếc lá nhẹ chao nghiêng” phần nào đã nói lên sức sáng tạo văn học của nhà thơ Việt Trang. Ở đó, người đọc tìm thấy “nguồn thi hứng dồi dào, tứ thơ thanh nhã, ngôn từ trong sáng giản dị, hầu như thuần Nôm, ít lẫn những từ Hán thường thấy ở loại thơ Luật Đường” mà bạn bè ông đã ghi nhận. Ở đó, người đọc tìm thấy tình yêu của ông dành cho xứ Huế mộng mơ, Đà Lạt yêu thương lãng mạn mà suốt cuộc đời của ông đã gắn bó. Ở đó,là tâm tình ông gửi gắm cho bạn bè, người thân và người vợ thân yêu mà cùng ông vượt qua bao khó khăn, vất vả gian nan để có một gia đình đầm ấm, hạnh phúc.

Và, cũng ít ai biết rằng, ông Phạm Gia Triếp – bút danh Việt Trang từng đoạt giải thưởng thơ của Đài Phát thanh Pháp Á (năm 1950 và 1954); từng có thơ được in vào sách giáo khoa ngữ văn dạy học sinh sơ – tiểu học và những bài thơ được các nhạc sĩ Châu Kỳ, Nguyễn Hữu Ty, Hạnh Cư, Yên Sa… phổ nhạc.

Ngoài thú làm thơ, ông còn thích chụp ảnh. Khi chụp được bức ảnh nào, thấy được là ông in tặng lại bạn bè, người thân. Ông vĩnh viễn ra đi vào cõi vĩnh hằng vào ngày 24 tháng 07 năm 2010 tại thành phố ngàn hoa Đà Lạt. Mộ phần an táng tại Nghĩa trang Du Sinh.

Cả cuộc đời, hơn 60 năm yêu mến thành phố này, ông Phạm Gia Triếp (Việt Trang) rất được nhiều người biết đến về nhân cách sống, thái độ sống và một bầu thơ văn lai láng, đậm đặc chất Đường Luật cổ xưa, nhưng vẫn gợi lên được tình cảm của người viết với mảnh đất, con người mà mình gửi gắm. Đọc thơ ông, hiểu thêm một chặng đường nhiều thay đổi của Đà Lạt, hiểu thêm về tình yêu mà ông dâng hiến cho thi ca. Dẫu đã xa nghìn trùng, ông Phạm Gia Triếp (Việt Trang) vẫn là một người có duyên nợ Đà Lạt đến hơi thở cuối cùng.

TRẦN NGỌC TRÁC
(sưu tầm và tổng hợp)

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Việt Trang với Thơ ca và Địa phương chí Đà Lạt _ Trần Ngọc Trác _ (Văn / Tạp ghi)