Lên Đà Lạt Bằng Máy bay (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#12)

  • PDF

 maybay.jpg - 52.17 Kb

    

LÊN ĐÀ LẠT

 

 

BẰNG MÁY BAY

 

 

     Đà Lạt có các đường bay nối liền với các nơi khác qua hai phi trường Cam Ly và Liên Khương:

 

     - Phi trường Cam Ly cách Đà Lạt 5km về hướng Tây. Trước kia nơi đây là phi trường quân sự. Trong thời gian chiến tranh leo thang, nơi đây máy bay lên xuống liên tục để cung cấp những nhu cầu về mặt quân sự và là một thương cảng rau.

 

     - Phi trường Liên Khương cách Đà Lạt khoảng 30km. Sau ba năm xây dựng, vào năm 1933 phi trường Liên Khương bắt đầu hoạt động. Lúc đó phi đạo dài 700m được đắp bằng đất, chỉ đáp ứng cho loại phi cơ có trọng tải dưới hai tấn.    

 

     1945 Nhật mở mặt trận ở Đông Nam Á, do nhu cầu chiến tranh Nhật đã tu bổ phi trường Liên Khương. Phi đạo lúc đó được cán đá để dùng cho các loại phi cơ chiến đấu của Nhật thời bấy giờ.

 

     1960 - 1975, vì chiến tranh, phương tiện giao thông đường bộ bị gián đoạn, mất an ninh. Hành khách sử dụng đường hàng không tăng nhanh chóng. Để đáp ứng nhu cầu đó, phi trường đã mở rộng. Phi đạo được trải nhựa dài 1.480m, rộng 40m, có thể sử dụng cho các phi cơ từ 35 tấn trở xuống. Diện tích bãi đậu rộng 1.000m2, có thể đậu một lúc năm chiếc máy bay. So với phi trường Tân Sơn Nhất hay Đà Nẵng, phi trường Liên Khương chỉ ở vào vị trí rất khiêm tốn: phi trường hạng hai. Trong những năm 70, sân bay này khá nhộn nhịp. Người có tuổi và am hiểu thì mô tả hoạt động của nơi này như một bến xe liên tỉnh, ngày nào cũng có chuyến bay và hành khách đợi chờ.

 

     Có thể đến Đà Lạt nhanh nhất bằng phi cơ dân sự của hãng hàng không Việt Nam, còn gọi là Air Con Rồng. Đoạn đường Sài Gòn - Đà Lạt dài khoảng 300km, đi phi cơ chỉ mất khoảng chừng 30 phút, nghĩa là người tiếp viên phi hành vừa mới dọn xong bữa ăn nhẹ cho hành khách thì đã sắp đến phi trường Liên Khương. Từ phi trường sẽ có xe hơi của hãng hàng không chở hành khách về tới trạm đến của hàng không Việt Nam tại Đà Lạt. Sau đó du khách có thể đáp xe lam ba bánh hay xe taxi về khách sạn.

 

     Giáo sư HOÀNG XUÂN HÃN năm 1946 đi dự một hôi nghị cao cấp ở Đà Lạt sau này đã viết lại về chuyến bay của mình:

 

     Một giờ chiều máy bay lại cất cánh, rồi tiến thẳng hướng Đông Nam, cũng một Junker, nhưng nghe nói tàu này chỉ bay được 165 cây số mỗi giờ. Trông xuống đất, chỉ thấy mênh mông rừng thẳm xám xanh, thỉnh thoảng có vạch đường cong queo sắc bạc bởi dòng nước của sông ngòi. Một lúc gặp bức tường mây trắng xóa. Tàu lắc lư gắng vượt lên cao. Trong tàu ai cũng nôn nao. Muốn nói chuyện phải ghé miệng vào tai mà nói lớn. Hết rừng rậm đến rừng khô, rồi đến cao nguyên cỏ bụi. Máy bay bắt mối được một ngọn sông chảy từ Bắc xuống Nam. Rồi thấy có hồ dài, có đường quanh co. Tàu đâm đầu xuống một quả núi cây, rồi trượt trên bãi cỏ dốc. Đó là sân bay Liên Khang gần phía Nam Đà Lạt. Đồng hồ chỉ bốn giờ mười lăm.Ô tô nhà binh Pháp đưa về Đà Lạt cách sân bay ba mươi cây số. Dọc đường nhận thấy đường và các cầu không bị hư hỏng. Phái đoàn được đưa về khách sạn Lang Biang, dựng trên đồi cao ngoảnh mặt xuống hồ…”

 

     NGỰ THUYẾT cảm khái kể lại chuyến đi bằng máy bay, rồi từ phi trường về lại Đà Lạt, nơi mình từng sống những ngày tuổi thơ:

 

     “Chiếc máy bay Bristol hai động cơ đáp xuống phi trường Liên Khương vào buổi trưa có nắng và gió lạnh. Tôi bồi hồi xúc động. Tôi thấy ngay rằng Đà Lạt của muôn vàn thương nhớ bây giờ vẫn giữ được một cách rất kín đáo những nét hoang sơ của ngày xưa và đồng thời đang tỏa ra biết bao nhiêu hương sắc, âm thanh, hình dáng mới. Tôi lại nhận thấy ý nghĩ vừa rồi của tôi cũng đã lệch lạc mất rồi. Thật ra tôi của những năm tháng ngu ngơ, thơ dại làm sao nhận ra được khuôn mặt lung linh, huyền ảo của thành phố cao nguyên này. Chiếc xe hơi của hãng Hàng Không đưa tôi từ phi trường về trung tâm thành phố vượt qua những cánh rừng thông ngút ngàn, những thung lũng cũng thông xanh trùng trùng điệp điệp, vượt qua con đèo dài ngoằn ngoèo cũng thông và thông tràn ngập.

     Tôi đi xuyên qua màu xanh phơn phớt của những đọt thông non chìa tay vẫy vẫy mời gọi, màu xanh thắm của những hàng thông mọc hai bên đường hân hoan đón mừng, màu xanh thẫm dần của những lớp thông chen chúc đằng sau nô nức chờ đợi, hết lớp này đến lớp khác, những màu xanh đậm nhạt khác nhau chồng lên nhau, dàn trải ra tận cuối tầm mắt.

     Tôi cảm thấy tôi biến thành hư không hòa tan vào hương thơm của hoa rừng cỏ nội, của những lớp vỏ thông khô, phấn thông vàng. Tôi chìm trong tiếng thông reo. Hàng vạn, hàng triệu cây thông vừa mới chạy dồn về đây chen nhau đứng sẵn trước cửa ngõ Đà Lạt nghênh tiếp người trở về.

     Tôi đi dưới những ngọn nắng êm êm, những ngọn gió mát rười rượi, những vạc sương phủ mờ mờ trên nhiều chặng đường. Tôi đi sâu vào bầu không gian càng lên cao càng tinh khiết hơn, càng tỏa ra cái lạnh se se, xao xuyến, đến bùi ngùi. Nước mắt rưng rưng. Nếu không có hành khách đi cùng xe tôi khóc. Đi hết con đường đèo, thông thưa dần. Qua khỏi một ngọn dốc nữa, kìa, thành phố của tuổi thơ đây rồi, quen thuộc như đã thấy trong nhiều giấc mơ, những mái ngói đỏ tươi, những mái ngói nâu sẫm, những hàng cây xanh mướt, những cụm thông lác đác năm ba gốc chụm vào nhau thủ thỉ chuyện trò, những hàng rào làm bằng nẹp gỗ mỏng sơn trắng thật thấp, thật dài và thật sơ sài chạy tung tăng lượn vòng ven theo mép mấy trái đồi cỏ chập chùng, những con dốc thoai thoải đổ êm đềm xuống các khu vườn trồng khoai tây, cà chua, xà lách, bắp sú. Và kia kìa, soi bóng cây trên đồi, soi mây trời buổi xế chiều, soi cái tháp chuông của ngôi nhà thờ trên cao có hình con gà, là mặt hồ nước trong xanh, sóng lăn tăn…”

 

     Sau đây là những dòng hồi ký “hồi hộp” của TÂM ĐẠT, một nữ tiếp viên phi hành Hàng Không Việt Nam trong bài “Tôi đi bay”:

 

     “Một ngày thật đẹp, trời trong gió lặng; tôi chỉ bay có một chuyến thật ngắn: Saigon - Đà Lạt. Tôi sẽ có hoa hồng, hoa mimosa thật đẹp, thật tươi để cắm ở nhà. Máy bay đang xuống thì bỗng nhiên tôi nghe tiếng động cơ “rú lên” và máy bay như cố “ngóc đầu” lên. Với gần mười hai ngàn giờ bay nên tôi quen thuộc và kinh nghiệm với những tiếng động cơ khi cất cánh cũng như khi hạ cánh hay khi máy bị trục trặc. Tôi kinh hoàng, lo sợ và chờ cái chết. Tôi biết máy bay không thể nào lên được. Hành khách không ai biết gì cả. Tiếng động cơ càng lúc càng “rú” lớn. Máy bay nghiêng đến một độ giống như máy bay chiến đấu. Tôi tin chắc máy bay sẽ lật ngửa và đâm vào núi.

     Nhưng số tôi còn nặng nợ, nên máy bay đã lấy lại được vị thế “bình phi”, rồi quay trở lại đáp.

     Tôi nghe một tiếng “rầm”, có lẽ chưa hoàn hồn nên phi công đã đáp xuống ruộng bắp trước khi vào phi đạo. Sau khi phi cơ tắt máy, tôi mở cửa ra thì tất cả mọi người ở phi trường Đà Lạt (Liên Khương) chạy ùa đến phi cơ vỗ tay và nhiều người đã khóc (chắc đi đón gia đình hoặc bạn bè) vì mọi người đều tin là máy bay phải đâm vào núi. Đây là lỗi của chiếc L19 (loại máy bay quân đội nhỏ xíu dùng để thám thính). Đài kiểm soát cho phép chiếc Air Việt Nam đáp, nhưng chiếc L19 lại chui phía dưới “bụng” của chiếc Air Việt Nam để đáp xuống trước.”

 

     Cảnh buồn vui nơi phi trường Đà Lạt cũng mãi mãi được ghi lại trong hồi ký của KHÁNH LY:

 

     “Yêu nhiều quá những cơn mưa phùn Ðà Lạt, những con dốc nhấp nhô, mái nhà ngói đỏ phơi mình giữa màu xanh của lá. Chưa lạnh lắm nhưng đủ để thu mình ở một góc nhỏ café Tùng. Hơi nóng từ ly café chuyền qua ấm dần hai tay giá lạnh. Thú vị lắm. Ngồi ở nhà Thủy Tạ, một mình nhìn mưa bay trên hồ Xuân Hương. Mưa bay dịu dàng. Nỗi buồn cũng dịu dàng. Trong cơn điên dịu dàng. Mướn Taxi chạy xuống phi trường Liên Khương. Không đón đưa ai. Ðến để nhìn mọi người đưa đón nhau. Xem vui buồn đến đâu. Chạy lên phi trường Cam Ly, cũng chẳng đến đưa ai. Phi trường vắng lặng. Phi đạo nằm soải im lìm chờ đợi. Như một người chờ một người. Người không đến thì ta đi. Phi đạo nằm lại. Tiếp tục chờ đợi. Nắng. Mưa. Ngày. Ðêm. Phi đạo Cam Ly vẫn còn đó.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Lên Đà Lạt Bằng Máy bay (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#12)