Dạo Quanh Đà Lạt Một Vòng (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#13)

  • PDF

DẠO QUANH ĐÀ LẠT

MỘT VÒNG

 

     Du khách đến Đà Lạt vì khí hậu mát mẻ. Từ đồng bằng lên cao nguyên và miền núi, cao độ càng tăng thời nhiệt độ giảm theo. Đà Lạt với độ cao hơn 1.500m so với mặt biển, là khu vực có khí hậu ôn đới quanh năm cho nên vào bất cứ thời điểm nào trong năm, du khách đều có cảm giác dễ chịu do điều kiện thời tiết.
   
     Du khách muốn dạo quanh thành phố một vòng không gì bằng xin mời theo sự hướng dẫn của TRẦN NGỌC TOÀN

     “Lúc bấy giờ người Pháp đã xây đập chặn nước của dòng suối lớn Đà Lạt chảy từ hướng Bắc về, qua các ghềnh thác lớn nhỏ rồi đổ xuống tận sông Đà Rằng ở vùng Bảo Lộc, Định Quán. Trong khi đó, họ cũng ngăn đập ở thượng nguồn làm hồ nước Suối Vàng với đập Thủy Điện Đan Kia bên dãy núi Bà ở phía Bắc thành phố, họ đã chặn nước tạo nên hồ Than Thở và hồ Saint Benoit, sau này được đổi tên là Chi Lăng. Xa hơn, về hướng chính Bắc là hồ nước nhân tạo ở ấp Đa Thiện với dòng nước chảy về thác Cam Ly. Riêng với Hồ lớn, họ đã phải dùng cốt mìn để khoét sâu thêm trước khi làm đập ngăn dòng nước trên đoạn đường từ hướng Nhà Thờ Con Gà qua dốc lên phố chính thương mại được mang tên là Khu Hòa Bình. Chiếc cầu trên đập nước được gọi là cầu Ông Đạo… 

     Dòng suối từ cầu Ông Đạo chảy xuôi theo thung lũng bên ấp Ánh Sáng mới được dựng lên sau năm 1955, mở rộng như một dòng sông nhỏ qua cầu Bá Hộ Chúc bằng gỗ, đến ấp nhỏ với vườn rau cải xanh mướt quanh năm rồi qua cầu Nhà Đèn, khu “Abattoire” chuyên mổ lợn giết bò, qua xóm Lò Gạch rồi đổ về Thác Cam Ly với một ấp người Thượng gốc sắc tộc Kơ Ho với nhà sàn tập thể ở đầu nguồn. Với trợ cấp của một chủ nông trại người Pháp tên Farraut, còn chìm trong cảnh núi rừng hoang dã và nguồn nước chảy rất mạnh qua ghềnh đá nhấp nhô. Từ đây, người ta còn nghe tiếng nai bép xép và tiếng hổ gầm. Từ Thác đi về hướng Tây chừng hai trăm thước dẫn lên ngọn núi cao với rừng thông dày đặc xanh thẫm là lăng mộ của ông Nguyễn Hữu Hào, cha ruột của Nam Phương Hoàng Hậu, chánh phi của Hoàng Đế Bảo Đại, cuối đời nhà Nguyễn… 

     Ngược lên hướng Tây Bắc từ Thác nước là phi trường Cam Ly, với đồi núi trùng điệp vây quanh, nhưng phi trường rất ít được sử dụng vì thời tiết mây mù và núi cao vây quanh. Từ đây đi ngược về thành phố, trên một ngọn núi lớn với rừng thông già là khu trường nổi tiếng của các bà Sơ là “Couvent des Oiseaux” với các nữ sinh xinh đẹp như mộng, trong bộ đồng phục váy đầm xếp nếp màu xanh đại dương từ những gia đình khá giả ở khắp miền Nam gửi đến nội trú.”

     TRẦN NGỌC TOÀN cho biết ở về phía Nam là ấp Du Sinh gồm những người Bắc di cư và hướng dẫn tiếp:

     “Qua một núi thấp với những ngôi biệt thự sang trọng nhìn về hướng thung lũng xóm Lò Gạch sẽ đến khu trường nội trú Tiểu học “Petit Lycée” với cơ sở khang trang nằm ẩn khuất trong rừng cây thơ mộng. Về hướng Đông, qua nhà máy điện thường được dân chúng gọi là Nhà Đèn, qua Cầu Đúc rồi leo dốc Duy Tân gần như thẳng đứng dẫn lên phố Hòa Bình. Nếu tiếp tục đi về hướng Đông Nam sẽ qua những ngôi biệt thự lộng lẫy, kiêu kỳ hơn nữa trên con đường mang tên bác sĩ Yersin với khu Tòa Án, rẽ vào Trung Tâm Thí Nghiệm Chủng Ngừa của cố bác sĩ Yersin, vào Biệt Điện số 1 của Vua Bảo Đại, gần bên rừng Ái Ân với cảnh trí thật thơ mộng vắng vẻ… 

     Ở ngã ba rẽ vào Biệt Điện số 1 là cơ sở hành chánh của chính quyền, sau này có khi được lấy làm Tiểu Khu cho đến lúc dời lên cơ sở của Đại Biểu Cao Nguyên Trung Phần do các ông Tôn Thất Hối và Nguyễn Văn Đãi đảm trách đến ngày cuối cùng.
     Ngay sau lưng đường Yersin là thung lũng sâu hẹp của Ấp Xuân An, Dốc Nhà Bò, Suối Cát dẫn về Suối Tía xuống tận Núi Voi dưới chân đèo Prenn. Một bên là trường Dòng Domaine de Marie tức là địa phận Đức Bà, một bên là sân vận động nhỏ rồi đến ngôi Nhà thờ Con Gà với tháp chuông cao có hình con gà trên cùng. Kế đến là khách sạn Du Parc với tháp cao làm Đài Phát Thanh, Ngân Khố, Bưu Điện và khách sạn Palace nằm trên đồi nhìn xuống hồ nước Xuân Hương với đường bậc cấp thoai thoải, rộng lớn đưa xuống đường vòng quanh hồ với Nhà Thủy Tạ sơn trắng đứng trên doi đất chồm ra mặt nước. Một bên đường là Câu Lạc Bộ Thể Thao với sân quần vợt. Ở lưng đồi, có một khu biệt thự trước năm 1959 dành làm trường Quốc Gia Hành Chánh với khóa học đầu tiên.
     Tòa Đại Biểu Chính Phủ Cao Nguyên Trung Phần là một dinh thự bề thế nằm ngay trên đỉnh đồi nhìn về phía hồ nước với đường trải nhựa vòng cung và hàng rào sơn trắng uy nghi. Về hướng Đông là ngã tư đầu dốc Prenn đổ dốc vào thành phố. Bên kia là ngọn núi dành cho Biệt Điện số 2 của Vua Bảo Đại. Khoảng năm 1959, mới có cây xăng Kim Cúc được xây dựng ngay góc ngã tư này. Từ đây, đổ xuống dốc là hai dãy biệt thự đối mặt kéo dài xuống tận cuối dốc với khách sạn và nhà hàng Pháp tên “Au Sans Soucis”. Khi ngược lên là mấy ngôi biệt thự nằm lẻ trong rừng thuộc tài sản của một người Pháp ở Đà Lạt lâu đời tên là Farraut. Ngay tại đây, từ trước năm 1975, chính quyền đã phá núi làm bến xe cho các loại xe đò, xe chở hàng để giảm bớt lưu lượng trong thành phố. Quen thuộc nhất là nghiệp đoàn xe đò Minh Trung với loại xe hiệu Peugeot của Pháp được biến cải để chở cả 9, 10 người khách." 

     Thoạt tiên khi người Pháp mở đường lên Đà Lạt họ đã mở một đường đèo ngắn. Nhưng đoạn đường đèo này nguy hiểm nên sau đó bị bỏ hoang. TRẦN NGỌC TOÀN kể tiếp về lối lên Đà Lạt theo ngả đường bộ mới từ đèo Prenn lên:

     “Từ ngã ba đầu dốc Prenn mới, qua Biệt Điện sẽ đến khúc đại lộ Trần Hưng Đạo rộng gấp ba bốn lần những con đường trên Đà Lạt, với những ngôi biệt thự hai bên đường sang trọng dẫn đến khu Villa Alliance của các nhà Truyền Đạo Tin Lành ở ngay đầu dốc Prenn cũ, liền với ấp trại Hầm nổi tiếng với những khu vườn mận ngọt lịm chớm vàng ươm hoặc màu tím sẫm đen. Từ đây dẫn xuống Biệt Điện số 3 nằm khuất trong rừng núi sâu là nơi Vua Bảo Đại làm chỗ đi săn bắn.
     Đầu dốc đường vào trại Hầm, có một biệt thự làm Night Club, mãi đến thập niên 60 mới dẹp bỏ. Từ đây đi về hướng Đông là đường đi Phan Rang với đèo qua Trại Mát, Trạm Hành, Đơn Dương, đèo Ngoạn Mục, Sông Pha. Bên trái, trước khi đến khúc quanh nhìn xuống hồ Than Thở là một biệt thự lúc xưa làm chỗ “mãi dâm” công khai cho lính viễn chinh Pháp (borden militaire). Bên phải là hai trụ sở của hướng đạo Pháp để lại.
     Trại Mát là một làng nhỏ bên đường với ngôi Nhà Thờ Cao Đài khá lớn và vườn cây cà phê, rau cải. Bên trong xa có ghềnh và thác nước nhỏ rất ngoạn mục nhưng chưa được khai thác thương mại và xóm dân gần đa số di cư từ Quảng Nam, Quảng Ngãi vào. Từ Trạm Hành phải đổ con dốc 4, 5 cây số mới đến Đơn Dương với hồ nước Đập Đa Nhim do người Nhật xây dựng thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
     Song song với đường đi Trại Mát, nối dài đường vòng hồ Xuân Hương là con đường nằm ngang dưới chân biệt thự và phòng mạch của bác sĩ Sohier, đã sống gần trọn đời tại nơi này, đưa vào Nha Địa Dư Quốc Gia và Trường Trung Học “Grand Lycée Yersin”. Trường sở bề thế chiếm hẳn một chỏm núi rộng cả ngàn mét vuông với các dãy nhà hai tầng làm phòng ốc cho lớp học, nhà nội trú, phòng thể dục với sân rộng lớn hơn một sân bóng đá và một tháp chuông vươn lên khỏi chòm rừng thông, ở hướng Đông, nhìn xuống hồ nước…     

     Từ ngã ba vào Nha Địa Dư, đường vòng qua Ga Xe Lửa tọa lạc trên một mảnh đất khá rộng san bằng một chỏm núi với ấp Hồng Lạc nằm dọc theo khe nước. Ấp này mới thành hình từ năm 1951 với khu trại gia binh dành cho Ngự Lâm Quân đồn trú bảo vệ Hoàng Triều Cương Thổ. Đường xe lửa chạy song song với đường bộ đi về Trại Mát đến Đơn Dương. Ở những chặng đường đèo, xe lửa được giữ lại bằng móc sắt ở giữa đường với thêm một đầu máy đẩy lúc lên dốc và hãm lại lúc xuống dốc. Sau này đường xe lửa ngưng chạy vì an ninh đã trở thành trụ sở của Hàng Không Air Việt Nam để lập thủ tục đưa hành khách bằng xe ca về tận Phi trường Liên Khương (cách 20 cây số về Nam).
     Từ Ga xe lửa qua ấp Cô Giang, Cô Bắc là nơi có một biệt thự nghỉ mát cho Không Quân trước năm 75. Với nhiều biệt thự theo kiểu của Anh, Ý đến tận ngã rẽ vào trường Võ Bị Đà Lạt, trước khi vào khu phố Chi Lăng và hồ Than Thở ở phía Đông”…

     Sau khi hướng dẫn du khách đi thêm nhiều quãng đường nữa qua một số cơ sở tại Đà Lạt TRẦN NGỌC TOÀN không quên nói tới một số nơi ăn uống:

     “Đến năm 54, những tiệm phở Bắc nổi lên với Phở Bằng ở đường Hàm Nghi, Phở Tín bên hông chợ và cà phê Tùng với cà phê Ban Mê Thuột và nhạc trào lưu mới quyện trong khói thuốc lá mịt mù. Vài năm sau có gia đình lưu lạc từ Nam Vang lên đây mở tiệm hủ tiếu Nam Vang lừng danh. Gần rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp, đầu hẻm từ Phan Đình Phùng đi qua đường Hai Bà Trưng là quán Mì Quảng với hương vị đặc biệt nổi danh lại do một ông người Bắc vào Nam từ những năm 1940 đứng nấu. Ngay góc đường đầu dốc Duy Tân có tiệm làm bánh mì Vĩnh Chấn nóng giòn từ sáng sớm cho đến khuya” … “Về khuya, khi các tiệm tạp hóa đóng cửa, quanh khu chợ Hoà Bình và đường nhỏ trước mặt khách sạn Thủy Tiên đã mở ra các gánh bắp nướng, cháo gà, bún riêu, bún bò… cho khách đi chơi về đêm.” 

dalat20khu20hoa20binh-01.gif - 109.45 Kb

     Du khách cũng có thể theo chân nhà văn, nhà thơ VI KHUÊ, một người từng lập nghiệp tại Đà Lạt lâu năm, để được hướng dẫn viếng thăm thành phố một vòng với thật nhiều chỉ dẫn, thật nhiều chi tiết, tương đối là đầy đủ về mọi mặt. Tại nước ngoài, vào năm 1985 VI KHUÊ viết:

     “Những ai đã ra đi từ Đà-Lạt, hôm nay xin hãy làm du khách trở về thăm viếng thành phố xưa! Trước tiên, tôi xin giới thiệu các khách sạn lịch sử: Đà-Lạt Palace trông ra Hồ Xuân Hương, Mimosa đường Phan Đình Phùng, Thủy Tiên số 7 Duy Tân, Duy Tân 83 Duy Tân, Mộng Đẹp khu Chợ Mới, Sans Souci đường Nguyễn Trường Tộ, Cẩm Đô đường Phan Đình Phùng, quán Bồng Lai trên đường Đà-Lạt - Đơn Dương, và các khách sạn bình dân: Phú Hòa, Vinh Quang, Hòa Bình, Nam Việt, Tịnh Tâm, Cao Nguyên, Thanh Ngọc, Thanh Tùng, Lữ Quán Sài Gòn, Văn Huê và Lam Sơn sau lưng trường Văn Học...

     Sau các khách sạn, hẳn quý vị cần biết đến các nhà hàng, các tiệm ăn. Đây là các nhà hàng sang trọng nhất: Dalat Palace, Chic Shangai, Mê Kông, Nam Sơn và Thiên Nga, Mỹ Quang, Như Ý, Kim Linh. Bình dân hơn trên những con đường khác. Nhà hàng lịch sự, đặc biệt về món ăn Pháp là Dalat Palace, L'Eau Vive. Đặc biệt về các món ăn Việt, xin mời quý vị đến quán nem Ninh Hòa, số 7 đường Cường Để, có thịt bò bảy món. Nhà hàng bình dân, đặc biệt về các món ăn Việt Hoa là Đông Hải ở khu Hòa Bình với các món bánh bao rất được ưa thích. Tiệm ăn đặc biệt về món Bắc, có Mỹ Hương và Bắc Hương khu Hòa Bình; về các món Huế là các tiệm ở đường Hàm Nghi và Thành Thái. Ngoài ra còn rất nhiều quán bình dân nữa, đáng kể là quán Thanh Phương ở đường Võ Tánh, giá cả rất thích hợp với những thực khách không nặng túi tiền.
      Ngoài các nhà cơm sang trọng hay bình dân, chúng ta còn vô số món ăn “dân tộc” rất được tán thưởng. Xin được nhắc lại một lần các tiệm bán các món đặc biệt và hấp dẫn ấy, và mong rằng quý vị, các bạn - nhất là các cô hay ươn mình không thích xơi cơm đừng quá nhớ nhung! Tiệm phở Bằng, đường Hàm Nghi, Tùng, Đắc Tín khu Hòa Bình, Ngọc Lan bến xe Đà-Lạt - Sài Gòn, Như Ý đường Nhà Chung, Bắc Huỳnh và Phi Thuyền trước ga Đà-Lạt, hủ tiếu Nam Vang đường Minh Mạng. Mì vịt Thạnh Ký đường Phan Đình Phùng. Mì Quảng: quán cạnh rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp, các quán tầng dưới Chợ Mới và một quán nằm khuất trong hẻm đường Hoàng Diệu, trước trường Văn Học. Bún riêu, bún ốc ở tiệm Thành Công, đường Nhà Chung. Bún bò giò heo: các tiệm ăn Huế hầu hết đều có món này, nhưng khi nói đến bún bò, người ta thường nghĩ đến quán cây số 4, góc đường Hai Bà Trưng và La Sơn Phu Tử. Món Nai Đồng Quê -tên gọi thanh nhã của món thịt cầy- được tìm thấy ở quán Lá Mơ đường Thành Thái; món thịt dê ở quán Ngọc Dung, hồ Than Thở, gần bến xe Chi Lăng.
     Ngoài ra còn rất nhiều quán bình dân nữa, lưu kỷ niệm nhiều nhất phải kể hàng đầu là dãy quán trước trường Đoàn Thị Điểm, đường Trương Vĩnh Ký, với hàng xôi gà, cháo gà “ngon nhất nước” của ông bà Hà Đức Bản, xe mì bánh tôm “ngon hết xẩy a” của chú Tàu nhẫn nại cần cù, xe chè 6 món thơm phức của hai cô nữ sinh trường Tân Sanh, quán cháo lòng nóng hổi và ngọt lịm của mẹ con cô Tí đon đả chào mời...

     Về phần các cô cậu thuộc lứa tuổi ô mai thích khoác áo lạnh đi tìm gặp các bạn bè để sưởi ấm lòng nhau, thì quán chè, tiệm kem và quán cà phê là những nơi thích hợp nhất, quán chè Tuổi Ngọc, tiệm kem Việt Hưng, các quán cà phê Tùng, Trúc, Tình Nhớ, Trăng Cao Nguyên, Yêu, Thủy Tạ, Shangai và Mê Kông là nơi thuận tiện nhất để họ và cả lớp người lớn tuổi hơn thường ngồi lặng hàng giờ nhìn ra khu phố chính của thành phố ngắm các tà áo bay... hay luận đàm thế sự?
     Khách sạn và nhà hàng ăn là những nơi du khách cần phải biết trước tiên, khi đặt chân đến một thành phố. Nhưng hẳn là còn vô số điều quý vị cần được hướng dẫn và giới thiệu thêm nữa, trên bước nhàn du đến cõi... Bồng Lai này, bởi vì nhu cầu của con người sau khi no cơm ấm áo còn nhiều lắm, mà thành phố của chúng ta thì lại chứng tỏ có khả năng đáp ứng... mọi nhu cầu của kiếp nhân sinh! Thiết tưởng còn gì thực tế hơn -về phần chúng tôi- là xin gửi đến quý vị nguyên bản kê khai tất cả các địa điểm quý vị cần dùng tới. (Xin quý vị cứ tìm tên trong niên giám điện thoại sẽ có địa chỉ rõ ràng).”

     VI KHUÊ giới thiệu tiếp:

     “Các phòng tắm nước nóng: Ninh Thuận, Việt Trang, Minh Tâm, phòng uốn tóc Mô Đéc, Hoàng Cung, Mỹ Dung, Tường Lan, Isana, Cô Sương, Cô Tiền... Các tiệm chụp hình Hồng Thủy, Đại Việt, Mỹ Dung, Văn Khánh, Người Ảnh.
     Phòng khám bệnh bác sĩ Phan Lạc Giản, bs Hoàng Khiêm, bs Nguyễn Văn Thạnh, bs Nguyễn Đình Thiều, nữ bs Nguyễn Ngọc Diệp, bs Đào Huy Hách, bs Mai Trung Kiên, bs Nguyễn Văn Liễn. Tiệm thuốc Tây: Đà-Lạt, Hoàng Hy Tuần, Nguyễn Văn An, Hàm Nghi, Duy Tân, Diên Hương, Nguyễn Duy Quang, Lâm Viên... Phòng chữa răng: nha sĩ Võ Thị Sâm, ns Minh Đa, ns Trần Tú, ns Nguyễn Văn Trình. Văn phòng luật sư: Ls Ngô Tằng Giao, Ls Hoàng Huân Long, Ls Phùng Văn Tuệ, Ls Nguyễn Văn Trương.   
     Các rạp chiếu bóng Hòa Bình, Ngọc Lan, Ngọc Hiệp. Vũ trường La Tulipe Rouge, Đào Nguyên.” 

 dalat1970_6.jpg - 77.12 Kb

  
     Trong cuộc hành trình viếng thăm Đà Lạt một vòng, du khách cũng có thể theo chân nhà thơ VIỆT TRANG để được hướng dẫn đi từ trung tâm thành phố tới một số địa điểm khác với lời giới thiệu đầy thơ, đầy mộng:

     “Giờ đây, cùng ta nhẹ gót dạo một vòng thành phố nhé. Xuôi Dốc Làng và băng qua đại lộ Phan Đình Phùng -con đường Cầu Quẹo cũ, giờ đây nhà cửa sầm uất- ta hồi tưởng chiếc cầu gỗ Cửu Huồn mảnh mai vắt qua con lạch nhỏ, nước từ hồ Vạn Kiếp đổ về mà nhớ lại những ngày thơ ấu.
     Cho ta đến xóm Lò Gạch, thăm lần cuối người bạn vong niên thân kính. Ngôi nhà nằm bên một con đường hẻm cụt, sỏi đá gồ ghề, cỏ dại len mặt đất, tĩnh lặng như một sơn am mà:
          “Vậy đó thân thương vài bạn đến
          Hàn huyên quên cả chuyện hàn vi.”
     Rồi đường quê đưa chân ta về Huyện Mọi. Thác Cam Ly cận kề, dòng nước đổ bên đường. Lặng đứng nghe thác tỉ tê cùng đá lạnh rêu xanh. Lưng chừng sườn núi còn thấp thoáng vài túp nhà sàn cũ kỹ hun khói của đồng bào Thượng chưa muốn trở lại rừng sâu:
          “Vài cánh chim chiều chao cỏ biếc
          Một làn gió muốn động cành dương
          Đầy vơi thác có cùng mưa nắng
          Mà biết đâu rồi khách viễn phương.”
     Vòng qua cầu Bá Hộ Chúc ta đến Dốc Nhà Bò. Đâu còn nghe tiếng gầm gừ của đàn bò xa xưa nhai cỏ, đâu còn âm thanh khô khan của những vành sắt xe bò đổ rác siết trên đường đá chông chênh.
     Trại Hầm nằm âm thầm cuối sâu một thung lũng đồi núi quanh quanh. Vẫn ngôi chùa Linh Phong thanh tịnh, ẩn hiện cảnh tỉnh. Vẫn còn sót lại vài gốc mận già cằn cỗi đã từng cho ta những chùm trái mọng chín lườm, hương vị ngọt thơm làm tê lịm bờ môi của tuổi học trò.
     Ta trèo lên đỉnh Gió Hú, sẽ kiễng chân nhìn về hồ Than Thở. Một chấm làn nước cạn đục. Đâu còn nữa tiếng thở than của lau lách vọng lại. Giờ đây đã lặng câm bên Đồi Thông Hai Mộ, một nửa vùng đồi bên kia biến thành những vườn rau xanh trơ trọi, xốn xang.
     Ta xin thành chim bay ngược lên hướng Bắc, thăm qua những địa danh phát nguyên từ dân gian: như cây số 4, số 6, như cây số 9, số 12 và mãi tận Tùng Lâm, Kim Thạch, Mang Linh, Suối Vàng. Một vùng đồi núi chập chờn, tròn trĩnh tựa những viên ngọc bích, phủ nhẹ cỏ biếc nhung tơ, điểm xuyên những cụm nhà sơn thôn êm ả, muôn thuở thanh bình dưới chân Núi Bà hiền hậu.
     Phong cảnh thiên nhiên như thủy mặc sao mà đẹp xinh, thanh tú, những địa danh sao mà bình dị, hồn nhiên như tình người Dalat vậy”

     Tình của VIỆT TRANG với Đà Lạt thật thiết tha, thật cảm động, hãy nghe nhà thơ phát biểu nỗi lòng thủy chung của mình:

     “Dalat ơi! Ta muốn in dấu chân khắp cùng Dalat, song chân ta quá mỏng. Ta muốn ôm trọn Dalat trong vòng tay, song tay ta lại quá ngắn.
     Ta muốn nhìn từng ngọn cỏ lá cây, nhưng núi rừng bạt ngàn đã ngăn che tầm mắt của ta rồi.
     Dẫu mai này, như cánh gió ngàn phương, như bóng mây vạn lối, mảnh hồn ta xin nguyện chung thủy ở bên cạnh bạn hữu thiết thân và với Dalat mến thương, mà một thời đã dành cho ta biết bao nghĩa tình thâm sâu quý trọng.
     Thôi chào Dalat nhé!” 

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

dalat1970_3.jpg - 73.84 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Dạo Quanh Đà Lạt Một Vòng (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#13)