Đà Lạt Trong Tôi _ (Đỗ Khắc Khương) (Văn)

  • PDF

ĐÀ LẠT TRONG TÔI

Đỗ Khắc Khương

dalattrongtoi1a.jpg - 38.26 Kb

     Cuối niên khóa 1964-1965 tôi đậu tú tài 2. Lúc ấy hảy còn "ngây thơ" lắm lắm nhưng lòng thì mang không biết bao nhiêu là "mộng hồ thĩ", "Nam nhi chí" chỉ muốn thoát ly khỏi vòng kềm tõa của gia đình để rộng đường bay nhảy, tung hoành. Nhân đọc báo Chính Luận, biết viện đại học Đà Lạt sẽ khai giảng khóa hai của một phân khoa mới: "Chính Trị Kinh Doanh và Quản Trị Xí Nghiệp" vậy là coi như đã đúng ý chàng. Thế là có màn òn ỉ hai bậc sanh thành cho lên Đà Lạt dùi mài kinh sử, biết đâu may ra không là tổng thống thì cũng là CEO chớ phải chuyện đùa.

Ngày tựu trường

     Ngày khai giảng không có Mẹ dắt tay tới trường, không có lá bàng rơi lả tả trên đường đi đến lớp học nhưng bù lại trên trời có những đám mây thật trắng nằm hờ hững giửa bầu khí quyển trong vắt, xanh lơ. Màu xanh chỉ có ở khung trời Đà Lạt. Trên mặt đất là những hàng thông tươi mát trong nắng vàng rực rở, hòa lẩn tiếng xào xạc của nhiều bước chân dẩm trên sỏi đá với dòng người dao động không ngừng. Giảng đường mang tên Hồng Y Spellman chật cứng sinh viên.
     Tôi may mắn còn trong tuổi được hoãn dịch vì lý do học vấn và đó cũng là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy các chàng trai rường cột của quốc gia trên đường "tầm sư học đạo".
     Ngực áo mang huy hiệu tròn có hình cây thông xanh với hàng chử Viện Đại Học Đà Lạt viền quanh đã là một hình thức phô trương của đám sinh viên "nhóc" bấy giờ.
     Trọn niên khóa đầu ở Đà Lạt, tôi mê mệt với niềm háo hức của một chú ngựa non, một con chim mới ra ràng, chạy nhảy tung tăng, nhào lộn bay lượn, tìm tòi sục sạo.
     Tôi tập làm quen với cách ghi chú bằng những chử tắt. Tôi tận hưởng những tự do chợt có, hăng say khám phá những môn học mới và từ lúc nào không biết, tôi yêu mến Đà Lạt như đã quen biết nhau từ kiếp trước.

Những ngày thi cử

     Khoảng hai tháng trước kỳ thi cuối khóa (thi lên lớp) là những ngày và đêm học rút. Học trong phòng cơm, trong thư viện, dưới gốc thông, trong cầu xí, học chết bỏ.
     Tất cả những thú vui trần tục đều tạm thời được gác sang bên để dành thì giờ nghiền ngẫm các bài giảng khuông vàng thước ngọc. Tôi ở trong đại học xá, có nghỉa là tiện nghi căn bản về điện nước rất giới hạn. Từ chạng vạng tối đến gần nửa đêm, khi tất cả mọi bóng đèn dều được bật lên cùng lúc cho ra một thứ ánh sáng tù mù như trong truyện liêu trai. Khổ hơn nửa khi anh em hồ hởi cắm lò điện nấu nước pha cà phê hầu tỉnh táo mà thức trao dồi kinh sử thì ánh liêu trai trở thành ánh đèn đom đóm.
     Nhưng rồi mọi sự cũng qua, thi cử thì ở đâu cũng vậy, sinh viên phải biết tánh ý của từng giáo sư để theo đó mà làm bài cho hạp nhản của thầy. Hồi đó không có vụ A,B,C khoanh mà phải viết bài như làm luận. Bài viết dài năm, bảy trang giấy là chuyện thường tình.

Đà Lạt thân quen

     Qua năm thứ nhì tôi đã rành rẽ Đà Lạt lắm rồi. Xe phở nào ngon, cơm phần nào rẻ, mì, cháo, hủ tiếu, chè, xôi tôi đều biết hết. Những ngày cuối tuần khi thì la cà làm cộ suốt buổi ở khu Hòa Bình, xong đổ dốc Hàm Nghi ăn cơm tôm chua thịt luộc hay xuống Phan đình Phùng ăn mì Quảng hoặc tả pín lù. Lúc nào thèm phở thì quá bộ đến bến xe đò làm một tô "phở gối" với củ hành tím ngâm dấm chua-dòn-ngọt rồi trở bộ lên Tùng uống cà phê hoặc vào Mekong uống nước chanh đường đấu láo giết giờ.
     Hôm nào nhớ nhà thèm các món ăn quen thuộc thế là vài ba người chung tiền mua rau thịt mang về đại học xá chiên xào, nấu nướng. Dĩ nhiên tuy không ngon bằng nhà hàng nhưng cũng còn khá hơn cơm thầu và hành động "tự lực cánh sinh" ấy đã là một cố gắng sáng tạo thực tế nhất của các "đại học sĩ" xa gia đình muốn tìm lại chút không khí và hình ảnh thân quen.
     Thật là một thiếu sót lớn lao nếu hồ Xuân Hương và nhà thủy tạ không được nhắc đến nơi đây.
     Ôi những đêm rằm, những đêm vầng trăng tròn, sáng vằng vặc, lơ lửng trên nền trời cao trong vắt không một gợn mây. Những đêm thần tiên như thế, đến nhà Thủy Tạ, chọn cái ghế bố ngoài sân thượng, gọi ly cà phê phin sửa nóng hay ly trà chanh đường cùng với gói thuốc lá Hoa Kỳ thì thật không có gì say đắm cho bằng. Giòng nhạc chập chùng từ trong vọng ra văng vẳng hòa với tiếng hát nỉ non của Thanh Thúy, Phương Dung, Minh Hiếu...đã làm mềm lòng biết bao lử khách. Từng làn gió nhẹ hiu hắt thổi vào từ mặt hồ gây cảm giác mát lạnh càng làm cho hơi thuốc lá thơm hơn, vị cà phê đắng chát thêm lên và hương trà chanh đường nồng nàn như hơi thở người yêu.
     Mắt mở thật to nhìn vầng trăng tròn rực rỡ xuyên qua bóng dáng đen thẩm của hàng thông trên đồi, nhìn gợn nước lăn tăng phản chiếu một màu vàng óng, êm ả, lặng lờ thật không biết mình đang ở cảnh tiên hay nơi hạ giới. Ngoài tiếng nhạc từ máy phát thanh hầu như không còn một tiếng động nào khác. Tất cả mọi người đều giử im lặng tuyệt đối.
     Vào nhà Thủy Tạ nằm ghế bố, nhâm nhi ly cà phê, tận hưởng hơi thuốc lá, để tâm hồn hòa lẩn vào sự thanh tịnh, bát ngát của không gian, để thân xác hội nhập những hương vị thanh tục của trần thế theo tôi đó không phải là một cuộc du hí mà là một buổi nhập thất, tọa thiền.
     Cãm nghỉ đến Đà Lạt mà không nhắc đến phần xinh đẹp nhất của thị xã thông xanh thì hẳn là một lổi lầm khó bề tha thứ.
     Hầu hết du khách tạm dừng chân trong khoảng thời gian ngắn ngủi đều đã biết qua những tên gọi của hồ, thác, thung lủng, núi, đồi. Xuân Hương, Than Thở, Prene, Cam Ly, Gougha, Pongour, Ái Ân, Tình Yêu tên gọi sao quá trữ tình. Tuy nhiên đó cũng chỉ là phần thắng cảnh thiên nhiên, bất động và thiếu vắng linh hồn. Phần xinh đẹp nhất của Đà Lạt mà tôi muốn nhắc đến là những em bé, những nàng thiếu nử xuân thì, sinh ra, lớn lên với sương mù và khí lạnh ở vùng đồi núi cao nguyên. Những em bé còn bồng hay chập chửng đi đôi má mịn màng, hồng ửng như trái đào non. Những cô gái trong tuổi ô mai gọn gàng trong bộ áo đầm hay chiếc áo len ngắn cũng vẩn đôi má tròn đầy, mịn màng với hai đốm hồng đỏ tự nhiên như đã được dồi lên một lớp phấn màu. Những nàng thiếu nử nhanh nhẹn, linh động, duyên dáng trong các bộ y phục hợp thời trang nhất của tây phương hay trong chiếc áo dài cổ truyền Việt Nam, cũng vẩn đôi má tròn đầy, mịn màng với hai đốm hồng đỏ tự nhiên, nhìn gần thấy được cả những tia gân nhỏ li ti. Đốm hồng đỏ trên đôi má của các cô gái Đà Lạt đã gây nhiều ngạc nhiên và thích thú. Từ nào đến giờ tôi ở Sài Gòn nóng bức, mưa nắng hai mùa, mắt chỉ quen với làn da nám đen hay trắng xanh hoặc hồng đều đặn, thứ tự, lớp lang, màu của kem lót da cùng phấn dồi. Tôi chưa hề được nhìn thấy cái mịn màng, hồng hào thiên tạo trên đôi má các em bé và những nàng thiếu nử Đà Lạt. Cái hồng hào và mịn màng thiên tạo ấy thoạt nhìn tưởng là một sự kiểu cách vụng về, một nét tô vẻ quá tay. Nhìn kỷ mới biết đó là nét duyên dáng cá biệt, một sắc thái đặc thù của người sinh trưởng tại Đà Lạt hay vùng cao nguyên.

Những ngày hè

     Sau kỳ thi lên lớp, đa số sinh viên khăn gói trở về nguyên quán. Tôi trở về Sài Gòn bắt đầu những ngày hè của một sinh viên thực thụ nghỉa là đi tìm việc làm kiếm tiền dằn túi, sắm sửa linh tinh. Hội sinh viên Đà Lạt, do anh Nguyễn huỳnh T. làm chũ tịch, được cơ quan viện trợ Hoa Kỳ USAID dành cho một số công việc trong ba tháng hè. Tôi may mắn lọt vào nhóm người được nhận mặc dầu vốn liếng Anh ngử hảy còn vụng về, yếu kém. Công việc chỉ là sắp xếp hồ sơ, như tùy phái, kêu đâu làm đó tha hồ cho mấy bà, mấy cô thơ ký Việt Nam làm cho Mẻo sai chạy có cờ. Niềm an ủi và cũng là điều làm tôi thỏa mản là suốt ba tháng hè không phải bẻn lẻn ngửa tay xin tiền cha mẹ, không phải ngần ngại khi sắm sửa và lúc nào cũng sẳn sàng nếu có bạn bè nhắn nhủ ra ngồi lê lết trong mấy quán nước Mai Hương, Phạm thị Trước ngoài phố Lê Lợi hay Pole Nord, Givral, Brodard trên Nguyễn Huệ, Tự Do.
     Tuy nhiên niềm vui lớn nhất là tin thi đậu lên lớp. Tôi yên tâm hưởng nốt những ngày hè êm vui còn sót lại với gia đình trong niềm hứng khởi sẽ trờ lên Đà Lạt nay mai tiếp tục cuộc sống sách đèn.
     Sau kỳ thi lên lớp năm thứ hai niên khóa 1966-1967, tôi lại trở vế Sài Gòn và nhờ bạn bè chỉ dẩn đã tìm được một công việc lương khoán rất hấp dẩn, đầy tính chất phiêu lưu, mạo hiễm thích hợp cho những chàng trai mới lớn mang nhiều khát vọng như tôi.
     Tôi được nhận vào làm điều tra viên cho chương trình Kế Hoạch Kinh Tế Hậu Chiến (Post War Plan) và đồng thời làm đại diện cho liên danh "Sư Tử cầm bút" tranh vào Thượng viện của giáo sư Vũ quốc Thúc. Địa bàn hoạt động là tỉnh lỵ Chương Thiện và các quận trực thuộc. Tôi đáp xe đò xuống Chương Thiện , túi dầy cộm tập giấy bạc vừa lảnh từ ngân quỷ của chương trình Kinh Tế Hậu Chiến và của liên danh Sư Tử cầm bút. Con đường từ quốc lộ 4 vào Chương Thiện hay đúng hơn là quận châu thành Vị Thanh thật gập ghềnh, lổ chổ những hố mìn đầy bùn nước. Có những hố quá sâu, hành khách phải xuống đi bộ để xe đò có sức vượt qua.
     Quận châu thành Vị Thanh không có gì ngoài một con đường chính trải nhựa loang lổ, khu chợ nhà lồng nhỏ tí teo, năm bảy hàng quán bán mọi thứ lặt vặt và một khách sạn hết sức nghèo nàn. Con đường dài chừng hai trăm thước, dứt ngang bởi một thửa ruộng đầy nước. Từ Vị Thanh, muốn qua những quận lỵ khác, phương tiện di chuyển là ghe, xuồng hay đi bộ. Không có đường tráng nhựa nối tiếp giửa các quận lỵ với nhau. Tôi đến khách sạn mướn phòng, một căn phòng nhỏ với bộ bàn ghế mộc mạc cùng cái giường cây có chiếc nệm mềm nhảo và dỉ nhiên phải thêm cả cái mùng. Muổi nhiều không thể tưởng vì chung quanh quận lỵ là kinh rạch, hồ ao, đầm vủng chằng chịt. Khi màn đêm buông xuống, phương cách duy nhất để tránh muổi là chui vào mùng. Tôi có mua nhang trừ muổi, nhưng đốt lên để xua muổi thì mình hít khói cũng ngất ngư. Thôi thì chui vào mùng cho gọn.
     Vì lý do an ninh, tôi chỉ có thể đi đến những xả gần quận lỵ châu thành, những nơi tương đối không phải là địa bàn hoạt động của du kích. Việc làm cũng dể thôi, bản vấn đề lục đã có sẳn chừng vài chục câu hỏi, cứ theo đó mà nói chuyện với quý vị Xã trưởng hay các ông thơ ký Hội Đồng xã. Những câu hỏi chỉ thâu gồm trong vấn đề mùa màng, đất đai, nông, ngư sản, cây trái, cày cấy, gặt hái, nhân sự. Mổi ngày đi được tối đa hai xã, phần vì phương tiện di chuyển khó khăn, phần vì mổi câu hỏi tuy ngắn nhưng viết ra trọn câu trả lời cũng đã thành rất dài, làm gì có máy ghi âm.
     Sau khi hoàn tất nhiệm vụ điều tra, đã dán bích chương và lên diển đàn thuyết trình tranh cử cho liên danh mình đại diện tôi giả từ Chương Thiện với tấm lòng thơ thới hân hoan. Tôi chỉ nghĩ đến những ngày hè còn sót lại với xấp tiền chưa xài hết cộng thêm số bạc sẽ lảnh khi giao hoàn các bản vấn đề lục. Hè năm ấy tôi có đủ phương tiện để may sắm tùy thích, quần terylene Ăng Lê, áo cánh dơi màu sặc sở của dân chơi thứ thiệt, giày Gia nhọn láng và cùng bạn bè ngồi quán dài dài. Niềm vui thật sự đã tăng đến tột đĩnh khi kết quả kỳ thi được niêm yết. Trên bản danh sách đó có tên tôi.

Đà Lạt 1967-1968

    Trở lại Đà Lạt lần này tôi cảm thấy mình lớn hẳn lên. Đà Lạt đối với tôi bao giờ cũng là nơi an dưởng tâm hồn. Lòng tôi phơi phới, con tim sao quá thân thuộc với từng con đường nhỏ, với mổi gốc thông xanh, với những buội mimosa vàng phấn và những cành hoa anh đào hồng nhạt. Dảy lầu 4 và 5 trong đại học xá, khu vệ sinh trống trải, nhà ăn ồn ào đầy mùi trần tục cạnh sân bóng rổ, bóng chuyền quả thật gần gủi xiết bao. Giảng đường Spellman, Thụ Nhân, thư viện, văn phòng, nhà gác với trạm thư và tháp chuông nhọn thẳng đứng trong khuông viên trường đã in sâu trong tiềm thức tự thuở nào. Những tháng đầu của niên khóa êm ả trôi qua. Sinh viên vẩn ngày hai buổi mang tập sách vào lớp, mắt nhìn, tai nghe, tay ghi chép. Bạn bè đã có một số bỏ cuộc vì không qua nổi kỳ thi thứ nhì hay may mắn có phương tiện "di tản sớm" du học nước ngoài.
     Sau hai năm ở Đà Lạt, tôi trở nên đứng đắn, chững chạc hơn trước rất nhiều. Đã không còn những bởn cợt nham nhở, hết rồi những buổi đi rong, chấm dứt chuyện thừa dịp tối trời, đêm mò xuống rẩy hái trộm artichoke của nhà vườn, ngưng màn chôm chỉa thức ăn của nhà thầu và bớt quấy phá vặt bạn bè trong lớp hay các "đại học sĩ" cùng phòng. Trở về Sài Gòn nghỉ Tết, cuộc tổng công kích Mậu Thân đã lưu tôi lại Sài Gòn lâu hơn thường lệ.
     Trong những ngày chờ đợi, tôi nao nức, bồn chồn mong mau đến lúc tựu trường. Rồi tôi cũng được trở lên Đà Lạt, nhưng lần nhập học kỳ này không mang niềm hân hoan của sự tái ngộ sau một thời gian dài xa cách. Niền vui của những ngày xuân đã bị bóp chết trong sự bùng nổ dử dội của cuộc chiến ngay sát cạnh mình. Chỉ còn những lo âu, thắc mắc cho tương lai của chính mình, của lớp học và của nước nhà. Đã mất đi niềm tin vào một ngày mai tươi sáng, đã tan rồi mộng ước của tuổi thành niên. Bây giờ đây, sự tàn khốc của chiến tranh đã phơi bày tỏ rỏ. Tôi, một con nai vàng ngơ ngác, sống trong ảo ảnh từ bấy lâu nay, ngụp lặn trong mê muội thuở nào bổng dưng nhìn thấy sự thật phũ phàng. Tôi chợt ý thức được niềm đau của cái chết , nổi khổ của chia lìa và hơn tất cả là sự tan vở của những ước vọng, những đam mê đem sở học thi thố với đời.

Quân Sự Học Đường

     Để sự thật được thễ hiện rõ rệt hơn, chúng tôi bắt buộc phải tham gia cuộc huấn luyện quân sự học đường do các sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt phụ trách. Tất cả nam sinh viên được tụ tập vào đội ngũ, mặc đồng phục kaki vàng, đôi mủ nhọn hình thoi, mang giày bố, đi diển hành theo nhịp đếm một- hai và tập tháo ráp vủ khí, loại súng cổ lổ sỉ cạc bin M1. Những người chủ xướng cuộc huấn luyện này phũ dụ rằng để tạo cho sinh viên khả năng bão vệ trường sở khi có biến (?). Công sự phòng thủ loại dả chiến được dựng lên rải rác trong khuôn viên trường và sinh viên phải chia phiên gác đêm.
     Cái hào khí thực tập quân sự rồi cũng qua đi, bộ kaki vàng được dùng thay đồ ngủ và các công sự phòng thủ nay do côn trùng chiếm ngự làm nơi ẩn trú.
     Đời sống sinh viên trở lại bình thường sau buổi lể mản khóa nhưng tâm trạng mọi người đã không còn được như xưa. Tôi thu mình vào ốc đảo riêng, sống trầm mặc, lặng lờ. Đó là lúc Đà Lạt, với khung cảnh trữ tình, với giá lạnh cao nguyên, với mưa mờ lất phất đã lôi cuốn tôi vào những đam mê mới đầy ủy mị, đã ru hồn tôi vào những xúc động tột cùng của lứa tuổi thành niên.
     Tôi hiện đang có người yêu. Nàng ở Sài Gòn, hiền. xinh và ngây thơ, duyên dáng. Tôi yêu nàng là điều không thể chối cải, là chuyện hiển nhiên như số trời đã định. Thế nhưng tôi ở Đà Lạt, xa nàng gần 400 cây số. Chưa bao giờ tôi thấy lòng mình trống trải, thiếu vắng đến như vậy nhất là sau những buổi tập dượt quân sự học đường. Tôi không còn là anh sinh viên năm thứ ba của trường Chính Trị Kinh Doanh nửa. Trong bộ đồng phục kaki vàng với nón thoi, giày bố, tôi chỉ là một thằng con trai danh phận nửa nạc, nửa mỡ. Lính không ra lính, quan chẳng ra quan, quân thì không phải mà dân thì chẳng giống ai. Trong cơn khủng hoảng đó, tôi trốn chạy, chui đầu, úp mặt vào quán cà phê để lảng quên đời....
     Rồi mùa thi lại đến. Tôi dồn hết thì giờ và năng lực vào việc học. Tôi học say mê như chưa bao giờ biết học là gì. Xong phần thi cuối, tôi khăn gói ra bến xe đò trở về Sài Gòn ngay ngày hôm sau. Tôi trở về Sài Gòn trong vui buồn lẫn lộn. Năm thứ tư, theo chương trình ấn định, sẽ được khai giảng ở Sài Gòn.
     Như vậy có nghĩa là tôi sẽ không còn dịp trở về căn phòng thân thương trong dảy lầu 5 đại học xá. Những bước chân tôi sẽ không còn cơ hội dẫm lên các bậc thang, các viên sỏi trên những lối đi nhỏ đưa đến nhà ăn, giảng đường, sân bóng chuyền, thư viện... Tôi sẽ phải xa Đà Lạt, xa những hàng thông xanh mướt rù rì trong gió, xa những đóa hoa anh đào hồng nhạt lung linh trong nắng sớm, những buội mimosa vàng phấn mịn màng lờ lững dưới nắng chiều. Sẽ không còn những buổi làm cộ vòng khu Hòa Bình, những đêm nằm nhìn trăng ở nhà Thủy Tạ hay những ngày dài ngồi đấu láo ở Mekong.

 Hình ảnh yêu mến tích lủy trong ba năm dài nay sẽ chỉ còn là kỷ niệm.

     Các biến cố dồn dập như đường dao thật bén do một bàn tay thô bạo, phũ phàng chặt xuống, nhẩn tâm cắt đứt những liên hệ, những trói buộc giửa tôi với Đà Lạt. Nổi đau đớn vì cuộc chia ly đột ngột tưởng đã phai đi theo năm tháng, nào ngờ vẩn còn bàng bạc trong đời cho mãi đến hôm nay.
     Mùa hè năm 1968, nhờ Trịnh bình Nam giới thiệu, tôi được nhận vào làm "tài liệu viên" của chương trình, rất tiếc tôi không nhớ được tên gọi, có nhiệm vụ thống kê và kiểm tra tất cả công chức các cấp, các ngành được hoản dịch vì lý do công vụ. Chương trình phối hợp giửa Nha Động Viên thuộc Bộ Quốc Phòng, Viện Thống Kê cùng cơ quan Dân Sự Vụ Hoa Kỳ.
     Dựa vào những tiêu chuẩn đã được ấn định sẳn cho từng chức vụ hành chánh như chủ sự, chánh sự vụ, trưởng ty, giám đốc v.v. đương sự được xếp hạng cao-thấp để ưu tiên hoản dịch. Tôi có nhiệm vụ liên lạc với Nha Động Viên, sưu tập hết những tài liệu liên hệ đến quý vị công chức hành chánh để các cô thơ ký đục lổ vào phiếu điện toán chạy theo chương trình do các thảo chương viên ở Viện Thống Kê soạn thão với sự cố vấn và tài trợ của cơ quan Dân Sự Vụ Hoa Kỳ. Từ bao giờ, công việc sắp xếp, gạn lọc, truy tầm hoản dịch của các viên chức hành chánh đều làm tay, nay nhờ có đàn anh Hoa Kỳ giúp đở nên được chạy bằng máy.
     Dỉ nhiên lảnh lương và thụ hưởng quyền lợi theo tiêu chuẩn Mỷ, dù chỉ là tiêu chuẩn hạng bét, cũng đáng đồng tiền bát gạo như được mua bánh, kẹo, nước ngọt... trong phòng ăn (cafeteria) nơi cao ốc tôi làm việc và thỉnh thoảng được đi xe hơi Falcon có máy lạnh với xếp Mẽo trong một vài công tác đặc biệt.
     Chưa bao giờ trong lúc làm việc tôi được chung đụng, gần gủi với nhiều người đẹp đến như thế. Hè năm 1966 làm việc cho USAID tuy cũng có nhiều phụ nữ nhưng dạo ấy tôi hảy còn quá ngây thơ, rụt rè, cho dù mấy cô có chú ý đến, tôi cũng chả để tâm bận bịu làm gì. Hè 1968 thì khác. Vì công việc, tôi phải "đống đô" thường trực ở Nha Động Viên, đường Gia Long. Nhiệm vụ của tôi là lục lọi, thu thập hàng đống tài liệu củ kỹ, bụi bặm ngày này qua ngày nọ mà bắt chán. Tiếp xúc với mấy "ông cửa quyền", lính văn phòng hách xì xằng ở Nha Động Viên mãi cũng rét, tôi hay tìm cớ trở về "bản doanh" ở đường Phạm ngũ Lão.
     Phái nam làm việc trong chương trình này thuộc nhóm thiểu số. Ngoại trừ một xếp Mẽo, còn lại toàn là dân Mít gồm một ông trưởng sở, trách nhiệm trực tiếp với xếp Mẽo, một ông điều hợp viên và hơn 10 cô, bà thơ ký trực thuộc cơ quan Dân Sự Vụ Hoa Kỳ. Về phía Việt Nam Cộng Hòa thì có hai ông thảo chương viên là nhân viên của Viện Thống Kê. Nam và tôi là hai đứa con ghẻ chỉ được tuyển dụng tạm thời. Như vậy, dân Mít Nam có sáu mạng, trong đó bốn mống đã vợ con đề huề, còn lại Nam và tôi là trai tơ mới lớn lại nhờ mang danh nghỉa sinh viên làm hè nên được mấy cô để ý đặc biệt.
     Môi lần dắt xe ra khỏi cổng Nha Động Viên tôi mừng như thoát được tai nạn. Căn phòng làm việc chật hẹp, tối tăm với đống hồ sơ củ mèm, cao ngất ngưởn đã không gây được chút thú vị nào. Chả bù với cái cao ốc sáng sủa, máy lạnh mát rượi chạy rù rì suốt ngày, trong đó ngoài những hương vị trần tục có thể sờ mó, ăn tươi, nuốt sống được (tôi muốn ám chỉ bánh, kẹo, nước ngọt, trái cây mua ở cafeteria) còn có những nàng thiếu nử vui vẽ, trẻ trung, nhí nhảnh, mỹ miều, duyên dáng lúc nào cũng nở nụ cười tươi như hoa chào đón "anh Khương". Trịnh bình Nam "lớn chức" hơn tôi nên lúc nào cũng tỏ vẻ nghiêm nghị, chững chạc khiến mấy cô có khí e dè mổi khi tiếp xúc. Tôi thì dể dải, vui tính, sao cũng được, thế nào cũng xong nên mấy cô thường hay tỏ bày tâm sự. Cô thì khoe chiếc áo dài mới may. Cô thì hỏi ý màu sơn móng tey hay kiểu tóc mới chải. Có cô còn "nhỏng nhẻo" bắt đền "anh Khương" chiếc móng tay gảy với lý do đống hồ sơ tôi mang về quá nhiều khiến nàng phải "key punch" mệt nghỉ.
     Ngày vui qua mau, công việc của Nam và tôi vừa hoàn tất thì cũng đến lúc tựu trường.

Năm cuối 1969

     Như đã định, năm thứ tư, chúng tôi học ở Sài Gòn. Từ năm thứ hai, trường Chính Trị Kinh Doanh đã được chia làm hai ngành chuyên biệt: Chính Trị và Kinh Doanh. Vào năm cuối cùng, ngành Chính Trị lại được phân ra làm hai chuyên khoa: Ngoại Giao và Truyền Thông Báo Chí.
    Giáo sư Nguyễn ngọc Linh, lúc ấy là đương kim Tổng giám đốc Việt Nam Thông Tấn Xã, đãm nhiệm chức vụ Khoa Trưởng chuyen khoa Truyền Thông Báo Chí. Nhờ vậy, sinh viên theo đuổi chuyên khoa này được theo học và thực tập ngay tại Việt Tấn Xã, đường Hồng Thập Tự.
     Sài Gòn không phải là Đà Lạt, Việt Tấn Xã không phải là Viện Đại Học, Cư Xá Lử Gia vùng tôi ở không phài là đại học xá, ngôi nhà nơi tôi cư ngụ với cha mẹ không phải là dảy lầu 5 và căn phòng tôi đang sống không phải là căn phòng vuông vức mang chử E trước cửa.
     Ngày tháng trôi qua không có gì đặc biệt để gợi nhớ. Mổi ngày tôi đến lớp nghe giảng và đi thực tập săn tin, viết bài như một phóng viên, ký giả thực thụ. Chúng tôi học xữ dụng máy ảnh, cách tráng phim làm âm bản và in ra bản hình (print). Quý vị giảng sư, hầu hết là các ký giả lão luyện, tận tình hướng dẩn, chỉ dạy và dìu dắt nhóm sinh viên tập tểnh học nghề.
     Những tháng cuối cùng của niên khóa, tôi miệt mài trong thư viện quốc gia tham khảo các tập báo củ cho bài luận tốt nghiệp tựa đề "Những đóng góp của làng báo Việt Nam trong việc xây dựng Hiến Pháp đệ nhị Cộng Hòa 1967".
     Rồi cũng đến ngày công thành danh toại, tôi lặng lẽ trở lên Đà Lạt dự lể ra trường.
     Trời Đà Lạt vẫn đẹp như thuở nào. Khí hậu Đà Lạt vẫn lành lạnh như bao giờ. Những người con gái Đà Lạt vẫn đôi má tròn đầy với hai đốm hồng đỏ tự nhiên. Những con đường mòn, những bậc thang, giảng đường, thư viện, tháp chuông, phòng thư tín, những dảy lầu trong đại học xá, nhà ăn, sân bóng rổ, bóng chuyền vẫn như xưa. Đàn cá vẫn ngoi lên mặt nước tìm mồi trong chiếc ao nhỏ dưới chân đồi. Những buội mimosa sau cửa sổ, nơi căn phòng củ của tôi, vẫn đơm hoa vàng hực. Những đóa hướng dương tròn to vẫn ngất ngưởng trên cành, đong đưa theo làn gió nhẹ. Những hàng thông vẫn ngàn đời rù rì êm ả, dịu dàng. Nắng vẫn hanh vàng, ấm nồng, rực rở nhảy múa trên hàng cây anh đào, trên các đóa hoa hồng, cúc, thược dược tươi mát muôn màu. Bầu trời vẫn xanh lơ, trong vắt, màu xanh chỉ có ở Đà Lạt mà thôi.
     Một năm rồi xa nhau, nhìn lại cảnh củ, lòng bao xúc động , bùi ngùi. Tôi ờ lại Đà Lạt đến cuối tuần. Những ngày ngắn ngủi còn lại đủ cho tôi và các bạn đi ăn "phở bến xe", uống cà phê Thủy Tạ và Tùng, ăn cơm tiệm Bắc Hương của chị em cô Bảo gần bến xe "lam", ăn cơm tôm chua thịt luộc đường Hàm Nghi, ăn mì Quảng và tả pín lù ở phố Phan đình Phùng, ăn cà ri dê ở trại Hầm và làm cộ khu Hòa Bình.
     Trên chuyến xe trở lại Sài Gòn, tôi ngậm ngùi hồi tưỡng những kỹ niệm vui buồn của ba năm học ở Đà Lạt và tôi biết chắc rằng khoảng thời gian mấy ngày ngắn ngủi vừa qua đã là những giờ phút cuối cùng của cuộc sống sinh viên, một cuộc sống đẹp nhất mà tôi vẫn sẽ mãi nâng niu, ấp ủ trong suốt cuộc đời.

Đỗ Khắc Khương

dalattrongtoi2a.jpg - 17.44 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Đà Lạt Trong Tôi _ (Đỗ Khắc Khương) (Văn)