Ngày Trở Về _ (Pensée Dalat) (Văn)

  • PDF

NGÀY TRỞ VỀ

Pensée – Dalat
 
  hoadaodalat_13.jpg - 30.61 Kb  

     Tôi về thăm lại Việt nam sau hơn mười năm xa nhà. Trước hôm đi, lòng tôi nôn nao xúc động,  không đêm nào ngủ được, chỉ mong chóng đến ngày lên đường.

     Khi máy bay dừng lại ở Bankok để đổi phi cơ tôi có dịp nhìn ngắm và chụp hình trong khu sân bay nước bạn. Quả là Thái Lan trong kỷ nguyên mới đã tiến và phát triển bội phần qua phong cách làm ăn và vẻ lịch lãm của một nhà ga quốc tế ở châu Á. Tôi không biết mình nên hình dung nước VN ngày nay  như thế nào, có thay đổi nhiều không, à,  mà sao lòng tôi hồi hộp quá khi viên phi công báo đã bay vào không phận của quê hương.

     Máy bay càng lúc càng xuống gần để tôi có thể nhìn thấy bao nhiêu nóc nhà quen thuộc, thấp lè tè bên bờ những kênh rạch đen ngòm, kề bên là những cao ốc khổng lồ vênh váo. Ðường xá, xe cộ đan xen nhau lộn xộn, loang lổ những mảng màu đen, xám và xanh của cây lá.

     Ra khỏi máy bay  đến khu vực hải quan làm thủ tục nhập cảnh. Thời gian ở đây cũng khá lâu vì phải nối đuôi nhau chờ,  trên nét mặt mọi người đều mang vẻ mệt mỏi, căng thẳng. Ai cũng cố tạo cho mình sự rõ ràng để mau chóng xong thủ tục đầu tiên khi về lại quê nhà.

     Cuối cùng,  sau một tiếng đồng hồ chờ đợi và mở to mắt để nhận dạng những chiếc valise, đã có người kéo nhầm hành lý của chúng tôi vất xuống đất rồi để đó luôn khiến chúng tôi tìm hụt hơi. Sau khi kiểm tra  đầy đủ hành lý và tiến ra phía tiền sảnh của sân bay, khâu cuối cùng kiểm tra hàng hóa, tôi mới có dịp quan sát và thấy quả sân bay TSN giờ có rộng lớn hơn nhưng hình như là một công trình xây dựng chưa hoàn chỉnh, đây đó còn những thiếu sót cần thiết của một sân bay lớn nhất nước. Nhìn qua cửa kính phía trước,  lố nhố người chờ đón, ai cũng cố nhìn cho ra người thân của mình, có người vẫy, người gọi trông thật vui mắt. Người VN mình  cũng lạ, rất thích đi đón người ở xa về và đưa tiễn người đi xa, thành ra đôi lúc chỉ có một người xuất ngọai mà biết bao người đưa tiễn, tạo thành cảnh náo nhiệt ở sân bay.

     "Ôi trời ơí! Saìgòn của mẹ đây sao?" Ðó là tiếng kêu đầu tiên của thằng rể người Ðức  khi nó nhìn  xe cộ chạy hỗn loạn và cái nóng kinh người ập vào cơ thể! Thú thật tôi rất hoảng hốt và sợ hãi vì lượng xe cộ quá tải đang di chuyển trên những con đường chật hẹp, hàng quán hai bên lề đường mọc lên chi chít hơn trước ngày tôi ra đi, buộc các loại xe hai bánh chạy nháo nhào, không luật lệ gì cả, ai cũng muốn giành đường để vượt lên phía trước. Tại các góc ngã tư đường phố,  các cảnh sát cũng chỉ đứng nhìn chứ chẳng biết làm gì hơn.

     Chúng tôi về ở ngôi nhà ba tầng mới xây của cô em gái. Nhà xây khá đẹp, chắc chắn và thoáng mát. Vậy mà cứ sang ra ai nấy đều tắm, trưa tắm và trước khi đi ngủ cũng lại tắm! Hình như càng tắm lại càng thấy nóng, nóng kinh khủng!. Chúng tôi về, nhà em gái tôi nhộn nhịp, ồn ào hẳn lên vì lũ cháu gọi tôi bằng bác kéo về tất cả 8 đứa. Ngày tôi đi, đứa mới mấy tuổi, có đứa chưa ra đời mà hôm nay đứa nào cũng lớn và xinh xắn cả. Tôi vui mừng  và nghe tình cảm ruột rà lan tỏa trong tim. Cha mẹ tôi nhờ trời và nhờ "viện trợ" từ nước ngoài, cả hai người vẫn khỏe mạnh ngoại trừ những lúc trái gió trở trời. Các em tôi có đứa khá giả, xây nhà, tậu xe, có đứa làm ăn xuềnh xoàng, kiếm ăn từng bữa nên con cái thiếu thốn trông rất tội. Bánh kẹo và những quà cáp linh tinh được chia đều cho mỗi gia đình, trẻ con đứa nào cũng vui. Tiền bạc làm ăn chắt chiu hơn mười năm qua biếu em út làm quà, đứa nào túng thiếu còn cho thêm, các em tôi đều mừng ra mặt.

     Việc đầu tiên tôi đi thăm bố chồng tôi tại nghĩa trang Bình hưng Hòa, thăm cốt anh và em trai tôi tại một ngôi chùa trên đường Kỳ Ðồng.  Chùa chiền ngày nay khác thời trước ở chỗ giờ mở cửa có qui định hẳn hoi chứ không còn là "thiền môn" luôn rộng mở để chúng sanh được thoải mái đến cúng Phật nữa.

     Tôi về đi thăm hết thảy bà con, lối xóm xa gần bên chồng và  gia đình tôi. Ai cũng dành tình cảm trìu mến, thân ái cho chúng tôi. Các con tôi ra đi từ khi còn bé, nay về thăm được mọi người cưng chiều thì thích lắm!. Chẳng mấy chốc mà chúng đã vui đùa tíu tít với những đứa em họ ở nhà như thể đã từng chơi với nhau từ tấm bé vậy. Không có một sự xa cách nào giữa chúng cho dù hai đứa con của tôi chưa nói sõi tiếng Việt lắm.

     Họ hàng của cả hai bên có người nghèo đi, người làm ăn phát đạt hơn trước. Tuy nhiên trong những lần gặp gỡ, trò chuyện thì dù người gặp thời hay không đều có chung một tư tưởng hướng ngoại. Họ nói và mong ước về một cuộc sống bền vững ở ngoài tổ quốc và ưu tư cho cuộc sống bấp bênh của mình tại quê hương.

     Về thăm nhà lần này tôi tình cờ và may mắn gặp lại một số thầy cô đã dạy tôi những năm ở trường Bùi thị Xuân Ðàlạt: Thầy Xuyên, thầy Dũng, cô Ấu Lăng, cô Thu Cúc. Tôi muốn viết chi tiết một chút về những người Thầy, Cô hiện đang sống ở Saìgòn vừa kể trên, để nếu các học sinh BTX cũ - hiện đang sinh sống khắp nơi trên thế giới - đọc được bài viết này, các bạn sẽ nhớ lại quãng đời học sinh đẹp đẽ trước đây ở Ðàlạt, nhớ đến công lao của các thầy cô đã truyền dạy cho chúng ta kiến thức và cùng với những người đó chúng ta đã có được một số kỷ niệm vui, buồn đậm nét của tuổi học trò.

     Thầy Trần văn Xuyên hiện đang sống cùng với một người anh trong cư xá Ðồng Tiến quận 10, tôi không nhớ chính xác số nhà của thầy, chỉ xin nói rõ thầy mang một chứng bệnh ngặt nghèo: Máu đưa lên óc không đều, hay bị tắc nghẽn khiến hai mắt của thầy hiện nay nhìn không rõ.  Thầy đã lớn tuổi nhưng vẫn còn ở vậy, lặng lẽ dạy kèm kiếm sống. Thầy rất cảm động khi những đứa học trò cũ đến thăm. Chúng tôi đã cùng chụp hình với thầy và trò chuyện với thầy rất lâu.

     Xe hơi của cô bạn từ Pháp về đưa chúng tôi đến thăm cô Thu Cúc, nhà ở trên đường Lê văn Sĩ (Trương minh Giảng nối dài cũ), trong một con hẻm không sâu lắm. Gặp cô chúng tôi không ngờ cô khác hẳn ngày còn dạy việt văn ở BTX: Tóc cô bạc gần hết, dáng gầy guộc, duy chỉ còn đôi mắt sáng, môi cười duyên dáng và giọng Huế của cô vẫn ngọt dịu như xưa. Cô và trò đến thăm cô Ấu Lăng vì nghe cô bị ung thư ngực từ một năm nay. Tuy đang ở nhà và thỉnh thoảng phải bay sang Singapore để điều trị cô vẫn mang dáng vẻ là vị nội tướng trong gia đình. Giọng nói của cô nghe vẫn rắn rỏi, hoạt bát như ngày nào còn đứng trên bục giảng.

     Người cuối cùng chúng tôi đến thăm là thầy Dũng - dạy môn Toán ở BTX. Thầy thành hôn với cô Mai Hoa dạy cùng trường. Thầy đã nghỉ hưu và mở lớp dạy toán còn cô mở một hiệu bán thuốc tây cũng tại ngôi nhà đang sống. Thầy Dũng vẫn mang dáng vẻ của một thầy giáo năm nào: điềm đạm, ít nói, hay cười, áo quần gọn gàng rất mực.

     Thầy, cô và học trò chúng tôi đã ăn cơm trưa tại một tiệm ăn đặc sản tôm cua trên đường Hiền Vương cũ. Bữa ăn thật ngon miệng vì toàn những món mà chúng tôi đã lâu không được thưởng thức, lại mang đậm hương vị quê nhà: Chả giò cua, miến xào cua, càng cua hấp, nướng… Ôi thôi, đang ngồi viết lại bài này mà nghe nhớ và thèm quá đi mất!. Vừa ăn chúng tôi vừa ôn lại cho nhau nghe những mẫu chuyện hoặc những kỷ niệm thời còn học ở BTX. Có những chuyện mà thời xa xưa ấy chúng tôi đã dấu các thầy cô, vậy mà bây giờ lại "tự thú" hết trơn khiến thầy cô từ ngạc nhiên chuyển sang thích thú phải phì cười, nước mắt ứa ra vì cảm động. Cô Thu Cúc bị đám học trò yêu cầu bật mí "love story" của cô với đức lang quân làm cô đỏ bừng cả mặt khi kể lại cho chúng tôi nghe duyên kỳ ngộ giữa cô và thầy Thiết dạy bên THÐ. Học trò chúng tôi mỗi đứa nói về cuộc sống, về chồng con của mình cho thầy cô nghe, cả những chuyện về xã hội, về vận nước, về những người thầy cô đã ra đi, còn ở lại… Cô Cúc và thầy Dũng đều rất vui và cảm động trong lần gặp mặt này với chúng tôi. Cuộc vui tàn,  chúng tôi chia tay nhau trong sự lưu luyến, mong ngày gặp lại.

     Tôi về Ðàlạt thăm em gái tôi lấy chồng và hiện đang sống gần trường Bùi thị Xuân. Một buổi sáng có mưa nhẹ tôi một mình đi bộ đến cổng trường xưa.  Lòng tôi run lên vì xúc động khi bước vào sân trong: cũng những dãy phòng học này, tôi đã theo thầy cô dồi mài kiến thức, những giờ học phải đổi lớp, leo cầu thang ngại gì đâu nhưng mà vui.  Biết bao sinh hoạt của nhiều niên học đã diễn ra trên sân trường này, biết bao vinh dự đạt được do công lao của các thầy cô phụ trách lớp phải hao tâm tổn sức, tổ chức cho đám học trò còn khờ dại trong những buổi mít tinh, những buổi văn nghệ gây quỹ cho trường… Tôi đi một vòng quanh trường, tìm đến lớp học năm đệ nhất C có cô Phi Loan dạy Triết và đứng nhìn vào. Những căp mắt xa lạ  ngạc nhiên khi thấy tôi - một phụ nữ đứng tuổi làm gì lại đứng tần ngần trước cửa lớp?- Cô giáo mới ư?- Chắc là học trò cũ vì ánh mắt bà ta như tìm kiếm cái gì đó không còn nữa và đầy tiếc nuối.

     Ði ngang mảnh sân nơi trước đây có một chỗ mà bọn học trò chúng tôi rất thích trong giờ ra chơi để mua những món ăn mộc mạc đem vào lớp ăn vụng như me, ổi… Không còn nữa nơi chốn thân quen ngày xưa này. Từ sân sau của trường, tôi nhìn sang bên kia đồi cù, nơi trước đây vào những hôm có giờ học buổi chiều,  KM, KP và tôi kéo nhau lên đó ăn trưa bằng những thứ đem theo, trải tấm nylon trên cỏ nằm nhắm mắt mơ màng, cảm giác thật thích thú với những buổi trưa như vậy. Ðồi bây giờ đẹp hơn nhưng là vẻ đẹp được chăm chút, tôn tạo chứ không còn vẻ tự nhiên như trước. Ðồi cù ngày nay là điểm dành cho du khách sang trọng đến để chơi môn thể thao quý tộc. Nó được rào chắn như cô con gái đẹp nhà giàu sống trong cảnh "kín cổng cao tường" vậy.

     Ngang qua hội trường là nơi ghi nhiều kỷ niệm văn nghệ với tôi ở niên khoá 71-72, năm tôi đã gặp Q.- người đã khiến trái tim thơ ngây của tôi xao xuyến. Tôi vừa tròn 20 tuổi,  đã phải khóc rất nhiều khi những người thân yêu của tôi ra đi trong cuộc chiến. Bạn bè có những đứa cũng đã quấn những vòng khăn tang khi tuổi xuân còn rất trẻ. Biết bao những kỷ niệm vui buồn lại ùa về trong trí nhớ, nhưng tựu lại vẫn là những tình cảm nồng nàn, thương mến và lưu luyến dành cho ngôi trường  Bùi thị Xuân,  khi tôi bước chân đi qua khỏi cổng trường, hoặc hai tuần sau bay trở về nương thân nơi xứ người xa tắp.

     Những con đường từ trường dẫn xuống Hàm Nghi, Phan đình Phùng, Trần cao Vân không còn dễ thương, thơ mộng như trước đây nữa. Người ta đua nhau xây cất, kinh doanh. Cửa tiệm,  quán ăn dọc dài từ ngoài cổng trường BTX  đến trước cổng trường chiến tranh chính trị là một cái chợ chồm hổm mất thẩm mỹ không sao tả nổi!. Ngày trước lúc tan trường, áo dài  BTX và Bồ Ðề trắng thấp thoáng dọc các con đường nói trên đến khu Hòa Bình, quanh bờ hồ Xuân Hương… làm tăng thêm vẻ đẹp cho thị xã. Bây giờ ổ gà đầy những con đường ngày xưa chúng tôi đi học, các nắp cống dọc theo  đường từ trường ra,  khấp khuỷu, lồi lõm, bước đi phải cúi nhìn cẩn thận kẻo vấp ngã khổ thân!.

     Tôi đi bộ lên khu Hòa Bình ghé thăm HKM, con bạn đang có xe bán bánh mì mỗi chiều trước cửa trường Ðoàn thị Ðiểm. M. là đứa bạn thân còn bám trụ tại Ðàlạt lâu nhất. Nó không có ai thân thích ngoài bên chồng là người đã sống lâu năm ở đây. Gặp nhau hai đứa tíu tít chuyện trò, nhắc người xưa chuyện cũ rồi hẹn nhau sáng mai đến nhà thăm BKP – một bạn thân trong bộ ba chúng tôi cùng học đệ tam C – đã mất năm 80.

     Ðàlạt theo tôi mãi mãi vẫn còn đẹp nếu như những phong cảnh thiên nhiên không bị nhân tạo hóa quá mức. Tâm hồn của du khách sẽ không quên Ðàlạt như chúng tôi trước đây đã sống và thở những luồng không khí tươi mát tự nhiên của đất trời ban tặng cho mảnh đất này. Dù đi đến đâu, xa cách bao năm Ðàlạt vẫn mãi là nơi chốn nhớ nhung da diết cần tìm về để "soi bóng mình."

     Không hiểu trong lòng và trong mắt nhìn của những người đang sống ở Ðàlạt có cùng ý nghĩ như tôi không? Hỏi M. thì nó bảo :“Tao giờ khổ hơn trước nên chẳng quan tâm, chỉ lo ngày bán được nhiều bánh mì thịt thì mới có tiền đong gạo mày à!". Vào chợ Hòa Bình gặp XL, giờ là chủ một cửa hàng bán xe motor đời mới gần photo Hồng Châu, L. bảo : - Ðàlạt hết vẻ thơ mộng rồi B. ơi! Có chăng chỉ còn trong ký ức bọn mình mà thôi.

Pensée Dalat 
                                                            Kỷ niệm lần về thăm Dalat


dl34.jpg - 75.23 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Ngày Trở Về _ (Pensée Dalat) (Văn)