Đồi Cao, Lũng Thấp, Thông Ngàn (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#17)

  • PDF

dl_suongmo.jpg - 26.68 Kb

ĐỒI CAO, LŨNG THẤP

THÔNG NGÀN   


     Đứng trên đỉnh núi Lang Biang mà ngắm Đà Lạt thời thật tuyệt! Theo cảm giác đầu tiên của rất nhiều người thì đây là một thành phố đang treo mình giữa một thung lũng nhung, bởi sau những ngôi biệt thự lộng lẫy là những cánh rừng thông ngút ngàn trải thảm, uốn lượn theo các triền núi mấp mô xa tít tận chân trời. Đồi thông xanh hay thung lũng tình là nơi những cặp tình nhân ngồi kề nhau dựa lưng vào gốc thông xanh để thốt lời tình tự.

     P. MUNIER viết trong tạp chí Đông Dương (Indochine), số 28, năm 1941, chuyên đề về Đà Lạt: 

     “Đà Lạt cũng là xứ sở của thông. Thật là kỳ diệu khi đi dạo trong rừng thông, hít thở mùi hương thơm ngát và trong lành! Không có bụi cây, không có dây leo, không có nhà tranh: một thảm cỏ lý tưởng với những cánh hoa màu vàng, xanh, tím, hoa cà... Qua rặng thông, du khách có thể nhìn thấy chân trời - chân trời xanh của rừng xa. Đà Lạt không phải là một thành phố, Đà Lạt là một bãi cỏ dợn sóng trên đó cây thông là loại cỏ khổng lồ được điểm bằng những cánh hoa màu đỏ như son - những mái nhà.”

     Giáo sư HOÀNG XUÂN HÃN vào năm 1946 khi tham gia trong một phái đoàn đi dự hội nghị với thực dân Pháp diễn ra tại Đà Lạt đã viết lại như sau:   

     “Mà cảnh đô thị Đà Lạt thì đẹp thật, đối với những người quen với cảnh đồng bằng thán thán, thì cảnh tượng bày ra trước mắt, khi ngồi trong phòng cao khách sạn trông ra, thật vừa xinh, vừa êm, vừa biến thái. Trông gần thì hồ bày bên đồi cỏ, nhà cửa ẩn nấp trong những lùm cây; trông xa thì những dãy núi cao thấp kéo vòng quanh, thỉnh thoảng màu lục lại xen rừng thông xanh thẳm. Lối đi đất đỏ quanh hồ rồi ngoắt nghéo trườn lên đồi cỏ lục chung quanh. Tôi lắm lúc ngồi lâu, thu hình ảnh nước non vào ảo mộng.”

     Trong một đoạn khác ông viết bài thơ bày tỏ nỗi lòng của mình về tình trạng đất nước vào hồi đó:

“Núi Đà Lạt xa quanh mình uốn éo
Lửng lưng đồi, ai khéo vẽ rừng thông
Mặt hồ xanh, mây bạc bóng gương lồng
Trên cỏ lục, lối hồng đang uốn khúc
Ngắm cảnh tay người, thêm tấm tức
Gẫm mình việc nước vẫn đeo đai!”…

     Đà Lạt là thành phố rừng thông. Thông suốt bốn mùa hát vang lên khúc tình ca gửi vào năm tháng. Vắng bóng cây thông Đà Lạt sẽ như một cơ thể mất linh hồn. Hình ảnh ngọn núi cao Lapbe Bắc (Lapbe Nord) và cảnh Đà Lạt đã được nhà thơ NHẤT TUẤN nhắc tới trong bài “Đêm cuối cùng Đà Lạt”: “Tiếng hát ngày xưa.  Bài hát ngày xưa... Đã kể lại một chuyện tình dang dở”:

…“Rồi kỷ niệm về dần trong trí nhớ
Đêm cuối cùng hai đứa đi ciné
Những con đường Đà Lạt lúc vào khuya
Hoa lả tả rơi vàng đôi mái tóc
Gió buốt từ “Lap Be Nord” xa tắp
Anh vội vàng cởi áo... khoác cho em
Tiếng thở dài chen tiếng bước đi êm
Mình yên lặng dìu nhau cho đến sáng.

Và anh nhớ em hát bài Hoài Cảm
Giọng ngân buồn, môi gọi… cố nhân ơi
Đêm hôm qua trong tiệc cưới đông người
Lời hát cũ làm anh xao xuyến mãi.

Ôi ngày xưa sao giờ không trở lại?
Để em là riêng của một mình anh
Để anh nghe hoài giọng hát thanh thanh
Nhưng  câu chuyện chúng mình không kết cuộc

Vì hai đứa… tại vì… ai biết được?!
Nên giờ này anh phải sống xa em
Rồi tình cờ nghe giọng hát quen quen
Bài Hoài Cảm, đêm cuối cùng Đà Lạt!”

     Từ chốn cao thành phố Đà Lạt nhạc sĩ VŨ ĐỨC NGHIÊM cũng cảm hứng viết một bản nhạc có tên là “Trên đồi cao”, hình ảnh đôi tình nhân lãng mạn bên nhau trong khung cảnh núi đồi Đà Lạt để rồi lại đưa đến chia ly và nhung nhớ:

     “Khi em thướt tha trên đồi cao. Long lanh mắt huyền ngời ánh sao. Hàng mi cong chớp nhẹ như cánh hoa anh đào rung làn gió xuân rì rào. Run run nét môi trẻ thơ.
     Mong manh dáng mềm liễu tơ. Hàng mi cong thẫn thờ như cánh bướm ngu ngơ phân vân ngại tiếng động hờ.
     Trời cao xanh như mơ. Tình xuân êm như tơ.
     Làn mây trắng bay lặng lờ. Gió hiền hòa nhẹ nhàng.
     Nắng vàng đẹp dịu dàng. Bên ngàn suối reo cung đàn.
     Nhưng thôi phút vui xưa còn đâu. Rưng rưng mắt nghẹn lời nhớ nhau. Gửi về em tiếng lòng ta chất ngất ưu phiền trên đồi cao gió triền miên.”

     Đà Lạt từng được mệnh danh là “thành phố ngàn thông” vì nơi đây được bao quanh bằng những đồi núi chập chùng phủ thông xanh bạt ngàn tươi mát quanh năm suốt tháng. Thông Đà Lạt hầu hết là loại thông ba lá và phần lớn là do mọc tự nhiên. Cây thông ba lá của Đà Lạt xuất xứ từ đâu? Cho đến nay vẫn chưa ai trả lời được câu hỏi này. Chỉ biết rằng Đà Lạt là quê hương của thông. Ngoài giá trị kinh tế, thông còn làm cho Đà Lạt trở nên tươi mát, không khí thêm trong lành, quang cảnh thêm thơ mộng. Những cây thông mà người ở các nơi khác chỉ được nhìn thấy mỗi năm một lần trong những nhà hàng sang trọng vào dịp Noel, với những cành lá được kết đầy kim tuyến treo đèn nhấp nháy huyền ảo, thì ở Đà Lạt có cả một rừng thông dường như vô tận, quanh năm, suốt tháng.

     Rừng thông chập chùng của Đà Lạt cùng với gió núi, hương rừng, đường hoa và dốc đá cũng là nơi để gợi niềm nhung nhớ trong cảnh đời hợp tan chia lìa, như lời thơ trong bài “Đường hoa” của TÂM MINH:

“Ngàn thông cùng tấu khúc hoan ca
Vui đón người em ở chốn xa
Gió núi mơn man vờn gót ngọc
Hương rừng ngan ngát ướp chân ngà
Đường hoa xao động câu tình tứ
Dốc đá ngân vang điệu thiết tha
Từ buổi em xuôi về phố cũ
Đá mòn tâm sự lặng kề hoa.”

     Núi đồi trùng điệp, đồng cỏ xanh mơn mởn là những khung cảnh hữu tình, rừng Ái Ân, hồ Than Thở, thung lũng Tình Yêu… là những nơi hò hẹn của những kẻ yêu nhau. Nhớ về rừng thông Đà Lạt với cái tên cũ thời xa xưa là Bois d'Amour, nhà thơ HÀ BỈNH TRUNG viết bài “Rừng Ái Ân”:

“Rừng Ái Ân nào chẳng ái ân?
Hồ Than Thở khóc đã bao lần!
Chẳng ai tiếc nuối cho tình đẹp,
Để một người đi tiếc một thân.

Vắng bóng cố nhân từ dạo đó,
Dáng nào thay được dáng em yêu?
Mắt nào ru mộng, môi nào nhớ
Buổi hẹn gần nhau lúc xế chiều?

Ngày nay em trở lại tìm ta,
Đời họa chăng còn tóc điểm hoa!
Tình cũ thơ ngây dù lỡ dở
Vẫn còn mang nặng chuyện ngày qua...
Ta gọi tên em giữa đất trời,
Chỉ còn nghe tiếng vọng vang thôi,
Chỉ nghe tiếng suối hòa trong gió
Nhạt nắng, chiều buông, vắng một người!

Ôi! Những ngày qua, sao vẫn nhớ?
Nhớ ai? Ai nhớ đã bao lần?
Nhớ ai như nhớ hồ Than Thở
Và nhớ cây rừng nặng ái ân!”

     Sáng sớm, nếu ta không ngại trời lạnh, trèo lên đỉnh đồi, đón ánh mặt trời vừa nhô khỏi đỉnh núi. Trong sương mờ, lá thông xanh rờn được phủ những chấm sương li ti long lanh nắng sớm. Ta sẽ không biết mình sống thực hay mơ. Tất cả đều chập chờn ẩn hiện trong lớp sương mơ hồ được chiếu sáng bằng những tia nắng vừa mong manh nhưng cũng thật rực rỡ. Không gian tinh khiết và thơm lừng hương thông... Đà Lạt như thấp hơn, trời cao như gần lại và ta như một loài sâu nhỏ bé. Dựa cội thông già ta lặng nghe lá cành đùa sương gió, vang vọng mãi tình ca bất tận.

     Hãy nghe lời tả cảnh của TRẦN CAO LĨNH:       

     “...hạt thông theo gió bay rơi xuống đâu là nẩy mầm xanh tốt đến đó. Chả thế mà đã từng thấy từ khe hốc khô cằn cũng nẩy lên được một mầm thông non xoè lá vươn lên trời bé bỏng và ngơ ngác. Đà Lạt đâu cũng thấy thông và thông với những thân cao thẳng, vỏ nứt già dặn, nõn hoe vàng, lá xanh biếc. Thỉnh thoảng gặp những lão thông cằn cỗi vặn uốn những thế ngoạn mục hệt như trong tranh thủy mặc của Trung Hoa cổ xưa.
     Có nơi thông đứng chơ vơ một mình reo gió. Có nơi đông đảo hợp nhau lại thành rừng. Gặp hồ nước đọng mặt lặng như gương, thông lập tức xúm xít bao quanh, vươn mãi lên cao - chắc là để dễ soi mình vào bóng nước. Ở những chỗ như vậy chỉ cần một làn gió hiu hiu là ta đã nghe tiếng rì rào, như một câu chuyện thì thầm bên hồ than thở.
     Trên lưng đồi cong, thông cũng ưa tụ hội, xếp hàng thẳng tắp. Mỗi lần mặt trời soi trái sáng, ngọn thông bắt ánh dương lại loé ngời lên, làm cho từng lưng đồi xa, gần, trùng điệp đều như viền chỉ bạc, nhìn vào ta thấy như nơi ấy thường trực những “cây sinh nhật” vĩnh cửu. Kể cũng không ngoa, hàng năm biết bao nhiêu gốc thông đã lìa rừng về xuôi gây không khí ấm cúng cho biết bao nhiêu gia đình đang hướng lòng hân hoan về một Ngày Sinh Nhật.”

     Chúng ta cũng hãy theo chân QUÁCH TẤN và HÀN MẶC TỬ. Cuộc du ngoạn được QUÁCH TẤN hào hứng kể lại:

    “Khi đoàn ngựa lên đường thì mặt trời đã lên cao, sương mù đã tan hết. Trời ngập màu xanh, đất tràn màu xanh. Nhưng không phải chỉ một màu thanh thiên, một màu lục thảo, mà cả hàng nghìn sắc xanh, từ xanh nhạt lá non đến xanh đen mực đậm, và luôn luôn thay đổi theo thời gian và không gian. Về màu xanh, tưởng không đâu giàu hơn Đà Lạt.
     Đoàn ngựa đi nước kiệu nhỏ. Tử vui thích lộ ra nét mặt. Thấy những nấm đồi xanh tròn trịa mươn mướt xanh non, Tử bảo:
     - Thật giống in những bộ ngực của các cô gái mới dậy thì. Trông rõ ngon mắt.
     Một ông bạn tiếp:
     - Tôi lại thấy giống những vỏ dừa xanh chẻ đôi và úp sấp, làm cho tôi nhớ các cô gái Tam Quan!
     Một ông bạn khác nhăn mặt:
     - Còn tôi thì mỗi lần nhìn chúng, trí nghĩ ngay đến chỗ nằm nghỉ cuối cùng của tôi. Tôi tự nhủ: “Khi mình nằm ở dưới đó, tình cờ tỉnh dậy, muốn trở về dương gian cho vui thì làm sao cựa quậy cho nổi.”
     Cả đoàn đều cười. Một ông bạn mắng:
     - Mũi còn thò lò mà lo nghĩ đến nắm xương mục.
     - Lo nghĩ lần thì vừa, kẻo khi chết nghĩ không kịp.
     Tử vừa cười vừa hỏi tôi:
     - Còn anh thì thấy giống thứ gì?
     - Những nửa cam úp trên dĩa. Nguyên lúc còn nhỏ, có một lần tôi đau nặng, miệng đắng nên thèm cam. Nhưng ở làng Trường Định tôi không nhà nào có cam, nên đành nhịn thèm chớ không dám ngỏ ý cùng mẹ. Nhưng bà thân tôi đoán biết, cho người lên nhà bác tôi ở làng Thuận Nghĩa, cách Trường Định chừng 5 cây số, xin đem về cho tôi một quả vừa chín tới, phưng phức mùi hương. Tôi mừng quá sức, vội ôm riết quả cam vào lòng. Bà thân tôi âu yếm vuốt mái tóc tôi và nói: “Để má gọt cho con ăn”. Nửa muốn ăn, nửa tiếc quả cam đẹp, tôi trao cam cho bà thân tôi với vẻ ngập ngừng. Bà hiểu ý, mỉm cười, xẻ quả cam làm hai, một nửa gọt cho tôi ăn, một nửa úp trên chiếc đĩa con để bên giường tôi, tôi sung sướng ứa lệ... Những quả đồi kia luôn luôn gợi hình ảnh mẹ tôi với nửa quả cam úp trên dĩa.”    
    
     Từ đồi núi trên tầng cao với thông xanh ngút ngàn xin mời du khách thả bộ xuống lũng thấp. Những thung lũng của Đà Lạt cũng thông xanh nước biếc, phong cảnh cũng rất hữu tình.

     Nghe kể rằng nhạc sĩ PHẠM MẠNH CƯƠNG vì có một căn nhà sơn màu hồng và ở dưới một thung lũng tại Đà Lạt nên mới từ đó có cảm hứng mà sáng tác ra bản nhạc “Thung lũng Hồng”:

     “Gọi gió lên thung lũng hồng, mây trôi bềnh bồng. Hạt nắng lung linh tím dần, mông mênh thu vàng. Còn đó em yêu dỗi hờn, long lanh lệ buồn. Còn đó sương vây kín đầy, cho tình ngất ngây.
     Tình xa trên thung lũng hồng. Tình nhớ trên thung lũng hồng. Ngàn sau rồi sẽ khóc thầm. Tình yêu vụt theo lời gió.
     Tình xa trên thung lũng hồng. Tình nhớ trên thung lũng hồng. Ngàn sau tình cũng lỡ rồi. Tình yêu vỗ cánh mà đi.
     Còn nhớ trên thung lũng này, ru em tình mềm. Gọi nắng cho mây trắng về, cho trôi câu thề. Tìm mãi trên thung lũng hồng, hương yêu ngọt ngào. Người hỡi cho ta suốt đời, một mình lẻ loi.”

     PHẠM MẠNH CƯƠNG tâm sự với nhà báo TRƯỜNG KỲ: 

     “Mỗi nhạc phẩm là một bức tranh. Thí dụ như bài “Thung lũng Hồng” tả thung lũng của Ðà Lạt, buổi sáng mặt trời lên đẹp lắm, sương và ánh nắng hồng chiếu. Rồi từ Thung Lũng Hồng đó tôi nghĩ tới Ðà Lạt có thung lũng gọi là Thung Lũng Tình Yêu... Thường thường một nhạc sĩ nói về tình cảm dành cho một mối tình chẳng hạn thì làm một bài thôi. Một bài có dính líu đến mối tình đó. Còn đa số nghệ sĩ khi nào cũng có cái tưởng tượng phong phú. Nhiều người cô độc nhưng vẫn viết được nhạc tình yêu rất hay...”

     THUNG LŨNG TÌNH YÊU (Valée d’Amour) ở cách trung tâm thành phố chừng 5 cây số về phía Bắc, chìm sâu bên sườn đồi với những rặng thông quanh năm xanh biếc, một nơi lý tưởng cho những đôi trai gái bày tỏ tình yêu nhưng nhiều khi cũng là nơi cho con người tìm tới để than thở, quằn quại vì tình dang dở.

     Nhà thơ CAM LĨNH từng ghé qua đây và viết bài thơ “Thăm chơi thung lũng Tình Yêu”. Cảnh lúc này thật du dương tình ái:

“Thung lũng Tình Yêu khách dập dìu
Gốc cây ngồi mát mắt đăm chiêu
Vài con thuyền nhỏ trôi trong nắng
Mấy bác nhà nông thoảng dưới đèo
Trời cũng già chăng, mây trắng xoá
Hồ đang mộng nhỉ, nước trong veo
Từng đôi nam nữ cùng vai sánh
Thầm thỉ trao lòng giải chữ yêu.”
    

     LỆ HẰNG trong tác phẩm “Thung lũng Tình Yêu” cũng kể lại một chuyện tình. Thoạt tiên rất lãng mạn:

     “Những giờ rảnh chàng mang giá vẽ, dắt tôi xuống Thung Lũng Tình Yêu say mê ghi lại dáng tôi trên lụa bạch. Tôi nhìn con suối nhỏ reo vui, tôi nghe chim hót trong rừng thông vi vu. Tóc chàng bay dạt về một phía, đôi mắt tình tứ cười chao nắng. Rừng im ngái ngủ trong gió hạ miên man”…

     Để rồi lại buồn tủi xót xa cho đến cuối cùng của tập truyện:

     “Tôi nằm co ro dưới ba lớp chăn hồng. Hai hàm răng cắn xiết lấy nhau. Mắt tôi mở lớn nhìn lên trần nhà trắng xóa, chú thạch sùng chắc lưỡi tiếc thương tôi đang nuối tiếc người tình đầu tiên của mình đến quắt quay đau đớn.
     Đêm Đà Lạt hút sâu với những âm thanh vi vu của rừng thông dưới xa kia. Hai con chó của cha Viện trưởng nuôi để canh giữ nữ sinh viên nội trú rú lên từng hồi. Tôi trườn người, tôi trở mình, giường của Bích Lan im lìm. Tôi lăn về bên trái, bức tường câm nín mỉa mai tôi, đứa con gái bị tình phụ nằm cắn lưỡi nghiến răng một mình. Tôi lật gối, lấy tờ báo ngày, lem nhem mực in đen vướng bẩn trên drap trắng. Trang cuối cùng của tờ báo trên đôi tay run. Tôi căng mắt mà nhìn, tôi chảy máu tim mà ngó, tôi nghẹt thở mà coi tin người ta mừng Phương cưới vợ. Gió rít từng hồi trên những ngọn trắc bách diệp ngoài kia. Tôi muốn gào lên như gió đêm ma quái gào thét trên đỉnh đồi nghĩa trang hiu lạnh.
     Tôi ứa nước mắt. Tôi tiếc Phương vô cùng. Tôi hận mạ Phương đã cướp Phương của tôi, đem dâng cho chàng một người đàn bà ghép tên chung đôi với Phương trong khung báo tin vui.
     Tôi để hai tay giữa đôi chân dài. Môi tôi lạnh, ngực tôi lạnh, chân tôi lạnh. Phương bỏ tôi một mình giữa đêm Đà Lạt lạnh cắt da. Nghĩ đến cảnh đêm nay Phương quấn lấy vợ, tim tôi thắt lại, máu ứ lên đầu tôi choáng váng, ruột co lại nên bụng tôi quằn quại! Còn thân xác này Phương phủi tay đứng lên, chàng đá tôi lăn lóc như trái banh tennis cũ đen, lăn vào góc nhà buồn thiu, buồn chảy, tựa cô gái già se sắt nhìn thiên hạ ríu rít lứa đôi.
     Người nằm trong vòng ôm cuồng bạo của đêm tân hôn này đáng lẽ là tôi. Tôi yêu Phương bốn năm nay rồi. Kỷ niệm lớp lớp rêu phong như toà lâu đài cổ im lìm thương dĩ vãng.”…  
     “Tôi xiêu đổ mà đi, tôi lâng lâng từng bước. Núi chập chùng ơi, núi Lang Biang mù sương ơi. Anh về trên đỉnh núi, anh về trên mây xanh. Núi còn ghi lời anh trên vách đá. Thông còn xanh vì lòng yêu anh chan chứa yêu thương. Con suối nhỏ vẫn reo vang tình khúc mùa hạ, để mang anh về, để giữ anh mãi hoài nơi đây, cho em.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)
 

1.dalat.jpg - 117.83 Kb


Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Đồi Cao, Lũng Thấp, Thông Ngàn (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#17)