Dalat Trong Trái Tim Tôi _ (Tạ Thị Bích Thủy) (Văn)

  • PDF

DALAT

TRONG TRÁI TIM TÔI

1.ttbichthuy.bmp - 184.20 Kb

     Xin anh đừng ngạc nhiên và phật lòng vì sự đường đột viết thư này. Tuần trước được anh cho biết tin, đêm ấy em trằn trọc, thao thức mãi. Lúc nào mà em chẳng mỉm cười với dĩ vãng. Không gì êm đềm hơn khi hồi tưởng quá khứ kèm theo hình ảnh quê hương. Chưa chi mà Dalat đã hiện ra rõ ràng trong trí nhớ em cuống quít. Đường Hoàng-Diệu có  trường Văn-Học. Dân-Y-Viện đã từng gọi là nhà thương Tây. Từ Nhà Đèn đã thấy trường Petit- Lycée, rẽ trái đi thẳng là đến Tiểu-Khu, Viện Pasteur, Thư-Viện, Nhà Thờ Lớn và Toà Thanh-Tra-Liên-Tỉnh; rẽ phải là đi về phiá đồi Lâm-Viên, thác Cam-Ly và còn nhiều, nhiều nữa…

     Em có cô bạn ở miền Đông. Hai đứa em có cùng chung quan điểm: Không gì tuyệt thú bằng đi dưới rừng thu lá vàng. Trên mạn ấy có lắm cây xanh và phong cảnh tựa như Dalat. Không hiểu sao trước một cái đẹp tuyệt đối, trong ý thức ta bỗng có ý niệm về sự chết.

     Thưa anh, điều đó cũng có ý nghĩa là khi không còn ở Dalat thì bọn em mang Dalat theo về nơi em sống và đó cũng là một nhân sinh quan. Dalat có những cơn mưa phùn. Dalat nắng không bao giờ gắt. Và khi mưa có khi kéo dài đến hai tuần lễ.

     Dalat với những sườn đồi thoai thoải, với bóng thông nghiêng như dáng đợi chờ. Dalat mây tím hoàng hôn giăng ngang đầu núi. Dalat cây lá tự tình. Dalat nhìn qua màn sương mỏng hư ảo như tranh thủy mặc. Dalat là thành phố ngự trị của Nàng-Thơ.

     Dalat với nhịp sống khoan hòa. Cái khung cảnh trữ tình đã đồng lõa cho người sống ở thành phố Cao Nguyên một phong thái “rất Dalat” là chẳng bao giờ cảm thấy vội vã, lúc nào cũng thư thái ung dung. Dalat đẹp hơn vào ngày cuối tuần. Những chiếc jupe màu xanh bleu-marine, những tà áo thướt tha bay trong trời lộng gió, như những cánh bướm, lồng trong bộ quân phục thay đổi theo mùa của các anh sinh viên sĩ quan Võ-Bị, Chiến-Tranh-Chính-Trị làm thành phố trở nên cực kỳ lãng mạn.

     Sống ở một nơi mà em có cảm tưởng chiến tranh là một điều rất xa xôi không hề xảy đến. Thỉnh thoảng có những biến động, sinh hoạt bỗng trở nên xôn xao rồi sau đó cũng lặng lẽ chìm vào quên lãng.

     Vậy đó mà thoáng qua cũng đã mấy chục năm. Đôi lúc trầm ngâm trên biển, em có nghĩ về Dalat. Tự hỏi không biết Dalat giờ như thế nào, ra sao. Gặp người quen, em thường hỏi thăm và trong đầu bỗng nảy sinh tư tưởng trở về. Làm sao có thể sống cho đến cuối đời với một nỗi nhớ thương vời vợi. Nếu hành động bắt nguồn từ tư tưởng thì chính nỗi nhớ là động cơ đã thúc đẩy sự quyết định đó.

     Về Việt Nam trong thời gian ngắn nhất có thể, hai hôm đầu ở Saigon lo toan mọi việc, hôm sau em thuê xe đi Dalat. Người tài xế còn trẻ, đã từng vượt biên nhưng bị trả về, ước vọng được đi tỵ nạn ở một nước thứ ba, nhưng không thành.

     Ngồi trên xe, mắt em dán vào cảnh hai bên đường. Xe băng qua hết địa phận này sang địa phận khác: Định-Quán, Biên-Hòa, Gia-Kiệm, Hố-Nai, Bảo-Lộc, rồi Lâm-Đồng. Gần vào thành phố, khí hậu mát hẳn. Đã thấy lại con đường quen thuộc: đèo Prenn. Đã thấy cả một trời xanh trên thông cao. Đã muốn reo lên. Đã tưởng trái tim không còn trong lồng ngực: Dalat ơi, tôi đã trở về đây.

     Xe từ từ đi vào thành phố. Những Villa thời Pháp thuộc cái còn cái mất. Chỗ này ra hoa thay cho vườn cỏ. Đường tuy hẹp nhưng vẫn chia tuyến.

     Sau khi cất hành lý, em bước ra phố. Căn nhà em ngày trước bây giờ là cơ sở kinh doanh. Người chủ nhà thân thiện, để em đi thăm suốt ba tầng lầu. Đi đến đâu, bấm máy đến đó. Chiếc cầu thang gỗ ngày nào. Cái công tắc điện vẫn ở chỗ cũ. Cửa sổ này, lan can kia. Tuổi nhỏ chập chờn, mờ ảo hiện về; thấp thoáng đâu đây.

     Em có đến thăm một gia đình người quen. Dalat, kẻ còn người mất, người đi xa. Dalat giờ không còn ai thân thuộc. Buổi tối tản bộ ra phố. Rạp Ngọc-Hiệp chỉ trơ đống gạch vụn. Không còn quán chè trên đường Minh-Mạng. Nguyệt-Vọng-Lầu, tên đường Tăng-Bạt-Hổ vẫn vậy. Không thấy chiếc máy rang bắp với ánh đèn nhấp nháy đỏ đỏ xanh xanh. Khu Hòa-Bình khách lưa thưa. Cửa tiệm, cái mở cái đóng. Dalat đã mất đi khá lâu tiếng rao hàng của người bán dạo đậu phọng rang; cũng không còn gánh chè vào buổi tối trời. Những luống rau xanh rời dần ra ngoại thành. Nhà cửa đã lấn đồi. Dalat bây giờ hướng về du lịch kinh doanh.

     Đi hết mấy chục bậc tam cấp để xuống chợ. Chỗ này khách sạn Mộng-Đẹp. Chếch lên một chút là La Tulipe. Loáng thoáng bên tai bỗng vọng về giọng hát Mỹ Thể trong “Nắng Chiều”, “Đường Xưa Lối Cũ”.

     Xuống thêm vài bậc nữa, bãi đất trống ngày nào nay là cửa tiệm quần áo thời trang. Không còn những Kiosque trang hoàng những giò lan quý giá. Bây giờ chỉ là một góc chợ bày biện đơn sơ để bán qua đêm những món quà lưu niệm. 

     Đêm đầu tiên trở về Dalat làm sao ngủ sớm. Em đứng bên cửa sổ làm người em sầu mộng của muôn đời. Ánh đèn đường vàng vọt. Con đường vắng, lặng yên như tờ. Không một bóng xe, không người qua lại. Chỉ có những mái nhà nằm im lìm, san sát bên nhau. Bóng thông chơ vơ in thẫm trên nền trời. Đêm yên như thời hoang sơ. Năm giờ sáng, tiếng chuông nhà thờ rộn rã ngân vang báo tin bắt đầu thánh lễ.

     Thành phố dậy muộn vào sáng hôm sau. Em đi bộ ra cà phê Tùng. Gặp và trò chuyên với bà chủ. Chụp vài bức tranh. Uống ly cà phê sữa đầu tiên sau hơn ba mươi năm trở lại. Cảnh vật quen thuộc nhưng sao cay đắng, ngậm ngùi quá lắm.

     Cả một ngày sống cho Dalat. Em vào Viện Đại-Học (nay gọi là trường), trường Trần-Hưng-Đạo, trường Grand-Lycée. Em đến Domaine-de-Marie, ngọn đồi mà ngày xưa đã từng mơ ước… “và khi tan lễ ra về trong nắng lên”. Em đi thăm trường cũ. Để thấy; này vết chân ngựa, này rêu phong. Nhìn lại nhà ga. Nhà thương của bác sĩ Sohier. Từ khách sạn Palace nhìn xuống: Hồ Xuân Hương, nước vẩn đục sau mấy ngày mưa. Căn nhà Thủy-Tạ, một màu trắng toát.

     Em có đi ngang ngôi nhà thờ Chính-Toà. Cánh cửa đóng ở ngày trong tuần. Một nỗi cảm xúc vỡ bờ. Nỗi nhẫn nhục, niềm ăn năn trước vết tường vôi loang lổ.
       Dalat, đây quê nhà
       Suốt bao tháng ngày qua
      Nói đi lới thương nhớ
      Mai này mình sẽ xa.

     Buổi sáng hôm sau em còn đi một vòng trước khi rời thành phố. Xe đổ thêm xăng để chuẩn bị lên đường. Bỏ Dalat sau lưng; em không hề quay lại, cũng không khóc. Cười thì không thể, có ai cười được trước thương đau đâu, thưa anh. Nhưng biết chắc đã có một cái gì vướng mắc, dường như nức nở, đổ vỡ bên trong. Ai đã nói câu này nhỉ:
       “Partir c’est mourir un peu
         C’est mourir à ce qu’on aime”
     Ra đi là chết ở trong lòng một ít. Chỉ một ít thôi sao?

     Bây giờ em đang ở đây. Cũng khá giống Dalat. Nhất là giữa Thu đầu Đông. Tây phương nói: “Khi không có đời sống thực, ta thay nó bằng ảo ảnh”. Tất nhiên em đang sống với Dalat trên một phương diện nào đó. Quá khứ không thể đánh lừa ý thức mà hiện tại cũng có những điểm tương đồng.

     Con đường nhà em đếm được sáu cây thông. Điều đáng buồn là chỉ sáu cây không đủ tạo nên một buổi hoà tấu khi trở gió. Người láng giềng khu nhà em là một người đàn ông Việt Nam. Gốc Huế nhưng lại xuất thân từ  khoá 17 trường Võ Bị. Kỷ niệm lại một lần được nhắc nhớ. Năm 1972 trường em được mời dự lễ mãn khoá. Ngày hôm ấy trời trong xanh, nắng gió mơn man trên từng đầu ngọn cành. Quang cảnh uy nghi, long trọng cuả Vũ-Đình- Trường. Truyền thống Tang-Bồng-Hồ-Thỉ’’ cuả người hào khí. Có cả  Tổng Thống và Phu-Nhân. Dạo ấy Chỉ Huy Trường là Trung Tướng Lâm- Quang-Thơ. Trước đó là Đại Tá Trần-Ngọc-Huyến. Trước nữa là Thiếu Tướng Trần-Tử-Oai. Dĩ nhiên sinh hoạt quân trường cũng không xa lạ gì  đối với người dân Dalat.

     Thời tiết cũng đã chuẩn bị sang xuân, Em chợt nhớ đến thơ cuả Jacques- Prévert: Hai con sên đưa đám một chiếc lá vàng. Đưa đến huyệt thì trời vào xuân, chiếc lá xanh trở lại. Ước gì tâm hồn em cũng sẽ là một mùa xuân bất tận, Từ đáy con tim, em vẫn nhìn nhận, vì yêu nên phải trở về. Vì yêu nên khi đứng trước một sự đổi thay rùng rợn nhất, em vẫn thấy lòng mình dửng dưng. Sự thay đổi chỉ ở hình thức. Nhưng linh hồn Dalat thì vẫn còn đó. Vẫn bàng bạc quanh đây. Nơi đầu đường góc phố. Bên tường cũ nét sơn xưa. Làm sao em quên được một đoạn văn trong nhật ký đời mình: Sau vẻ hoạt náo của ngày, đêm đã trả lại cho Dalat vẻ đẹp tự ngàn xưa. Như người con gái khuê các, sau bao thăng trầm vẫn giữ được cho mình một nét quý phái, phong lưu trưởng giả. Linh hồn Dalat thì sẽ không bao giờ mất. Linh hồn Dalat thì sẽ tồn tại cho đến thiên thu.

            Tạ thị Bích Thủy            

ttbichthuy1.jpg - 80.37 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Dalat Trong Trái Tim Tôi _ (Tạ Thị Bích Thủy) (Văn)