Hồi Ký Dalat _ (Tạ Thị Bích Thủy) (Văn)

  • PDF

HỒI KÝ DALAT

(Thân tặng các anh chị đã một thời biết đến Dalat)

21_hophubong.jpg - 42.38 Kb

     Em vừa đi cruise về, bốn ngày trên biển và ba ngày trên bờ. Có đến Freeport- Nassau. Đó là những đảo tương đối lớn của Bahamas. Gọi là đảo nhưng không thiếu thứ gì; kim cương, ngọc trai kể cả đồng hồ Rolex. Em chỉ khuân về vài chai ruợu Rhum và dây đeo cổ mặt đá. Em đi đổi gió, thay đổi không khí để khi trở về lấy lại sinh lực cày tiếp. Nếu chị hỏi cảm tưởng sau chuyến du lịch này thế nào, thì em bảo vui, hào hứng dù đây không phải là lần đầu.

     Ba ngày trên bờ là em ghé qua Florida. Ôi! Cái thành phố chỉ hướng về và nhắm vào khách du lịch. Có cây thông như Dalat và cây dừa như Nha-Trang. Trốn cái nóng bên này, gặp cái nóng bên kia. Nhưng trời chiều, chỉ cần một cơn mưa nhẹ, khí hậu bỗng dưng dễ chịu hẳn. Biển Đại-Tây-Dương nhấp nhô sóng. Cơ man là khách sạn với nhiều kiểu kiến trúc tân kỳ, cổ điển. Có cái xây nghiêng nghiêng như muốn xập. Hồ, suối nhân tạo đẹp như tranh vẽ. Em có tới Disneyworld, đi Epcot cũng hết một ngày. Không thể không thấy mắt nhìn ngơ ngác của em thỏ, dáng cao lêu nghêu cô đơn của cò và em rùa thỉnh thoảng ngoi lên mặt hồ để thở.

     Cũng nên đi nếu có dịp, để thấy sự tiến hoá của nhân loại, sự phi thường của đầu óc con người. Em có nghĩ đến các chị; hình dung các chị đang cặm cụi làm việc, thương lắm, bởi thế em muốn san sẻ những gì có thể mà một thời em cũng đã trải qua. Nhưng chị ạ, có đi đây đi đó rong chơi, mới thấy ý nghĩa cuộc đời là sự làm việc; chơi xuông không, cuộc đời vô nghĩa lắm.

     Chị bảo em viết, viết cái gì? Em vẫn tham lam ôm hết những suy nghĩ nhận xét nung nấu tư duy đưa vào nội quan, thỉnh thoảng mang ra chia sẻ cho vài người. Em kiêu quá, hở chị? Tại sao không, con người là một chủ thể, bản thể duy nhất mà kiến thức là kho tàng và văn hoá là những gì còn lại sau khi chiến tranh hay thiên tai đã cướp mất. Chị sẽ hỏi em mất cái gì? Có chứ, em mất tuổi trẻ và chúng ta mất quê hương. Nhưng chị sẽ biện luận, mình sống đất tạm dung, nếu không thích ta có thể trở về. Nhưng em sẽ không trở về. Vì dưới mắt, cảm quan của người ở lại; em là Việt kiều. Còn ở đây, em muốn được đồng hoá nhưng ánh mắt xa lạ của người dân bản xứ, khiến em hiểu ngôn ngữ và diện mạo mình không có chỗ đứng trong sự thừa nhận.

     Không có gì trơ trẽn cho bằng phải đối diện trước một khuôn mặt hay dáng dấp nữ nhân được trang bị bởi giá trị tự tạo. Với em, phần quan trọng thuộc cõi tâm linh và tri thức. Chị khen em giỏi, lạ nhỉ. Sang xứ người, em đã cố quên cái ngã một thời vang bóng của mình, tuy đôi khi còn sót lại một cách vô thức, ảnh hưởng tốt từ các Mère đào tạo. Chị gợi em nhớ lại quá khứ xa xôi. Chị khiến em mở toang cánh cửa ký ức, hồi ức để em sống lại cái tôi của mình.

     Ấn tượng đầu tiên khi đặt chân xuống phi trường LA của thành phố thiên thần hoa lệ; em theo chồng sang đây, bỏ cái nắng ấm, địa đàng California để sống với cái nắng cháy da, nắng mờ mắt, nắng muốn trần truồng chạy rông của xứ dầu hoả. Bây giờ em, bắt chước Robert-Rojdestrensky: “Cho tôi một vé đi tuổi thơ”.

     Em chào đời tại miền Bắc nhưng lại không biết gì về quê cha đất tổ. Nghe Mẹ em kể lại; vào mùa nóng, Mẹ em chỉ ao ước đi nghỉ hè tại Dalat, xứ Hoàng-Triều-Cương Thổ và cũng là một thành phố Paris thu nhỏ, vì Pháp hay họp hội nghị ở đây.

     Như người Mỹ thường nói “Dream come true”. Ước mơ thành hiện thực. Cuộc tổng di cư năm 1954. Sau ba tháng tạm cư Saigon, Ba em nhận Sự-Vụ-Lệnh chuyển về Dalat. Em lớn lên trong khung cảnh hữu tình và khí hậu trong lành của Dalat. Dalat hai mùa mưa nắng. Trời đẹp nhất vào dịp cuối năm giáp Giáng-Sinh. Trời cao trong xanh mang gió lạnh về khiến ngọn cỏ rì rào, tiếng thông reo vi vu, tạo thành một bản nhạc bất hủ.

     Dalat có dinh Bảo-Đại. Dalat có lăng Nguyễn-Hữu-Hào là Thân sinh của Nam-Phương hoàng hậu. Dalat có biệt thự của ông bà Ngô-Đình-Nhu.

     Dalat có chùa Bồ- Đề, chùa Linh- Sơn. Từ nhà em, cứ nửa đêm về sáng lại văng vẳng tiếng chuông ngân nga như thức tỉnh chúng sinh đang đắm mình trong cõi trầm luân khổ lụy. Xa hơn, về mạn Trại-Hầm có chùa Linh-Phong nổi tiếng.

     Dalat có Dòng-Chúa-Cứu-Thế, Dalat có Giáo-Hoàng-Học-Viện, nhà thờ Thánh-Tâm, nhà thờ Tin-Lành, nhà thờ Domaine-De-Marie, nhà thờ Chính-Toà. Thường thì những buổi lễ trọng có Đức cha Nguyễn-văn-Hiền chủ tế. Em theo gia đình đi lễ khi còn là cô bé tóc còn chấm vai, cứ được các chị khen xinh, mắt đẹp như lai và tóc mây. Nào em có biết tóc mây là gì. Em cũng có thấy ông bà Cố-vấn cùng các con đi lễ. Bà Nhu với chiếc áo dài cổ thuyền (décolletée), tóc bới cao, vài ngọn che loà xoà trước trán. Khi những người phụ lễ đi quyên, em thầm quan sát và khi tan lễ ra kể cho mẹ. Mẹ em bảo, ông bà ấy giàu, đóng góp 500 thì ăn thua gì; thời ấy giá trị đồng tiền lớn lắm.

     Dalat còn có những dòng của các vị linh mục; dòng Đa-Minh, dòng Châu-Sơn sống đời khổ hạnh, dòng các Nữ-tu Nazareth, dòng Mến-Thánh-Giá, dòng Frannciscaine, dòng Đức-Bà-Lâm-Viên.

     Dalat của hai trường nam nữ Trung học Trần-Hưng-Đạo và Bùi-thị-Xuân. Vì trường Trần-Hưng-Đạo toạ lạc xa trung tâm thành phố nên nếu có dịp đi, chị phải đi ngang Mả-thánh. Sở dĩ em biết thế vì năm thi Tú Tài toàn, đây được chọn làm hội đồng thi. Hiệu trưởng là thầy Kỳ-Quan-Lập. Và trường cũng là một đề tài trong tác phẩm của một nhà văn nữ.

     Tuy nhiên, không thể không kể đến mấy trường của Pháp để lại. Lycée-Yersin, Couvent–Des-Oiseaux dành cho nữ và Adrian cho nam.

     Thật ra, Couvent chỉ là tên gọi chung do các Nữ-tu dòng Đức-Bà-Lâm-Viên thành lập. Nếu đứng trước mặt tiền của trường và ngước nhìn lên cao, chị sẽ thấy thấp thoáng những cánh chim và hàng chữ in nổi “Notre-Dame-Du-Lang-Bian”.

     Thường thì, lúc ấy hai chương trình Pháp-Việt thuộc nhóm học sinh hai trường không mấy thuận thảo. Thỉnh thoảng, em cũng có nghe dân Trần-Hưng-Đạo và Lycée choảng nhau nhưng rồi cũng được dàn xếp yên ổn. Còn trường em, chữ “oiseaux” được nhái thành “corbeaux”. Chim thành quạ. Không hiểu xuất xứ từ đâu. Và cũng từ đó về sau, em hiểu ra rằng, ghen tuông là bản chất loài người.

     Em đã lớn lên trong khuôn khổ trang nghiêm của gia đình và học đường. Có những buổi Kermesse được tổ chức hàng năm. Những trò chơi như quay số trúng giải. Quan khách thường là phụ huynh học sinh, nhưng tựu trung, đại thành phần đa số thuộc giới thương gia, nghệ sĩ và hàng ngũ sĩ quan công chức cao cấp.

     Đôi khi sau một buổi học, trên đường về; bắt gặp một cánh bướm chao lượn trên không, hoặc những buổi sáng mưa nhẹ như tơ trời lẫn vào cái nắng nhạt nhoà mong manh, nếu em có nghệ sĩ tính, cũng là điều đương nhiên.

     Dalat của em là hoa, là bướm, là cỏ dại, là tiếng thông reo; là mộng đầy tay, là mơ trong mắt, là sự hiền hòa của cảnh vật, là sự tinh khiết và thư thái tâm hồn. Dalat tưởng như không biết đến chiến tranh dù có quân trường nổi tiếng của vùng Đông-Nam-Á: Trường Võ-Bị-Quốc-Gia Việt Nam mà “Đa-Hiệu” là tên một tập san.

     Dalat còn nổi tiếng ở Viện Đại-Học. Ngoài tính cách chuyên đào tạo nhân tài đất nước, Viện còn là một thắng cảnh. Có những buổi học được tổ chức ở Dị-An, ở khu Minh-Thành, Hoà-Lạc, Kiêm-Ái hay một đôi khi ở giảng đường Spellman, em cũng thỉnh thoảng cúp cua theo bạn chụp ảnh dưới đồi. Đứng trên cao nhìn xuống con đường thoai thoải dẫn ra cổng Viện cũng là một niềm thú vị của em thời đó.

     Dalat của thác Prenn, thác Pongour, thác Dalanla với 100 bậc tam cấp và giai thoại về một người con gái trầm mình tự thác. Dalat của suối Cam-Ly với người đàn bà xứ Thượng, chiếc gù trên lưng, chỉ quấn xà-rông để ngực trần.

     Dalat của hồ Xuân-Hương với những chiếc pédalo dạo mình trên sóng, với nhà Thủy-Tạ đơn độc nghênh ngang và Hotel Palace, niềm kiêu hãnh của người Pháp nếu chếch mắt nhìn lên khi chiều xuống.

     Dalat có hồ Than-Thở với mộ cô Thảo gợi trí tò mò cho khách thập phương.

     Dalat là vương quốc của hoa, hoa lan, hoa hồng, hoa anh đào, hoa mimosa, trưởng giả quý phái như hoa Glayeul, hoa Lys mà mẹ em hay mua về trưng trong ngày Tết; ẻo lả như cánh Pensée tím nhung đen nghệ sĩ thường được ép trong giấy pelure mà lời ca tụng còn âm vang:

Màu hoa thầm nhung nhớ
Mà không dám hẹn thề
Dáng hoa còn nức nở
Còn trông ngóng người về

     Dalat là vườn Bích-câu, là cây trái, dâu tây, hồng và trái avocat mà giá trị dinh dưỡng rất cao, là khoai lang khô được bày bán ở chợ.
Dalat còn là đất của rau salade, choufleur, rau cải Dalat. Cái vị vừa ngọt mà thơm pha lẫn đăng đắng của cải ngồng chấm mắm trứng. Món ăn thuần tuý Bắc. Vườn cải ngồng cũng thấy xuất hiện trong thi ca của Nguyễn-Đình-Toàn:

Vườn cải ngồng dỗ ong bướm về sân
Tôi ở đấy, buổi trưa và tiếng nắng

     Dalat của những ấp Du-Sinh, ấp Ánh-Sáng, ấp Cô-Giang, ấp Thái-Phiên và Đập Đa-Thiện. Dalat của dốc Nhà-Thương đua tới Trung-Tâm-Y-Tế-Toàn-Khoa, của dốc Nhà-Làng có nhà thầy giáo Trình, con đường tắt đưa lên phố Minh-Mạng và dốc Nhà-Bò nghe quê mùa dân dã.

     Dalat là khu Chợ-Mới với khách sạn Mộng-Đẹp, khách sạn Thủy-Tiên, khách sạn Mimosa, khách sạn Anh-Đào, khách sạn Cẩm-Đô.

     Dalat với những hiệu sách Liên-Thanh, Khải-Minh, Thiên-nhiên, Nhật-Tân, Minh-Thu và Khai-Trí.

     Dalat  của những nơi giải trí; rạp chiếu bóng Hoà-Bình với “BenHur“, “Bonjour Tristesse“ trích từ tác phẩm hiện sinh nổi tiếng của Francoise Sagan, “Tant qu’il y aura des hommes“, “Les dix commandements de Dieu“, “Cleopâtre“. Rạp Ngọc-Lan với “Cầu sông Kwai“, “Anh hùng David Crocket”. Rạp Ngọc-Hiệp với “Bạch Tuyết 7 Chú Lùn” phim hoạt hoạ của Walt Disney.

     Dalat có “Chic Cabaret“, “La Tulipe” của thế giới về đêm.

     Dalat có nhà hàng lớn như nhà hàng Mê-Kông, nhà hàng Nam-Sơn, nhà hàng Chic Shangai. Dalat có tiệm phở Huỳnh, phở Ngọc-Lan, phở Tùng, tiệm ăn Như-Ý, mỳ quảng Ngọc-Hiệp, có quán chè Mai-Hương, có tiệm kem Việt-Hưng và cà phê Tùng.

     Dalat của hiệu bánh mì Vĩnh-Chấn, Kim-Hoa, của bánh mì thịt nguội Hồng-Mai, Thanh-Trang; của những tiệm bánh ngọt Vĩnh-An, Tân-Lạc-Viên, Lạc-Xưởng-Viên, Thanh-Nhàn, Mai-Liên.

     Dalat của những tiệm tạp hoá Quảng-Thuận, tiệm đồ sắt Đức-Xương-Long và phụ tùng xe hơi Saigonnais.

     Dalat của tiệm chụp ảnh Văn-Khánh, Mỹ-Dung, Đại-Việt, Ngọc-Duy, Hồng-Thủy, Văn-Hoa.

     Dalat của những văn phòng bác sĩ Phan-Lạc-Giản, bác sĩ Đào-Huy-Hách, bác sĩ Hoàng-Ngọc-Đính và dưỡng đường Docteur Sohier.

     Dalat có Pharmacie Hoàng-Hy-Tuần. Pharmacie Nguyễn-Văn-An. Pharmacie Nguyễn-Duy-Quang. Pharmacie Diệm.

     Dalat có nha sĩ Trình. Nha sĩ Nguyễn-Thị-Sâm. Nha sĩ Trần-Tú và nha sĩ Trần-Thị-Minh-Đa.

     Dalat có luật sư Nguyễn-Thị-Hậu. Dalat có luật sư Ngô-Tằng-Giao.

     Dalat có nhà giặt ủi Đồng-Hữu- Lập, có tiệm may Âu phục Nam-Hải, có tiệm may áo dài Đặng-Thi, có tiệm cầm đồ Bùi-Thị-Hiếu.

     Dalat có cây xăng Shell, cây xăng Kim-Cúc, cây xăng Esso.

     Dalat có Lữ-Quán-Thanh-niên.

     Em đã vẽ bối cảnh và sinh hoạt Dalat có trí nhớ khoan thai dẫn về. Tuổi nhỏ cứ thế theo thời gian lớn lên. Năm 15 tuổi biết đến thơ tình Nguyên-Sa. Năm 16 tuổi nhận được cánh thư gửi về từ miền thùy dương cát trắng của một nhà thơ quân đội, bỗng nhiên dừng lại ở nét chữ em viết và xao đông tâm hồn. Dalat là thành phố của tình yêu, của bạn bè và của hạnh phúc. Ai đến đó một mình sẽ cảm thấy chới với cô đơn và Dalat như một bất hạnh.

     Năm 17 tuổi, trong một dịp đi Picnic do nhà trường tổ chức, em đã đứng đọc kinh với Mère Engène, trước mồ cô Thảo, cầu xin linh hồn cô siêu thoát về nơi vĩnh hằng. Chết cho tình yêu, quả là cao thượng phi thường và lãng mạn.

     Dạo ấy, em cũng mơ một ngày có người yêu là lính để đi rước đèn ngoài phố, để thấy tà áo mình quấn quít bên chân người yêu như những cặp tài tử giai nhân dìu nhau đi trên đám mây hạnh phúc, những bộ trang phục hoà vào màu áo trận. Nhưng biến động đầu năm 1975 đã giáng xuống đất nước thân yêu, biến miền Nam thành một nhà tù khổng lồ chôn vùi tất cả ước mơ thánh thiện thơ ngây của tuổi vừa lớn. Em yêu thiên nhiên, từng cơn gió nhỏ, từng sợi mây buồn nên thích nhìn màu xanh gờn gợn của cỏ cây và ngắm nắng vàng hiu hắt.

     Dù có kinh qua bao cảnh đời chăng nữa thì trong tâm thức cũng chỉ hướng về Dalat, bất luận là mình đang hiện hữu ở đâu; thời gian và chốn không gian nào, nhớ đến gia đình với chân dung người cha khả kính đã từng là “hoa khôi” trong trại tâp trung. Mà thôi, tương lai còn ở trước mặt. Hãy thắp cho quá khứ một nén hương: Ngồi đây mà tưởng nhớ thiên đường.

Tạ Thị Bích Thủy

1.ttbichthuy.bmp - 184.20 Kb 

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Hồi Ký Dalat _ (Tạ Thị Bích Thủy) (Văn)