Nỗi Nhớ Muộn Màng _ (Tạ Thị Bích Thủy) (Văn)

  • PDF

NỖI NHỚ MUỘN MÀNG

hoadaodalat_13.jpg - 30.61 Kb

     Theo chân chồng ra sân bay, tôi như người trong cơn mộng du. Giá có gương soi, chắc khuôn mặt mình đẹp não nùng bởi dấu son kỷ niệm. Chỉ nhắm mắt hồi tưởng, bao khuôn mặt và nhân dáng đi qua trong đời. Tuy vậy, lòng yêu đời tha thiết và ham sống mãnh liệt vẫn không chịu chấp nhận cho mình là già.

     Dù trời đã sang thu, một đôi khi, thiên nhiên nổi cơn cuồng nộ; con đường loang loáng ướt như sắc diện người đàn bà vừa mới khóc: tuy còn buồn nhưng khuây khỏa. Những chiếc lá bắt đầu chuyển màu, từ vàng au sang đỏ úa, chậm chạp lìa cành, và rơi tơi tả trong không, bên bờ đường. Giữa biên giới của Sống-Chết, sự sinh tồn vẫn tiếp diễn.

     Đời là một cuộc phiêu lưu kỳ thú đầy đam mê. Mỗi lần thu xếp vào valise để khởi đầu bằng một chuyến đi xa, tôi lại nao nức một cách kỳ lạ. Và tiếng thời gian có sức mê hoặc tuyệt vời, dẫn dụ ta vào cuộc chơi đuổi bắt không ngừng. Ta đã lao vào đó với bàn tay ngưỡng vọng chờ đón những hoài bão thần tiên. Cho đến một lúc nào, ngẫu nhiên, trong một sự im lặng đến rợn người, những hoài niệm từ tiềm thức qua ký ức; ngự trị ở đấy và đưa ta sống thêm một lần nữa trong tuổi thơ ngọt ngào, quá khứ bình yên của từng sợi mưa, từng giọt nắng.

     Cũng chẳng mấy phức tạp để ly khai thực tại. Chỉ cần mảng trời xanh hay vần vũ u ám mưa bay, một điệu nhạc cũ, một áng thơ xưa hay một khuôn mặt thân quen cũng đủ hấp lực để vận chuyển cánh cửa quá khứ. Như nhân vật của Jean-Paul-Sartre, một mình xuống phố trong cảm thức cô đơn giữa đông đảo dòng người. Đám đông không có sức tác động trên một cá nhân, và, đời sống nột tại với những diễn biến tâm lý sinh đông hơn nhiều.

     Chuyến bay thả đám du khách xuống Las Vegas, nơi ánh đèn rực rỡ muôn màu của chốn cờ bạc về đêm. Từ đây về San Diego không mấy xa, địa danh được xem là một trong những miền có khí hậu tốt. Những căn nhà nằm trên đồi trông ra biển. Biển ở đâu cũng xanh. Laguna Beach. Những cánh chim phiêu bạt giang hồ. Những nhà hàng đẹp, điểm xuyết bởi tàn cây và hoa, được thiết kế mỹ thuật tinh vi. Ocean Side; ngày mới quen nhau, tôi đã đi với chàng, bằng bước chân rộn ràng. Đâu hẳn là yêu mà lòng xôn xao. Cũng chẳng phảng phất buồn, mà chỉ quạnh quẽ một niềm chơi vơi, tản mạn như khói thuốc, chờn vờn hư không. Nhìn cây, tưởng cây muốn nói. Nghe gió, tưởng gió thở dài. Nhìn anh, em chỉ thấy một sự yên lặng vây quanh. Đêm vẫn mênh mông buồn.

     Những suy nghĩ của thời quá khứ, hiện tại, vị lai quyện vào nhau như đám chỉ rối lãng đãng như sương. Nếu con người là một hiện tượng vong thân thì tôi đã tìm thấy bản ngã mình trong một ý thức phản hồi. Khi ngôn ngữ không còn là một cần thiết. Khi yên lặng không phải là vô ngôn. Ý niệm về “Tình Yêu” cứ váng vất lởn vởn trong đầu. Tình yêu là một sự hoá thân vào đối tượng để trở thành một ý thức nô lệ hay tự do? Dù gì đi nữa, tình yêu vẫn là một đề tài muôn thuở. Tình yêu không bao giờ già. Tình yêu luôn luôn trẻ trung, thánh hoá.
Nhưng dòng tư tưởng bị ngắt quãng bởi một nguồn sáng chói loà. Đó là ánh đèn pha chiếu tứ phía lia từng khuôn mặt một của nhân viên an ninh xét người di dân lậu, trước khi đến thủ phủ định cư của cộng đồng người Việt: Khu Little-Saigon. Những con đường đã trở nên dấu yêu; chỉ thấp thoáng nghe qua cũng đã dấy lên một nỗi vui dịu dàng, một đầm ấm bâng khuâng. Nắng đã ấm và trải dài đại lộ: Bolsa, như tên một người yêu. Sống một nơi và nghĩ về một nơi. Bằng liên tưởng và hồi tưởng:

“Ai mang tôi đến chốn này,
Bên kia không óc, bên này không tim”
                           (Doãn-Quốc-Sĩ)

     Câu thơ xưa vang lên trong tôi như một dòng nhạc thánh thót buồn, một khúc luân vũ. Những freeway loanh quanh như vòng danh lợi. Những toà nhà cao như đỉnh trời, thần tiên hoang tưởng của xứ nghỉn lẻ một đêm như Disneyland. Tôi như còn thấy một góc của County từ Orange-Hills; nơi nếu không tìm đến là cả một sự sai lầm khó quên, có Valet parking, có trai thanh gái lịch; có ánh nến thay cho đèn vàng khi bóng chiều chạng vạng, khi cây cối đã trở màu in trên nền trời, khi sương đã xuống và đêm sâu. Thế giới của sự Riêng-Tư. Và đêm bỗng trở nên diệu vợi Vô-Cùng. Cửa tiệm và gian hàng đã đóng, lòng đuờng đã yên, sửa soạn cho một ngày mai nắng lên.

     Newport-Beach. Hungtington-Beach rồi Long-Beach. Biển ở mọi nơi. Biển tạo nên những giấc mơ hải hồ, mộng viễn du. Biển giải tỏa những ức chế mà cuộc sống trên đất liền vẫn thường ngày vây hãm. Biển sóng vỗ vào ghềnh đá tạo thành những bọt trắng xoá và âm thanh ngàn đời. Biển và đàn cá hồn nhiên tung tăng bơi lội theo dòng. Biển vỗ về mơn trớn những chiếc du thuyền, những con tàu lướt đại dương khi trời quang mây tạnh, nhưng lại gầm thét khi gió rú mưa gào. Biển cũng là mồ chôn của bao sinh mạng. Biển bao la, bí ẩn như tình người, thăm thẳm vời vợi như đôi mắt tình nhân.

     Có phải là một tâm trạng chung; khi trực diện trước sự im lặng thâm thúy của biển cả, con người đều trở nên trầm mặc, không màng đến điếu thuốc cháy đỏ trên môi để thầm hỏi lòng đã vì nỗi buồn hay khói thuốc làm cho cay mắt; hoặc một ly cà-phê trước mặt. Hình như lúc ấy thần trí cũng nghiễm nhiên buồn bã bỏ đi và quá khứ hoang vu lạc lối về. Khi niềm vui tiếng cười trở thành đơn điệu, lạc lõng đến sống sượng trước vẻ buồn kính cẩn trang nghiêm. Những con người thuộc tứ xứ đổ đến; tụ đấy rồi tan đấy. Những lời thăm hỏi lịch sự khuôn sáo vu vơ, quen nhau tình cờ rồi vội vàng chia xa, mỗi người đi theo con đường định mệnh của đời mình.

     Tôi đến Universal Studios của Los Angeles khi nắng còn gắt dù đã chiều tà. Cơn nắng hanh của miền núi. Universal Studios là một khu vực riêng biệt, chiếm cứ một diện tích bát ngát của kỷ xảo phim trường. Khu Downtown với đại lộ Hoàng-Hôn, tên nghe đã thấy trữ tình. Beverly-Hills, Malibu của cảnh vàng son. Và tất cả rồi cũng quy tụ về Rose-Hills của nghìn thu yên tĩnh.

     Tôi theo phà từ Newport-Beach trở lại San Diego, không quên đến đập thủy điện thuộc tiểu bang Nevada. Trước cảnh hùng vĩ của tạo vật, một mối buồn man mác xâm chiếm tâm tư khi nghĩ về thân phận nhỏ nhoi tầm thường của kiếp người. Thấy mình rất đỗi đáng thương như con sâu cái kiến. Từ San Diego tới biên giới Mễ-Tây-Cơ chỉ băng qua chiếc cầu. Hai cảnh đời hai sự sinh hoạt. Trung tâm Tijuana tấp nập từ đoàn xe đến dòng người. Từ những cửa hàng, kiosque; vui mắt như Hawaii, nhộn nhịp như Nassau, và huyên náo như Saigon. Giáp vòng ngoại ô là những cảnh hoang dã chưa được tận dụng khai thác. Đó đây, những ánh mắt trẻ con buồn thảm vì thiếu vắng tuổi thơ ngồi bên lề đường bán vài thứ hàng vặt vãnh. Những con chó khốn khổ chạy dọc theo lộ mon men kiếm ăn. Hình ảnh khó quên cứ tiềm tàng lắng đọng và ám ảnh hoài trong ký ức như đám sương mù dày đặc.

     Có một cái gì rất đỗi đáng yêu và dễ mến trước một nụ cười khoan dung, một khuôn mặt khắc khổ vì nét hằn thời gian. Và cũng từ đó, phát xuất từ tâm, ý hướng về tha nhân như lời thư của Mère Alicia: “Tập đi đến tha nhân và sẽ tìm được niềm vui mà không ai có thể tước đoạt được”.

     Dù vẫn biết bàn tay mình không ôm hết một vòng yêu. Thì cố gắng để khi suy niệm, cảm nhận sự tồn tại mình không vô nghĩa. Ai cũng có những giây phút độc thoại, nhũng khoảnh khắc trầm tư. Khi đó, ý thức và tôi là một hình bóng bất khả phân. Như Charlie Chaplin: “Tôi thích nhìn một người đàn ông buồn bã khuấy ly cà phê hơn là ngắm một hoả diệm sơn đang phun lửa”

     Quả thật, nỗi buồn nào cũng gợi cảm và có một dung nhan đẫm lệ. Không phải là một đam mê, vì đam mê có tính cách nhất thời; cũng không là say mê sở thích, lại càng không phải là một thú vui vì thú vui là bản năng; nhưng là một hạnh phúc có thật, khi đối diện tôi là một tách cà phê nóng. Không gì bằng, ngắm thiên nhiên thay màu áo và nghe tiếng cà phê thong thả nhỏ từng giọt xuống thành ly. Đó là một âm thanh không vui chẳng buồn, mà chỉ bằng sự yên lặng tuyệt đối; ta mới lĩnh hội được: thời gian bỗng nhiên dừng lại, tất cả đều đã sa mù, nhạt nhoà phôi pha để chỉ còn lại một cõi ta.

     Cà phê với tôi là cả một kỷ niệm, một thâm tình suốt lộ trình đời sống. Khởi nguồn từ, khi thấy bạn bè của hai ông anh đến chơi, rủ nhau ra tiệm cà phê chuyện gẫu; tự nhiên tôi sinh lòng thèm thuồng ao ước. Nhưng ước mơ đó chẳng bao giờ mọc cánh. Hình ảnh một người con gái vào tiệm cà phê một mình hay với bạn trai là một ấn tượng không hay. Mấy năm sau, cà phê giúp tôi thức khuya học thi. Vài ngày trước khi xảy ra tháng tư lịch sử, từ một biệt thự và đứng giữa khung trời rất đỗi bình yên của miền cao nguyên sương mù, tôi đã thấy những chiếc xe jeep phát xuất từ trường đi đi về về cả đêm. Chỉ cần nhìn qua lượng xe và tính cách di chuyển, tôi phỏng đoán có một điều gì nghiêm trọng đã hoặc sẽ xảy ra. Tiên cảm không sai. Tôi theo gia đình rời Dalat xuống Phan Rang tạm chạy trốn nguy. Trong cơn hoang mang giao động về tình hình đất nước, tôi vẩn tỉnh thức để khách quan nhận xét, quê hương mình nơi đâu cũng đẹp; như tên gọi, đèo Belle-Vue quả rất ngoạn mục.

     Cũng tại đây, nguồn tin cho hay, trường Võ Bị Liên Quân được lệnh di tản xuống Long Thành. Có là cư dân mới hiểu được tầm ảnh hưởng quan trọng của trường đối với thị xã. Tại sao không phải là tử thủ? Trường rời bỏ căn cứ, chính thức hay tạm thời cũng đồng nghĩa là: Adieu Dalat. Farewell Dalat. Vĩnh biệt Dalat.

     Những chiếc xe jeep hào hùng tạo nên lịch sử. Những chiếc xe jeep đi vào quá khứ, đánh mất tương lai; mà mỗi chiếc là một số phận kỳ bí và huyền nhiệm. Không phải điếu thuốc “Ngón tay thơm vàng phấn bướm đa tình” (Thơ Đinh-Hùng) mà chính cà phê chiêu hồn dĩ vãng. Cầm tách cà phê trên tay, tôi như uống cạn một nỗi buồn: mộng đẹp trong đời đã cáo chung, tan tành bong bong, vỡ vụn thủy tinh để chỉ còn là ảo tưởng hoa sương. Dù bây giờ đang lênh đênh xứ người; đôi lúc vọng về cố hương, cảm một ngọn gió, một trận mưa nhưng tuyệt nhiên vắng tiếng thông reo, chỉ còn là vọng âm quá khứ.

     Bergson nói: “Quá khứ luôn luôn có mặt trong hiện tại”. Cà phê với tôi là bạn đồng hành, chứng kiến bao cảnh tang thương của vật đổi sao dời. Những buổi tối trở về, sau xuất hát khuya; tôi gởi tiền cho một cuốc xe bằng hai tay cung kính, mà lòng rưng rưng, buồn như muốn khóc khi khám phá gốc tích của  người vừa chở mình trên quãng đường cũng đã một thời oanh liệt. Phong cách ấy lẽ ra phải đứng giữa ba quân tiền hô hậu ủng và tôi sẽ chẳng bao giờ có được sự hân hạnh giáp mặt. Sao hồn tôi dậy sóng; nhớ về quá khứ xưa, xin chúc lành cho Người, một lần hạnh ngộ là duy nhất.

     Cà phê gợi lại lên cho tôi nỗi nhớ muộn màng từ bờ bến này sang bến bờ kia; từ bát ngát xứ người đến tình tự góc trời quê hương, nhỏ bé nhưng yêu thương đậm đà. Đạt chân xuống mọi sân bay, từ Thái Lan, Nhật Bản đến Los Angeles, San Diego, San Francisco và Florida rồi cuối cùng, tôi cũng vẫn chỉ ngừng lại độc nhất ở mỗi một hình ảnh của phi trường dân sự Liên-Khương và quân  sự Cam-Ly. Có đi hết một chân trời cũng chỉ thấy một khung trời. Có trực diện trước một vẻ đẹp lộng lẫy kiêu sa cũng chỉ thấy lòng mình khô khan như ngói.

     Cũng chính cà phê đã khiến tâm hồn tôi rung động như một cánh bướm khi đọc bài thơ vào tuổi mười ba:

Nơi cà phê quán đặc
Dạ hội tan từ lâu
Còn gì mà thắc mắc
Đời không là của nhau

     Cuộc đời tình ái phức tạp của thế giới người lớn chỉ làm tôi mường tượng qua thi ca như sự tọc mạch của trẻ con trước một phòng tối. Chỉ đơn giản là thế không hơn. Năm tháng trôi qua. Chất cà phê đã thấy đắng hơn.Và vị ngọt ít đi. Giông tố cuộc sống thường ngày đã trỗi dậy.

     Cà phê của hai mươi năm trước là quang cảnh trong một tiệm cà phê trang hoàng khá đẹp, trên con đường Trần-Quốc-Toản, và đối tượng tôi là một cựu sĩ quan. Anh vẫn thường bảo tôi có lối nói chuyện độc đáo, một khuôn mặt chinh phục thời gian hứa hẹn cho một viễn tượng tương lai hạnh phúc. Anh khen:
     - Dưới đèn vàng và qua màu cà phê trong suốt, mắt em đẹp vô tả

     Tôi cũng cảm thấy vậy, Bởi vốn yêu hai thứ trong đời: đèn vàng và hương vị cà phê quyến rũ. Anh không quá lời. Anh nói đúng: ánh mắt, dứt khoát không phản ảnh men của yêu đương.

     Dù trước đó là mẫu đối thoại nho nhỏ, hay hay, không kém phần thi vị:
     - Cho anh biết, em có chấp nhận tình yêu của anh không để anh còn tính.

     Tôi không hiểu. Tình yêu là phép tính cộng, trừ, nhân, chia? Tôi hỏi lại:
     - Chấp nhận thì sao, mà không chấp nhận thì sao?

     Anh không nói gì và tôi cũng không hỏi thêm. Giữa tình trạng nhiễu nhương của sinh hoạt xã hội, và đòi sống gia đình rời rạc phân tán; anh em thì người ở lại, người xuống “thuyền” xuất ngoại, làm “boat people”. Cha còn trong chốn lao tù không hẹn ngày về. Hạnh phúc cá nhân, nếu đề cập đến, chỉ là một điều không tưởng. Mà làm sao gọi là hạnh phúc?

     Cũng chính anh là tác giả của những vần thơ:

… Em là nước quý
Xin bỏ bình hồng
Kẻo em tan mất
Ta thẫn thờ trông
Lời em mật ngọt
Mắt em mộng mơ
Đưa ta vào thơ
Hồn ta ngây ngất…

     Bài thơ được mang về cho cậu em trai. Không có lời bình. Dầu sao, cũng cảm ơn tình anh. Hai con đường song song không có chung một điểm.

     Lại một bài thơ khác, một tác giả khác:

Tạ từ ngày ấy đã xa
Thủy chung tôi vẫn xót xa một người
Người đi mù mịt phương trời
Tôi trong cô quạnh, rã rời xác thân
Yêu em thêm vướng bụi trần
Mãi trong tâm tưởng, bâng khuâng một đời
Không gian thiếu vắng một người
Thôi còn đâu nữa một thời mộng mơ

          Cà phê của hai mươi năm sau, Mẫu đối thoại khác, lâm ly hơn, tình tự hơn khi chàng giúp tôi rửa chén dĩa:
     - Em xem này, phin cà phê anh rửa có trắng không?

     Tôi đưa mắt nhìn. Đúng vậy. Và trắng như hoá đá. Như vừa được inoxydable.

     Cảm kích trong cuộc sống chung, tuy nhiên, rất ung dung và rất Thiền, nhìn sâu vào mắt chàng, tôi chậm rãi đáp:
     - Anh không cần phải rửa ly và phin trắng cho em như vậy. Chất tanin của trà và cafein tạo thành cái hồn. Rửa trắng quá trông nhạt nhẽo như một người đàn bà không son phấn.

     Anh yên lặng và em cũng im lặng. Tôi cũng không hiểu lý do vì sao mình lại nói được một câu như thế.
     Tại sao?
     Thôi, đừng hỏi; “Tại sao”.

Tạ Thị Bích Thủy

1.ttbichthuy.bmp - 184.20 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Nỗi Nhớ Muộn Màng _ (Tạ Thị Bích Thủy) (Văn)