Tưởng Nhớ Việt Trang: Quê Hương Tôi _ (Phạm Mai Hương) (Văn)

  • PDF

TƯỞNG NHỚ VIỆT TRANG (1924-2010)

 viettrang2.jpg - 107.34 Kb 

6.jpg - 2.86 Kb

QUÊ HƯƠNG TÔI

Ai về xứ Huế quê tôi
Gởi giùm ít nhớ để vơi ít buồn

     Ông cố tôi người làng Vĩnh Xương, huyện Phong Điền, một ngôi làng nghèo khó xa thành phố Huế về hướng bắc. Về thăm làng, từ đầu hôm trên đò dọc, chèo từ bến sông Gia Hội qua ngã Ba Sinh, vượt sóng nước phá Tam Giang cho đến trời hừng sáng thì đến nơi. Vào những đêm trăng, ngồi lặng nghe giọng hò mái nhì, mái đẩy của bạn chèo đò mà mường tượng như trôi bồng bềnh trên sông trăng. Trái lại vào những đêm mưa gió, phá Tam giang thật đáng sợ như câu ca dao:

Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang”

     Sau đó ông Cố một mình rời làng đi làm ăn xa, gắn bó với một người đàn bà lưu lạc, rồi cụ trở về làng sống với người vợ cũ để bà Cố ở lại nuôi hai con: ông nội tôi và bà Thị. 

     Gia đình ông bà nội chúng tôi vốn nghèo nhưng sống thanh bạch, giữ  nếp sống gia phong đạo hạnh bởi lúc sinh thời cụ vào chùa Bảo An ở với mẹ khi lên 12 tuổi. Sau đó cụ thành một cư sĩ tại gia cùng bà con mộ Phật trong xóm xây dựng khuôn hội Phật giáo Thuỷ An tại làng An Cựu Tây. Ông nội tôi là một nhà túc nho lại có theo học ít nhiều văn hoá Việt Pháp. Cụ từng là thầy giáo làng, một y tá trưởng bệnh viện đồn điền chè Dakdoa heo hút của tỉnh Pleiku một thời gian rồi về quê sống cuộc đời bình dị của một hàn nho. Bà nội tôi quanh năm đảm đang công việc nội trợ, giúp chồng nuôi con, chân đi không bén đất, cho nên cái nghèo là nỗi ám ảnh của ba và các cô chú tôi trong thời niên thiếu

     Bà Thị tuy con nhà nghèo nhưng phong cách khoan thai, dung mạo trang nghiêm. Năm mười bốn tuổi, bà theo người chị họ vào đại nội hầu vua Thành Thái nên học được nhiều nề nếp đời sống cung đình. Thương anh, bà lấy số tiền dành dụm ở cung vua mua cho anh một miếng đất khá rộng ở làng An Cựu và giúp anh thêm tiền cất ngôi nhà ba gian hai chái.

     Thôn An Cựu Tây là cửa ngõ vào thành phố Huế từ đèo Hải Vân ra, từ cầu An Cựu đi xuống thêm năm mười phút sẽ đến ngôi nhà của ông nội nằm khiêm tốn, soi bóng trên dòng sông nắng đục mưa trong . Bước một dặm đường nữa là xóm chài Vạn Xăm có dinh thự nguy nga của vị thượng thư bộ Lại trong triều đình Huế và nhìn qua bên kia sông có ngôi trường tiểu học An Cựu, mái ấm học đường đầu tiên của ba tôi và cầu tre Phác Lác dưới sông có rất nhiều con cá cùng tên.

Quê hương tôi bên dòng sông An Cựu
Theo màu thời gian nắng đục mưa trong
Tôi lớn lên cùng vòm thông núi Ngự
Gội gió sương thân sau méo trước tròn

     Huế là nơi ba tôi chào đời, lớn lên, được yêu thương, học hành theo ước nguyện của cha mẹ, được sự đùm bọc của người cô ruột thương con như cháu. Tuy vậy tuổi thiếu thời của ba tôi và mấy o chú trong nhà cũng nhọc nhằn lao đao lắm. Hơn nữa mức sinh hoạt của xã hội thời bấy giờ trước sự bất ổn của chiến tranh cũng bị chìm đắm trong cảnh nghèo nàn, khốn khổ.

Thuở thiếu thời mình lên tỉnh học
Đường thì xa mà hai buổi đi về
Bước chân chim đùa vui sỏi đá
Mưa xé chiều đông nắng đốt trưa hè

Làm học trò lúc nào cũng thức
Ngọn đèn: dầu hôi, dầu phụng, dầu dừa
Soi hàng chữ chập chờn hư thực
Ngồi học bài con mọt sách ngày xưa

Trường Quốc Học dặm dài năm cây số
Hai dãy mù u phượng vỹ lao xao
Tan học về chim khách vui đầu ngõ
Mẹ cười yêu con khách lạ chim chào

Chiếc áo dài đen cậu cho con mặc
Cũ từ lâu nên vạt rách vai sờn
Mẹ khâu nhíp từng đường kim mũi chỉ
Lòng thương con chằm vá ấm thân con

      (Những âm thanh những màu sắc cũ)

     Bước vào tuổi hai mươi, cầm mảnh bằng thành chung trong tay hứa hẹn một tương lai cơm áo đầy đủ mà ba chúng tôi lại phải năm ba lần thất nghiệp. Thời cuộc và tình trạng xã hội lúc bấy giờ làm ba tôi cũng hụt hẫn chóng mặt mày. Bổn phận người con trưởng gánh vác, hoàn cảnh gia đình lại thôi thúc, cuối năm 1950, ba tôi đành rời xa Huế, xa cha mẹ, đàn em, vợ con, một mình lên Dalat với nỗi lòng trăn trở:

Xin chào phố Huế tôi đi
Hẹn nhau tháng tám lại về thăm nhau
Chưa chi gió nhuộm thu sầu
Mà nghe sương khói xanh màu biệt ly

Xin chào làng xóm tôi đi
Buồn vui ấm lạnh nhắc khi thiếu thời
Thung Huyên hoa sớm tàn phai
Ngồi bên nhà cũ ngậm ngùi tình quê

Xin chào bè bạn tôi đi
Bước chân lữ thứ sơn khê chập chùng
Niềm thương nỗi nhớ vô cùng
Tiếng thơ gởi lại tiếng lòng buồn tê

Xin chào tất cả tôi đi
Nghĩ mình thân phận chim di một đời
Mây trời như sóng nổi trôi
Gió tha thiết mãi như lời từ ly

Xin chào…
                Xin chào…
                                 Tôi đi!
(Bài thơ tạm biệt )

     DALAT, DAT ALIIS LATITIEM ALIIS TEMPERIEM, nơi đây cho người này niềm vui, cho người khác khí hậu an lành. Vào thập niên 40 – 50 Dalat là đất Hoàng Triều Cương Thổ, chỉ có gia đình Hoàng phái mới được ở, vô tình đã tạo cho người Đalạt một phong cách thanh lịch pha chút cung đình Huế với tính tây phương của người Pháp giàu có. Dalat là nơi đất lành chim đậu ,mở rộng vòng tay nhân ái đón nhận gia đình ba mẹ tôi. Từ đó, ba tôi có công việc làm ăn ổn định, cuộc sống gia đình được an bình và tương đối đầy đủ.

     Anh em chúng tôi chào đời và lớn lên ở một thành phố có những đồi thông xanh nhấp nhô như sóng lượn,  phong cảnh thiên nhiên mơ mộng đẹp xinh, khí hậu mát lạnh hiền hoà, một góc địa đàng thanh bình của đất nước . Cảnh vật bốn mùa đẹp như một búc tranh:

Chim hoàng oanh phổ nhạc trên cành
Dalat vào xuân xuân rất xanh
Thấp thoáng hoa đào non điểm ngọc
Long lanh suối bạc nước đan mành

(Dalat vào xuân)

Vào hạ mà không một tiếng ve
Và không phượng nở điểm sơn khê
Sáng gieo giọt nắng mù sương đọng
Chiều phả làn mưa gió lạnh về

 (Dalat vào hạ)


Mới đó mà thu trở lại rồi
Gió bâng khuâng trải nắng thầm rơi
Mây vương núi biếc lưng chừng nhạn
Lá rụng song thưa vắng vẻ người

      (Dalat vào thu)


Thu muộn vừa đi đông lại sang
Trời pha thêm nắng gió thêm vàng
Cành đào lá rụng đang ươm nụ
Khóm liễu đêm dài đứng gội sương

      (Dalat vào đông)

     Từ đó, Đalạt níu giữ ba mẹ và chúng tôi, trở thành quê hương thứ hai của gia đình chúng tôi. Anh em chúng tôi vô tư sống trong thành phố trẻ khi ba tôi còn nặng lòng với Huế. 

Bước tha phương khi tuổi còn rất trẻ
Để trọn đời mang Huế nặng trong tim
Nếu một mai khi giã từ cõi thế,
Tìm cố hương xin nguyện hóa thành chim.

     Chúng tôi chỉ nhớ Huế trong những tháng hè được ba mẹ cho về thăm ông bà nội, ngoại. Chúng tôi chơi đùa thỏa thích trong ngôi nhà của ông ngoại ngay cạnh dòng sông An Cựu, cũng tắm sông ngay bến nước trước nhà, hay mải miết đi dưới hàng tre xanh mướt vào nhà ông nội. Chúng tôi được anh chị em họ dẫn thăm các danh lam thắng cảnh ở Huế, đền đài, miếu tự, chùa chiềng, được ăn  cơm Hến, bún bò của những người gánh rong trong xóm, ngon và đậm đà tình quê. Bởi thế khi ai hỏi chúng tôi quê ở đâu, tôi tự hào :

Quê hương tôi bên giòng sông An Cựu
Theo màu thời gian nắng đục mưa trong

     Thế nhưng nguyên quán của chúng tôi lại là làng Vĩnh Xương, đó là một làng quê in sâu trong tiềm thức chúng tôi khi ba tôi vẫn ru mỗi con khi còn nhỏ

Làng tôi dải cát trắng thanh thanh
Nghèo nhỏ và xa lánh thị thành
Chỉ có đình làng là ngói lợp
Còn hơn năm chục chiếc nhà tranh

Dân làng tôi đếm được vài trăm
Dưới bóng tre xanh sống lặng thầm
Mộc mạc quê mùa chung tổ ấm
Thương nhau không kém bà con thân

(Bức tranh quê của một thời đại xa xưa)

     Nhưng thực tế chưa lần nào anh em chúng tôi được về thăm làng, mỗi lần về Huế, thời gian chỉ đủ cho chúng tôi tung tăng từ nhà ông nội đến nhà ông ngoại, thăm họ hàng gần xa ở làng An Cựu.

     Làng Vĩnh Xương được chúng tôi hình dung là một ngôi làng nghèo khó, mạ tôi thường kể : -Chẳng hiều sao mà kỳ lạ, cách có mội con sông vậy mà làng Kế môn thì giàu có mà người làng Vĩnh xương nghèo khó.

     Năm 1946, mẹ tôi là một cô bán hàng xén ở chợ Đông Ba, đang mang thai anh đầu, gặp lúc chạy giặc Tây phải lánh nạn về làng Vĩnh Xương. Khi trở về lại An Cựu, mẹ tôi mất cửa hàng làm kế mưu sinh, lại bị sốt rét nên sinh anh ra không có sữa mẹ phải uống nước cháo với đường, được bà Thị cho lon sữa bò, mẹ tôi không có bình pha sữa và bình thủy nước sôi nên anh đau bụng rồi mất.

     Ba tôi thỉnh thoảng vẫn về thăm làng, khi lớn tuổi, ông ít về nhưng tấm lòng nhớ quê vẫn canh cánh mỗi khi có người ở làng vào, cùng nhau kể chuyện hoặc góp tiền về xây nhà thở họ, sửa lại mộ bia.

     Rồi dần dà thời gian qua đi, ông bà nội mất, ba và các o chú mất, chúng tôi không thể trở về làng Vĩnh Xương

Bà con thuở nọ thành xa hoắc
Làng xóm bây chừ chắc lạ ghê

     Không còn người lớn tuổi nhắc nhở mình là dân làng Vĩnh xương, dù rằng mồ mả tổ tiên vẫn còn đó; dù rằng làng vẫn cưu mang những người con bạc phước của mình: bà Thị tôi sinh thời ở trong chùa nhưng khi già đau ốm phải về lại nhà, bà Thị không có con, những người con riêng của chồng tuy được bà nuôi nấng khôn lớn nhưng cũng thể cưu mang bà được. Cuối cùng bà về lại làng được người làng chăm lo cho đến khi mất. Mồ mả của bà vẫn còn ờ làng Vĩnh Xương. Chúng tôi không biết người ở làng nào đã chăm lo nuôi nấng bà. Xin muôn vàn cám ơn.

     Cứ tưởng rằng không bao giờ có thể về thăm lại làng dù sau này kinh tế có dư dả nhưng một nhân duyên đưa đẩy, chúng tôi đã gặp được nhiều người còn gắn bó với làng hay cũng xa quê mịt mù giờ qua trang website langvinhxuong . Giờ chúng tôi biết chắn chắn khi trở về dù không gặp được người ruột thịt thì chúng tôi cũng sẽ đựoc tiếp đón thân tình như người con trở về.

Phạm Mai Hương

 * Ghi chú: Thơ của Việt Trang Phạm Gia Triếp

olddalatig2.jpg - 166.88 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Tưởng Nhớ Việt Trang: Quê Hương Tôi _ (Phạm Mai Hương) (Văn)