Đà Lạt Ngày Tháng Cũ _ (Phạm Hà Trang) (Tạp Ghi)

  • PDF

dl34.jpg - 75.23 Kb

ĐÀ LẠT
NGÀY THÁNG CŨ

     Nếu kể về cái khoảnh khắc mà cả đám bạn cũ lũ lượt kéo nhau đứng cười toe toét trên đồi Cù hay ngồi tụ tập đình đám năm ba em dưới thác Prenn của cái năm 1979 bão tố thì đến nay, đã là đúng 30 mùa lá rụng qua đèo Prenn. Có cụ nào đã phán ra một câu xanh rờn như “thời gian như bóng câu qua cửa sổ” hay vi vút hơn là “thời giờ và thuỷ triều có chờ đợi ai?” Biết dzồi khổ lắm nói mãi! Các cụ bi giờ cơm no bò cưỡi, ăn uống đầy đủ, đi một bước gần là có xe con, đi công tác xa thì có tài xế công ty đến đón ra phi trường… phán điều gì bây giờ cũng đúng như thánh sống. Ấy vậy mà cứ tự đặt mình lại vào cái thời điểm lừng danh của thời bao cấp 1975-1979 đi thì biết. Bảo đảm là nếu các cụ phải lủi thủi, còng lưng đạp xe đạp Chiến Thắng quay dzìa cái thời điểm “năm ấy” như trong phim “Trở về quá khứ, tương lai” của Spielberg và chợt thấy mình đang đứng xếp hàng cả ngày trước các Hợp tác xã cho vài kí bo bo, vài kí cá vụn, vài kí đường vàng vọt, dăm ba cây dao cạo râu cạo đau cả mặt, vài bao Vàm Cỏ buồn tẻ…, thì các cụ sẽ thấy thời gian dài hay ngắn ngay thôi. Cái cảm giác này, em mà nói sai là em chết tươi liền đó! Hoá ra cái tâm lý chung của cuộc đời là khi con người “sướng rên mé đìu hiu” thì nhìn lại, thời gian dzọt lẹ như bóng câu. Và khi thiếu thốn, đau khổ thì ôi, cái thời gian chết tiệt này sao đi qua chậm thế!

     Nói vậy cho sướng cái miệng thôi, chứ trong thâm tâm em, em vẫn mê những cái tháng ngày đau khổ cũ của cái thời Bao cấp ngày xưa đó lắm các cụ ạ. Phải nói một cách thành khẩn là dù lúc đó em có bị Bà Cả Đọi hành hạ thiệt, nhưng ít ra là trong những ngày tháng mà nhà nhà “từ chối ánh đèn điện, vui vẻ dưới ánh đèn dầu hôi” đó, em còn có được những tình cảm mặn nồng, chia ngọt sẻ bùi của đám bạn bè, hàng xóm. Lúc đó, thành phố còn yên tĩnh, thuở đó “thanh bình chắc nở hoa” chứ không có bầy hầy nát bét như những con đường đang thi công của Sài Gòn bây giờ. Nhìn lại đi các bạn cũ yêu quái ngày xưa của em, điếu thuốc lá “dế nhũi” lúc đó còn được chia năm, xẻ bảy bởi những đôi môi chưa thâm xì vì nghiện hút như bi giờ, mấy cọng mì cũng được chia đôi trong cơn đói… nhưng tình cảm bạn bè thật thắm thiết. Pham Ha TrangCon bà nó, bây giờ sau 30 mùa lá rụng, là đến cái màn đổi đời. Xe cộ ồn ào, bụi bặm. Tấc đất ngày xưa trở thành tấc vàng. Người đi xa chừng chục năm trở về chốn cũ cứ như Từ Thức về trần. Không còn nhận ra ngay cả bờ ruộng hay đứng pipi trên con đường đạp xe lên trường ngày xưa. Vật đổi sao dời. Nhà cửa mọc lên như nấm. Đám bạn cũ tứ tán khắp bốn phương trời. Sài Thành, Kali… Kẻ thành giám đốc, người ăn nên làm ra, tiền bạc rủng rỉnh, xe cộ ê hề chạy vi vút không cần bông xăng. Vài ngàn “đô” chẳng xi nhê gì… Ăn to, nói lớn, nổ bạo, có ai đánh thuế hay chết thằng Tây nào đâu mà ngại? Gặp lại nhau cũng khó vì đủ lý do bận bịu, mánh mung, ăn nhậu… Những cái bụng lép kẹp ngày xưa nay đã biến dạng thành bụng bà bầu. Ưu tư lớn là làm sao cho bụng nhỏ lại, tóc nhuộm màu gì cho thấy còn đủ phong độ ngày xưa. Chuyện vui buồn thời đi học bi giờ “biến thái” qua màn đấu láo chính chị chính em. Nghe chán hơn việc nấu nồi cơm vừa nhão vừa khê…

     Í quên, em đang bàn đến cái dzụ đi đèo Đà Lạt mà không hiểu sao cứ lan man, lung tung, linh tinh sang các chuyện khác. Các cụ mà không nhắc là em hay đi lạc đề lắm đó! Ông 8 mà?

     Ấy là một ngày đẹp trời trong cái tháng 10, 2009, ngẫu hứng sinh tình, em đón xe Thái Phong từ vùng biển động Vũng Tàu để đi Đà Lạt ngàn thông. Ở biển mãi cũng chán chê mê mỏi. Cứ đi theo Hà tiên sinh “khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên” hay đi xoá đói giảm nghèo riết rồi thấy cuộc đời sao đơn điệu quá, em bèn làm một phùa “tìm dzìa quá khứ” giải sầu.

     Đà Lạt thì em cũng không xa lạ gì cho lắm. Lần đầu tiên rị mọ lên xứ hoa anh đào của em là năm 1972. Năm của mùa Hè đỏ lửa. Sau này, em chiêm nghiệm và nhận thấy một điều các cụ ạ. Đó là có những hình ảnh, có những khoảnh khắc loáng thoáng xẹt qua đời em nhanh như sao Chổi vậy. Nhưng có những hình ảnh không hiểu sao cứ lẩn quẩn đi theo em bao tháng năm không mệt mỏi. Năm tháng cũ rợn tình xưa tỉnh thức…

     Đó là những hình ảnh, những khoảnh khắc của những thị trấn mà theo dấu xe đò, em ù té chạy qua: Định Quán với những hòn đá khổng lồ, Di Linh, Đức Trọng với những căn nhà gỗ đơn sơ, hiền hoà. Bảo Lộc với cái không khí nhẹ nhàng của một xứ nổi tiếng về trà… in mãi vào đầu em. Ngày ấy, chỉ cần qua đèo Bảo Lộc, các cụ đã cảm nhận được cái không khí se se lạnh, đổi khác rồi. Mà phàm khi cái không khí lạnh tràn đến là trong tâm tư mỗi người đều có cái cảm giác thật nhẹ nhàng như mùa Giáng Sinh đang đến!

     Đà Lạt, thành phố của sự thơ mộng, của các cặp tình nhân và các cuộc tình ít nhiều nước mắt. Có những ca sĩ, nhạc sĩ đã gắn bó tên tuổi với cái thành phố buồn nằm nghe khói tỏa này như Lê Uyên Phương với những bài hát “Bên hồ Than Thở”, “Bài ca hạnh ngộ”, “Cho lần cuối”… Từ Công Phụng với “Bây giờ tháng mấy”, “Giọt lệ cho ngàn sau”… Phạm Mạnh Cương với “Thung lũng Hồng”, “Thu ca”… Đà Lạt của những ngày tháng đó, của cái năm 1972, em xin tóm tắt nhanh, gọn, cụ thể, đơn giản như thế này để các cụ quán triệt: Mưa bụi lất phất, sáng sớm dậy, thấy mây bay là đà trên những nơi cao. Thành phố buồn nhưng đẹp thê thảm, đường đá dốc lên dốc xuống, trữ tình thơ mộng như ở Paris. Ban đêm thì mặt đường ướt, lóng lánh bóng đèn đường. Người người đi bộ. Tiếng guốc, dép quèn quẹt trên những nẻo đường lát gạch nổi. Hàng quán chỉ là những quán cà phê đơn giản. Con gái Đà Lạt má hồng đáng yêu, ết-cê-tê-ra…

     Lên đến xứ hoa anh đào, năm 2009, các cụ nhớ đừng bao giờ nghe những gì các bác tài xế, các hướng dẫn viên khuyến dụ. Tuỳ bộ dạng từng đối tượng, nhất là các cụ ngơ ngơ ngáo ngáo mới đến nơi ấy bình yên lần đầu, các bác tài xế ra “kiến nghị” về nhà nghỉ, phòng trọ, mini hotel, hotel hay khách sạn nhiều sao… Theo định nghĩa về nhà trọ, khách sạn… của chủ nhân nhà nghỉ của em là “nhà nào có từ 6 phòng cho thuê trở lên” có thể tự nhận là… 1 khách sạn! Kinh nghiệm của em là các cụ đừng có sợ thiếu cái chỗ gối đầu ban đêm. Cứ tung tăng đi dạo để lựa nơi nào mình ưng ý chứ đừng hấp tấp. Các bác tài xế, các anh chị hướng dẫn khi giới thiệu các cụ nơi trú ngụ hay mua bán đặc sản Đà Lạt đều có nhận hoa hồng nơi họ giới thiệu. Để ý một chút, những món hàng, những dịch vụ họ giới thiệu, nếu so sánh với giá ở ngoài, các cụ sẽ thấy mắc hơn từ 10 đến 20%! Thí dụ một phòng trọ có thể đỡ được 100.000 vnd/ngày, một gói mứt rẻ hơn 10.000 vnd… Em kiếm được căn phòng trọ, lịch sự, sạch, gần chợ Hoà Bình. Các cụ nào muốn lấy địa chỉ, nhớ liên lạc với em nha. Giá vỏn vẹn 200.000 vnd/ngày. Xe thuê thì có Honda Jupiter, 70 đến 80 ngàn vnd/ngày, đủ sức leo đèo xuống núi.

     Ổn định xong chỗ ở là “theo em xuống phố trưa nay, đang còn chất ngất cơn say” ngay một khi. Đà Lạt 2009, tuy đường xá “hoành tráng” hơn, nhưng hình như Đà Lạt đang đánh mất dần những hình ảnh đầy thơ mộng ngày xưa. Nhà nhà mọc lên khắp mọi nơi, nhìn ngợp cả mắt. Chợ Hòa Bình vũ-như-cẩn, như cái lần đầu em lên Đà Lạt năm 1972. Có phần tiều tuỵ hơn vì trải qua năm tháng mưa sa, bão táp (?). Đường xá quanh chợ thì bê bết bùn.

     Những người bán cây ngo ngày xưa, biến mất. Ngo là một loại gỗ lấy từ ruột thông, rất dễ bắt lửa. Ngày xưa, thiên hạ đổ xô mua ngo là để mồi lửa, nhóm bếp than, bếp dầu hôi. Thời thế đổi thay, bếp ga nhóm lửa tự động thay ngo. Như vậy, cây thông sẽ ít bị tàn phá hơn? Có thể. Nhưng nếu ngày xưa người ta đốn thông để lấy ngo thì bây giờ, chẳng có ai đốn thông cả. Mà là phá luôn cả vài héc ta rừng thông để làm “đất nông nghiệp” trước. Sau đó, sẽ có màn úm ba la ba ta cùng khỏi để khu đất này hoá thành “đất thổ cư”. Nhưng đấy là chuyện về sau, em miễn bàn đến vì nhiêu khê, đụng chạm lắm.

     Đi chợ Hoà Bình ban đêm, các cụ nhớ đội mũ vì có thể bị nước ở tầng trên nhỏ xuống đầu. Nghe đâu là với “chỉ tiêu” nâng cấp chợ Hoà Bình, dời bến xe nội thành… lên cho đúng “tầm cỡ” của hội chợ Hoa Đà Lạt 2010, hy vọng chợ Hoà Bình sẽ có khuôn mặt khang trang hơn chăng?

     Ban đêm, chung quanh chợ, ngoài những gian hàng buôn bán đặc sản Đà Lạt là la liệt hàng ăn, quán nhậu, khu bán quần áo cũ với cái bảng to đùng “Chợ bán đồ cũ”, bán đồ lưu niệm. Giá cả thì cũng vừa phải thôi. Tuỳ mặt nai mà thợ săn giương súng. Các cụ nào có kinh nghiệm chiến đấu dồi dào thì luôn luôn hỏi giá, trả giá trước khi khai đao. Đà Lạt bi giờ cũng Vương Vũ La Liệt quán cà phê, nhà nghỉ, khách sạn và nhà hàng ăn nhậu như ở Sài Gòn. Nhưng quán cà phê thì vô địch vì là xứ sở của cà phê mà. Ra đầu ngõ, vào hẻm cùng cũng gặp quán cà phê. Cà phê Thuỷ Tạ của những “ngày tháng cũ” chỉ còn lại cái tên. Khung cảnh, cách trang trí ở quán này chẳng có gì để khách vấn vương, quay lại lần nữa. Các cụ nào ngày xưa đã vào Thuỷ Tạ và để lại nhiều kỷ niệm, xin đừng quay lại. Giá cả thì na ná như Sài Gòn. Ly cà phê vỉa hè là 4.000 vnd, trong Thuỷ Tạ là 15.000; ở các quán khác, hạ thủ bất quờn, giá cả có khi dzọt lên đến trên 22.000 vnd như chơi. Dĩa cơm tấm giá khiêm nhường là 20.000 vnd. Dĩa bánh canh vỉa hè cũng 20.000 vnd/dĩa chứ không phải các cụ ra cái điều “hạ cố” ngồi ăn lê la ngoài vỉa hè là rẻ đâu. Hình như bi giờ ở mọi nơi, 20.000 vnd là giá tối thiểu cho một món ăn.

     Chỉ có trái cây Đà Lạt là tương đối rẻ. Hồng trứng bán tại vườn từ 6.500 đến 8.000 vnd/kg (thời giá tháng 10, 2009). Hồng cũng có năm bảy đường hồng nhé. Hồng trứng, trái nhỏ như trái trứng, ngon nhất. Có thể ăn dòn. Hồng chén, trái to. Chỉ ăn được khi chín hay phải ủ trong thạp gạo, khí đá… Hồng Tàu và hồng Nhựt chỉ để làm mứt. Để thưởng thức trái hồng tại vườn, các cụ cứ tà tà xuôi đèo Prenn, ghé các trang trại dọc đường. Vào đó, thông báo chủ trại rồi vào vườn, hái hồng ăn tại chỗ. Nếu cần gởi đặc sản này dzìa Sài Gòn, Vũng Tàu, các cụ cứ đóng bao 10 kg rồi ù té chạy ra bến xe mới của Đà Lạt gởi hàng về. Ở Sài Gòn thì cứ tìm đến xe Thành Bưởi, Phương Trang… Ở Vũng Tàu thì đến gặp cánh lơ xe Thái Phong, Thảo Hồng. Tha hồ gởi. Cứ 1 kg là 1.000 vnd. Rẻ đẹp bền.

Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa
Cho tôi bớt mơ mộng chiều chiều nhìn mây trôi xa xa,
Người về từ hôm nao mà lòng còn thương vẫn thương
Bao nhiêu năm tháng cũ mà hồn nào tôi vấn vương.
Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai…

     Khí hậu tháng 10 ở Đà Lạt thì “mát” hơn ở Sài Gòn. Cái không khí cái lạnh ngày xưa chắc chỉ là dzĩ vãng quá. Nghe thiên hạ nhát ma là tháng 12, Đà Lạt lạnh nên em lại có ý định quay lại Đà Lạt tháng 12 xem sao rồi tường thuật lại cho các cụ rõ. Nhiệt độ trung bình của Đà Lạt không còn 18 – 22°C nữa. Tháng 10, đi ngoài đường ban đêm, khách du lịch có thể chơi 1 cái áo t-shirt mỏng, quần short mà chưa có cảm giác lạnh. Theo xu hướng “đi xuống” của việc khí hậu toàn cầu ấm dần lên, từ Bảo Lộc đến Đức Trọng, Phi Nôm… thời tiết chỉ gọi là… “mát” hơn Sài Gòn thôi. Riêng Đà Lạt, xứ sở của “ngàn thông” đang bị đe doạ trầm trọng với nguy cơ là cây thông có thể “đai” hết vì bị các loài vi khuẩn tấn công nếu khí hậu ấm lên. Hiện giờ, Đà Lạt vẫn là xứ sở của thông, hoa và rau. Dạo một vòng quanh Đà Lạt, các cụ dễ dàng nhận thấy những lán đặc biệt chống lạnh (serre) trồng hoa, trồng rau khắp nơi. Và người ta đang nhắc đến một hội chợ hoa hoành tráng sắp tới cho năm 2010 với nhiều chấn chỉnh, quy hoạch trùng tu lại Đà Lạt.

     Đi ngang Đại học Đà Lạt, hậu thân của Viện Đại học Đà Lạt trước đây, thấy cũng tấp nập sinh viên. Cũng vui chán. Sau năm 1975, Đà Lạt có dân số khoảng 86.000 người, kinh tế chủ yếu là du lịch, trồng trọt. Sau 30 năm, dân số tăng lên gần 200.000 người, cùng với gần 2 triệu du khách/năm.

     (Dự kiến đến năm 2010, dân số Đà Lạt là 180.000 người và khách du lịch, lưu trú là 1 triệu khách/năm -thực tế con số này không kiểm soát được). Việc dân số tăng lên như vậy sẽ kéo theo vấn đề về nước uống. Các kiến trúc sư người Pháp, ông Hébrard (1923), Pineau (1933) và Lagisquet (1943) đều nhấn mạnh rằng dân số tối đa của Đà Lạt không được quá 120.000 người bởi nguồn nước ngầm, nước bề mặt chỉ đủ cung ứng cho bấy nhiêu dân thôi, nếu quá là có vấn đề. Và đến năm 2007, vấn đề về nước bắt đầu xuất hiện.

     Đường đi qua hai ngọn đèo Bảo Lộc và Prenn đang được sửa chữa, nới rộng ra để có thể thành đường cao tốc (?). Qua những con đường Mimosa, Khe Sanh mới làm, con đường mới dẫn xuống đèo Prenn rộng thênh thang, dễ đi hơn. Đi đâu cũng thấy phá núi, lấn đất để làm đường, làm nhà… Căn nhà của người bà con ngày xưa, trên đường Duy Tân, sau 1975 biến thành uỷ ban nhân dân phường 1, bi giờ đang được sửa chữa, gia cố để hoá thành… cty cổ phần. Và đường Duy Tân bi giờ là đường 3 tháng 2. Kiến trúc nhà ở Đà Lạt mang phong cách của Pháp. Theo thống kê, nhà cổ ở Đà Lạt còn gần 3000 căn, nhưng thật ra, chắc chỉ còn phân nửa con số đó. Nhà cửa xây dựng khắp nơi với những kiến trúc quái dị tấc đất, tấc vàng, đang tự đánh mất cái đặc thù của Đà Lạt. Điều này, chính những cư dân lâu năm của Đà Lạt cũng phải lên tiếng báo động. Nhưng biết làm sao hơn được?

     Viết về những căn nhà cổ ở Đà Lạt, website Bình Dương có đoạn:

     “Biệt thự Đà Lạt nổi tiếng với những lối kiến trúc bậc nhất của Pháp quốc kết hợp với những nét riêng của người phương Đông và có thể xem đây là “bảo tàng sống”, là hơi thở của xứ sở sương mù này. Hầu hết các ngôi biệt thự ở đây nằm trên những nơi đồi dốc cao, ẩn mình trong rừng thông và đều có tầm nhìn đẹp như hướng xuống Thung lũng tình yêu, hồ Xuân Hương hay nhìn lên đỉnh Langbian và mỗi ngôi biệt thự cổ đều mang một nét riêng.

     Dọc đường Trần Hưng Đạo là các ngôi biệt thự được xây dựng theo lối kiến trúc Bắc Pháp ví như nhà số 16 được thiết kế rất hiện đại với cột lò sưởi không thẳng hay vuông vức, mà cong về một phía và có cẩn đá chẻ. Đà Lạt còn lưu giữ một biệt thự cổ xây dựng vào năm 1935 cùng thời với ga Đà Lạt. Ngôi biệt thự này của bác sĩ Lemoine – nay là nhà nghỉ Công đoàn. Với bốn mặt đều tuyệt đẹp, nơi đây được chọn làm nơi làm việc của Phủ Toàn quyền.

     Đặc biệt “Biệt thự Dã Quỳ” theo lời kể của người dân thì ngôi biệt thự này xưa kia là của một quan ba người Pháp nổi tiếng ăn chơi trác táng. Một ngày, có cô kỹ nữ xinh đẹp trong cơn say nhảy lầu tự tử. Và từ đấy, ngôi biệt thự này bị bỏ hoang và hàng loạt xác chết bí ẩn được phát hiện làm cho các câu chuyện về “Biệt thự Dã Quỳ” thêm huyền bí. Một biệt thự khác nằm trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa được xây dựng vào năm 1949 từng là dinh thự của tướng Bình Xuyên – Bảy Viễn…”

     Đà Lạt, xứ sở của mây mù lại được… phủ thêm tấm màn huyền bí, Liêu trai… với những thêu dệt đồn đại về những căn nhà ma. Ma thì chẳng thấy nhưng ai cũng biết là những căn nhà này mang không ít du khách về cho thành phố sương mù. Em thì vưỡn luôn luôn bảo lưu quan điểm sau: “ma sống vẫn đáng sợ hơn ma chết nhiều”… Đường phố ban đêm thì trừ khu trung tâm với chợ Hoà Bình, chợ Âm Phủ hoạt động hết công suất để đón khách du lịch, các nẻo đường khác khá yên tĩnh. Lâu lâu lại có màn đua xe gắn máy của các tiểu hảo hán đường phố.

     Em ghé vào tiệm phở Bằng nổi tiếng. Phở ăn ngon nhưng tô hơi nhỏ. Cũng 20.000 vnd căn bản. Em chuồn vào tiệm cắt tóc, ánh đèn nê-ông trắng gần đó. Kép cắt tóc là một đại hán trung niên tươi cười đón khách. Cắt tóc thì tạm được, nhưng kinh hoàng nhất là cái màn cạo râu. Đầu tiên, kép nhắc cái phích nước sôi lên và đổ nước nóng vào một cái ly. Em chưa hiểu diều gì sắp xảy ra thì thấy kép móc từ hộp đồ nghề ra cái bút lông tổ chảng. Kép nhúng bút lông vào nước nóng, rồi như một hoạ sĩ, kép “quét” vài đường cọ lên bức tranh là khuôn mặt nhám nhúa của em. Không biết cây bút lông này đã được kéo trên bao nhiêu khuôn mặt các hán tử khác, nhưng em thấy tình trạng cây bút chắc sắp về hưu. Xong xuôi, kép đi vài đường dao cạo rồi móc ra một bình nước ô – đờ – cô – lôn xịt thẳng vào mặt em. Công đoạn này vừa hoàn tất là kép xoa tay cho nóng rồi… chà lên khuôn mặt liêu trai của em với mục đích để nước ô-đờ -cô-lôn có dịp phát tán diệt vi rút. Phương pháp này hơi kinh dị, làm em nhớ lại tiệm cắt tóc của những thập niên 60. Đến màn lấy ráy tai thì kép hẹn hò “ngày mai anh quay lại dùm vì tiệm sắp đóng cửa”. Ok, tốt thôi. Hành hạ, tra tấn nhau như vậy cũng gọi là tạm đủ rồi, chứ kép này mà chơi cái màn lấy ráy tai bằng lửa (phương pháp mới của năm 2009) thì chắc hôm nay, em chẳng còn ngồi đây mà viết những giòng chữ “trước khi về cõi khác” cho các cụ đọc nữa. Giá cả cắt tóc thì cũng như tô phở, 20.000 vnd. Như vậy, cái răng, cái tóc cũng chỉ “cách nhau trong gang tấc”, hay viết theo kiểu của thi sĩ Du Tử Lê là “đi ăn phở và đi cắt tóc cũng một nghĩa như nhau”!

     Lại từng bước chân âm thầm đi đến các điểm du lịch. Nói chung là ở các thắng cảnh như thác Cam Ly, thác Prenn, đồi thông hai mộ, đồi mộng mơ… đã có nhiều tiến bộ về mặt tổ chức: đường xá, dịch vụ, nhà vệ sinh… Đứng trước thác Prenn, em cứ bần thần cả người. Những kỷ niệm, quá khứ ngày xưa khi đứng trước thác ầm ầm quay lại. Ca cẩm như anh Tàu Kim Thánh Thán, thì đó chính là “chỗ tôi đứng đây, ngồi đây thì trước đây, đã có bao nhiêu người đứng, ngồi… bây giờ, chỉ thấy còn có một mình tôi, chẳng thấy người xưa đâu tá”. Xúc động nha các cụ. Vài chục mùa lá vàng rụng, nhìn lại những thác nước vĩ đại ngày xưa thì chỉ thấy đó là những ghềnh, thác nho nhỏ. Nhưng chẳng hề chi, kỷ niệm là chính.

     Ở đồi Mộng Mơ, nơi được mệnh danh là Lệ-Hằng-Quỳnh-Dao Thung-lũng-tình-yêu, giá vào cửa mắc nhất, 20.000 vnd cộng thêm 3.000 vnd tiền gởi xe, phong cảnh khá hữu tình với cảnh ngàn thông, hồ nhân tạo. Không hiểu có nghệ nhân nào quá xá trơ trẽn, xây nhái lại một khúc Vạn lý trường thành. Đất nước Việt Nam thiếu gì cảnh đẹp, xá gì phải dựng lại cái cảnh bên… Tàu và coi đó là điểm thu hút của du lịch Đà Lạt?

     Dịch vụ chụp hình in lên áo, lên ly và in ra giấy lấy liền khá phổ biến. Giá cả in hình lên một ly gốm là 50.000 vnd. Tốt thôi. Hình vừa chụp bằng kỹ thuật số được các “nghệ nhân dân gian” về PhotoShop chỉnh sửa liền tại chỗ. Cái tình trạng du lịch tham quan “Đi già, về trẻ” là như vậy. Vẫn có thêm các dịch vụ khác cho quý bà, quý cô như trút bỏ xiêm y thị thành để khoác lên bộ quần áo dân tộc thiểu số, với cái vòng đeo quanh đầu, với cành hoa và với cái gùi bất hủ sau lưng. Rồi đứng nhe răng cười để chụp. Quán nước thuyết minh về “sự tích” đồi thông hai mộ vẫn nằm đó nhưng do không phải là mùa “hút” du khách nên chủ tiệm căng một cái võng nằm ngẫm nghĩ việc đời(?).

Thành phố nào, nhớ không em?
Nơi chúng mình tìm phút êm đềm
Thành phố nào vừa đi đã mỏi
Đường quanh co quyện gốc thông già

     Đà Lạt tháng 10 xem ra vắng du khách vì không trùng các dịp lễ lạt. Ông chủ khách sạn mắt rực sáng khi tỉ mỉ kể lại những giây phút “huy hoàng” của Đà Lạt tháng hè hay dịp Giáng Sinh: “Xe cộ, tài tử giai nhân đi đầy đường, tui phải nhét 8 người vào… 1 phòng. Tha hồ mà chém, chặt pặc pặc. bla bla… Công an kiểm tra đến, tui phải chặn ngay ở cầu thang với nụ cười cầu tài và tui giúi vào… (kiểm duyệt tự ý đục bỏ vì quá bôi bác cđ) – (chú thích của người viết)…

     Ở Đà Lạt cũng như ở Sài Gòn, sáng sớm, chừng 6 giờ dậy, chui vào một quán cóc mà thưởng thức một ly cà phê xây chừng và nghe thiên hạ xôn xao bình luận thời sự hay bò ra quán cà phê trên đồi cao mà ngẫm nghĩ những chủ đề tầm cỡ như sự Sống, cái Chết, Ta đi về đâu sau khi giã từ vũ khí, phải xử lý con mụ sếp ra sao khi phe ta thắng cá cặp…

     Xe đò Đà Lạt 2009 không còn là màn chen-chúc-cá-mòi của Đà Lạt năm xưa. Để đánh bài tẩu mã về Sài Gòn hay Vũng Tàu, các cụ chỉ cần gọi điên thoại cho hãng xe. Giá vé khoảng 130.000 vnd. Đến giờ hẹn, một xe trung chuyển 7 đến 12 chỗ đến đón các cụ để đưa ra cá lớn. Cá lớn ở đây thường là xe 50 chỗ. Chỗ ngồi rộng rãi, tạm ok. Phát cho mỗi em một chai nước khoáng tinh khiết, một khăn ướt đàng goàng. Xe chạy đàng hoàng, nghiêm túc, khác hẳn phong cách chạy bạt mạng của các “hung thần” miền Tây. Vấn đề ưu tư nhất khi đi “xe cao cấp” của em là cứ phải đăm đăm nhìn mặt của những người chung quanh trước khi chọn bãi đáp an toàn cho cái bàn toạ thân iu. Phải chọn những em nào coi có vẻ gồ ghề, lì lợm, dầy dạn gió sương. Chứ ngồi gần em nào mà xe vừa đề máy chạy ít phút hay đang xuống đèo là ói lên, ói xuống thì đúng là một thảm kịch kinh hoàng của loài người cận đại. Chỗ ngồi trống chung quanh đã hết, phải bó đít ngồi gần kép-hay-ói đó thì tình trạng tệ hại hơn ở Guantanamo nữa. Mùi hôi, mùi dầu cù xông lên, bảo đảm cụ nào dù gan lì lắm, gan cóc tía lắm, thì khi dzìa đến Sài Gòn, chỉ tơi tả như cái mền Sa-Ky-Men. Xe chạy tốt và dọc đường thì nghỉ 1 lần. Nơi xe “dừng bước giang hồ” thường là một hàng quán có bàn dành riêng cho 2 tài xế và lơ xe để “cảm tạ” đã đổ khách xuống. Không còn cái cảnh cơm tù như thiên hạ đồn đại từ mấy năm nay, nhưng nơi xe đổ khách (ở đây là xe Thái Phong) thì chỉ có trần xì… một cái quán! Cụ nào không thích quán này thì xin ra ngoài quán, ngồi đợi ở bên ngoài (vì xe cao cấp đã khoá cửa, tránh mất đồ đạc để trên xe) chứ nhìn mút mắt, chỉ thấy rừng và núi chung quanh mà thôi.

     Ý, em quên mô tả cái khu vệ sinh ở bến xe đò cao cấp cấp cao mới toanh chưa ra lò này (chưa kịp đổ cả nhựa đường) – xin lỗi các cụ là bi giờ, thiên hạ đã ở thời đại đi xe cao cấp rồi mà em lại cứ có thói quen gọi là xe đò – là trước khi lên xe làm cái màn “Ai xuôi vạn lý”, em cẩn thận đi trút bầu tâm sự để tránh cái cảnh chẳng đặng đừng khi bắt cả xe đợi giữa đường. Em xin “chốt” lại tình trạng của cái-gọi-là phòng vệ sinh ở bến xe mới toanh của Đà Lạt để các cụ rõ (và rút kinh nghiệm) như sau:

     Nếu có quý cụ, các bô lão, trẻ già, lớn bé, sồn sồn, không phân biệt nam nữ giới tính… nào mắc những chứng sau: đái rắt, đái kinh niên, đái mãn tính, đái vặt, táo bón, ỉa rắt (trừ trường hợp tháo dạ khẩn cấp không-xin-phép) thì phòng vệ sinh Đà Lạt xứng đáng được coi là một phương pháp (méthode) để điều trị dứt điểm những căn bệnh kể trên. Đảm bảo (chứ không viết bảo đảm nữa) là các cụ sẽ giã từ những bệnh kể trên đời đời khi các cụ đã vào phòng vệ sinh của cái bến xe cao cấp này một lần. Một lần và chỉ một lần thôi là đủ.

     Một chi tiết đáng nhớ sau đó là khi em xách quần tất tả chạy ra xe thì một chị gái âu yếm gọi theo “Anh kia ơi, cho em xin 1.000 đồng tiền giữ nhà vệ sinh!” Em cực lực phản đối và lên án trước dư luận trong và ngoài nước về cái điều ai đó nói là dân ở Đà Lạt do trời lạnh teo bu-gi nên không có tính hài hước…

     Đà Lạt 2009 hoành tráng nhưng không phải Đà Lạt của những năm 1972, 1980, 1983, 2002 nhiều kỷ niệm của em. Khách sạn Palace ngày xưa chẳng còn là gì so với đám hậu sinh khả ố như khách sạn Sammy, khách sạn to đùng của Saigon Tourists bi giờ. Đường xá Đà Lạt vẫn tấp nập. Chợ búa, bến xe vẫn đông đảo khách thập phương qua lại. Không mợ thì chợ vẫn đông, có mợ thì chợ vẫn vui như thường… Mắt em ráo hoảnh, vẫn mở ra trao tráo. Tim em vẫn đập thình thịch, tốc độ đủ bơm máu tràn trề lên não như các máy bơm nước ở Suối Vàng, hồ Tùng Lâm hoạt động hết công suất… Và em nhìn thấy rất rõ một chàng trai trẻ, “mãi mãi tuổi 20”, cười cười nói nói, đứng chen vai, thích cánh chụp hình với những người bạn học cũ trên đồi Cù. Hình ảnh đó, như trong những phim B, từ từ mờ nhạt rồi biến mất mãi trên màn hình ký ức già nua của em.

     Chuyện ngày xưa, cái gì cũng đẹp cả. Từ trước và cho đến bi giờ, em vẫn chiêm nghiệm thấy cái gì mà có xen vào hai chữ “ngày xưa” thì phải nói là ký gì cũng êm đềm, đầy tính chất mơ mộng của chủ nghĩa lãng mạn ướt át cá nhân. Em đang xúc động. Em đang cảm khái. Xin phép các cụ cho em đi vi vút vài hàng lạc đề dưới đây để chấm dứt bài này như sau:

     “H. mến,

     Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em …

     Năm ấy, tháng 7, 1982 lần đầu cũng như lần cuối, anh có dịp lên Đà Lạt với gia đình em. Nói chữ ‘đi với gia đình em’ cho xôm tụ, chứ thật ra là mẹ em và cô em em và em ở khách sạn Anh Đào, khách sạn “oách” sau khách sạn Palace. Anh thì ở khu nhà nghỉ kế cận và cứ mỗi buổi sáng là lò dò đi qua khách sạn em ở. Trước là vấn an sức khoẻ ma măng của em, sau là tìm trăm mưu nghìn kế để cách ly má em và em. Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi… Để có thể dẫn em đi chơi bờ hồ, đi lên đồi Cù thơ mộng. Để có thể ngắm thấy con Gà trên tháp chuông của nhà thờ Chánh Toà mờ ảo sau những làn sương mù từ đàng xa. Đồi Cù bi giờ, coi như ‘nội bất xuất, ngoại bất nhập’, chỉ dành cho những Cù nhân, những đoàn du khách được phép vào tham quan mà thôi. Những cặp tình nhân yêu nhau ra rít như anh và em ngày ấy, được trân trọng mời xê ra chỗ khác chơi cho tiện việc sổ sách.

     Năm ấy, anh đã nghĩ là đó là lần cuối đi chơi với em. Giờ này còn cầm tay, cầm chắc mối duyên bẽ bàng…

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi.
Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ,
Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.
Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa…”

     Bây giờ là Đà Lạt năm 2009. Bao nhiêu nước đã chảy qua ghềnh Prenn, bao nhiêu nước đã đổ xuống từ thác Bảo Đại, thác Datanla, bao nhiêu mùa hoa nở đã qua. Tất cả, chỉ còn là dĩ vãng thật đẹp…

     Vĩnh biệt em, vĩnh biệt Đà Lạt của những ngày tháng cũ!

PHẠM HÀ TRANG
Đà Lạt, tháng 10, 2009

 

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Đà Lạt Ngày Tháng Cũ _ (Phạm Hà Trang) (Tạp Ghi)