Gốc Khuynh Diệp Già _ (Phạm Mai Hương) (Hồi Ký)

  • PDF

truong tran binh trong da lat_1jpg.jpg - 120.49 Kb

GỐC KHUYNH DIỆP GIÀ

Thân tặng tất cả cựu học sinh trường Trần Bình Trọng

     Năm 1960, khi tôi vào học lớp Năm, tức lớp Một bây giờ, khuôn viên trường tiểu học Trần Bình Trọng nằm nguyên cả một ngọn đồi giáp ranh giữa đường Trần Bình Trọng và Yagut. Lúc ấy trường chỉ trơ trọi hai dãy lớp xây theo hình chữ L. Một dãy gồm bốn phòng dành cho khối lớp Nhất và lớp Nhì, dãy kia có bảy phòng cho ba khối còn lại và một phòng thầy Hiệu trưởng.

     Khu nhà vệ sinh nằm thấp xuống một chút, lũ học sinh nhỏ chúng tôi hơi ớn khi đi xuống đó một mình vì nghe đồn có ma trong ngôi nhà của ông cai Hoàng ở gần đấy. Sân trường khá rộng, có trụ cờ cao ở giữa. Bãi tập thể dục nằm cuối sân trải toàn cát, giữa bãi tập trồng hai trụ gỗ khá cao, chắc chắn; phía trên gác một đà ngang, một trụ bằng sắt nằm sát một trụ gỗ để học sinh tập leo. Đà ngang móc ba sợi dây thừng to, có sợi để nguyên, có sợi thắt gút từng đoạn. Tôi không nhớ ngày xưa học môn thể dục như thế nào nhưng học trò nhỏ lớp Năm chỉ cần ngồi trên một gút, quặp hai chân lại để một đứa bạn đẩy lên cao là cảm thấy sung sướng rồi.

     Xung quanh trường trồng toàn cây khuynh diệp  chắn gió, lấy bóng mát và làm hàng rào. Cây lớn nhanh, thân cây cứng cáp vươn lên trời xanh. Ngày tôi vào lớp một cây mới chừng năm mét mà khi tôi rời trường lên cấp hai Bùi Thị Xuân có gốc đã to một người ôm không hết; giờ dân địa phương lấn đất khiến hàng cây khuynh diệp mất dần chỉ còn lại vài cây nằm phía trước. Ngày xưa đó chúng tôi đã có vô số trò chơi dưới gốc cây: trái già to thì làm con vụ xoay, nhặt lá vàng viết tên lên đó, nhất là sau hôm thầy Diệp Đình Trà giảng bài Nguyễn Trãi lấy đường viết trên lá cho kiến đục chữ: “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”. Quanh trường, cây lùm bờ bụi có nhiều trò chơi ghi dấu từng gót chân của tuổi thơ. Sao ngày đó cây cối rậm rạp thế ! Nếu may mắn, chúng tôi còn tìm được vài trái sim rừng ngọt lịm hay trái mát mát chua chua.

     Lúc ấy, thầy Diệp Đình Chi làm hiệu trưởng. Thầy gốc người Hoa,  điều đó khá lạ vì người Hoa sinh sống ở Việt Nam chuyên về buôn bán mà thầy lại chọn nghề gõ đầu trẻ. Thầy đã già, dáng người mập, thấp, tính tình hiền lành. Tôi chưa học xong tiểu học thầy đã về hưu. Tuổi tác không ngăn chí hiếu học của thầy. Lúc đang học trung học tôi nghe tin thầy mất sau khi lấy bằng cử nhân văn chương ngành Hán.

     Thầy cô và học sinh có khoảng cách rất xa. Học sinh khó tưởng tượng được thầy cô cũng biết ăn, biết chơi như mình. Ai cũng đĩnh đạc, nghiêm trang từ lời ăn tiếng nói đến cách đi đứng. Thi tuyển vào ngành sư phạm phải qua hai kỳ thi. Sau khi thi đậu phần viết thí sinh phải thi vấn đáp. Giám khảo đánh giá cao phần ngoại hình, tư cách , giọng nói và ngay cả chữ viết của thí sinh. Thầy cô giáo viên tiểu học ngày ấy thường ghi danh học tại đại học Đà Lạt. Thầy Nguyễn Nam Ninh về trường bấy giờ dạy lớp Nhì, tôi học lớp Nhất, vậy mà năm tôi vào đại học, tôi vinh dự được dự buổi trình luận văn cao học của thầy với tiêu đề: Tám bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ.

     Bấy giờ tôi còn nhớ các thầy cô như: thầy Nguyễn Quốc Bảo, thầy Nguyễn Khắc Dương, cô Bùi Thị Ninh, thầy Nguyễn Văn Sinh…; ấn tượng nhất là thầy Diệp Đình Trà, thầy dạy tôi năm lớp Ba. Thầy là con trai của thầy Hiệu Trưởng. Thầy còn trẻ , dạy rất nhiệt tình, hay nhất là môn lịch sử. Tôi không làm sao quên được giọng nói, gương mặt và cử điệu của thầy: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”… cùng với các buổi diễn kịch tự phát của lớp nay vẫn in sâu vào tôi . Dù đã trên 40 năm nhưng tôi vẫn nhớ giọng nói trẻ trung vui tươi, đôi mắt nâu vàng và thói quen phải có một ly nước trong vắt mỗi buổi dạy của thầy. Thời gian trôi qua, nhiều thầy cô đã từ giã cõi đời, phần đông rời xa Đà Lạt, giờ còn thầy Trần Văn Nghe, hưởng nhàn với quán tạp hóa nhỏ trên đường Hoàng Diệu.

     Tôi gắn bó với trường như cây khuynh diệp già ngày tháng lặng lẽ với giòng đời. Sau khi học xong trung học và sư phạm, tôi trở về trường dạy học, đến nay đã hơn 30 năm. Ngôi trường quen thuộc hơn cả người thân, chứng kiến sự lớn lên của con bé sáu tuổi đến cái già theo năm tháng của bà giáo tóc điểm hơi sương. Ngôi trường lưu dấu sự ngỡ ngàng ngây thơ của ngày đầu đi học đến tháng ngày miệt mài trên bục giảng; niềm nhiệt huyết tuổi trẻ tôi đã để ở đây, dẫu năm này tháng nọ, bài giảng có khác nhau, khi bước chân vào lớp tôi vẫn thấy đó là gia đình mình. Nhưng đâu chỉ mình tôi thiết tha với ngôi trường ấy mà có nhiều, nhiều người như thế…

     Cách đây khá lâu, vào một buổi chiều, trời khá âm u mặc dù mới đổ cơn mưa lớn… Ngôi trường rệu rã lắm rồi, học sinh ngồi dồn lại để tránh dột chưa kịp tản ra. Tôi nhìn học trò mà lòng buồn theo trời đất. Bỗng một nhóm người ăn mặc sang trọng xuất hiện ở sân trường, cười nói vui vẻ. Học sinh làm lạ, bỏ dở bài học ngoái cổ nhìn ra. Một người đàn ông trạc tuổi năm mươi, tách khỏi nhóm, bước vào lớp, chào tôi, ngập ngừng nói:

     -Năm xưa, tôi học ở trường này và tôi nhớ tôi đã từng học ngay lớp này. Bây giờ, có dịp về nước thăm gia đình, tôi trở lại Đà Lạt và tìm về ngôi trường đầu tiên tôi học. Tôi xin chị cho tôi được chụp tấm hình trong lớp cùng các cháu...

     Tôi nhìn anh lòng bừng niềm vui. Chẳng biết khi rửa hình ra, anh có tìm thấy chú học trò nào có mái tóc vàng hoe cháy nắng năm nào của anh không mà lặn lội nghìn trùng tìm về chút dư âm của ngày xưa cũ.

     Chút dư âm ngọt ngào lẫn man mác buồn trộn lẫn trong buổi lễ phát thưởng cuối năm. Hôm ấy sân trường nhộn nhịp đầy phụ huynh, học sinh quần áo tươm tất với khuôn mặt rạng rỡ. Trên lễ  đài, những chồng phần thưởng đủ màu sắc xếp thành hàng dài. Tiếng loa phóng thanh xướng danh tên học sinh lẫn với tiếng vỗ tay. Ít ai để ý một cụ già hom hem nhưng vẫn đĩnh đạc bước xuống xe, cụ dựa vào một cậu thanh niên, bước chậm chạp dọc theo hai dãy lớp, trầm ngâm thật lâu trước phòng hiệu trưởng, cụ hồi tưởng lại ký ức rồi bùi ngùi tâm sự:

     -Tôi từng làm hiệu trưởng ở đây; biết mình không còn sống bao lâu, tôi muốn về thăm lại lần cuối!

     Sau vài lần chỉnh trang thành phố, khuôn viên trường dần thu nhỏ lại. Hàng cây khuynh diệp không thuộc về trường nữa mà thành cây xanh của hè phố. Có cây đã bị mất bóng dáng mà chẳng ai biết tại sao, ai đốn lúc nào? Nhà ông cai Hoàng trước kia nằm trong phần đất của quả đồi thuộc khuôn viên trường nay đã lẫn hòa vào phần đất của cư dân. Chỉ có gốc khuynh diệp già mới nhớ đúng và chứng kiến nhiều lần đổi thay của ngôi trường qua từng mùa lá rụng. Hai dãy lớp cũ kỹ và khu nhà vệ sinh được đập phá xây thành hai dãy nhà ba tầng đồ sộ; khối văn phòng có cả một khu riêng với tầng trên làm hội trường. Khuôn viên trường được ủi san bằng phẳng, tráng xi măng.. Quanh trường thôi không còn hình ảnh sắc vàng rực rỡ của những đóa hoa dã quỳ nở trong lạnh đông, và cánh hoa sắc vàng ở lại với lũ học trò trên những vành nón, trên bàn cô giáo…

     Ngôi trường dẫu có bộ mặt mới nhưng mơ ước của tuổi thơ bao thế hệ như ánh trăng vẫn nguyên vẹn một tấm tình. Trên hiên bà giáo chuẩn bị về hưu bước dọc theo hành lang. Cơn gió thoảng qua tàng cây khiến chiếc lá vàng chao mình lượn vòng quyến luyến, là đà bay theo bước chân đi. Người về qua trường với chút hồi ức như đi tìm chiếc lá vàng của mùa thu trước. Những gốc khuynh diệp già mà thân cây vẫn hiên ngang thẳng vươn trên trời cao, lặng lẽ dấu ôm từng kỷ niệm, từng hình ảnh mỗi ngày của thầy trò Trần Bình Trọng theo năm tháng vào lòng và hôm nay như vẫn còn vàng tươi trong chiếc lá…

Phạm Mai Hương

truong tran binh trong da lat 5.jpg - 65.37 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Gốc Khuynh Diệp Già _ (Phạm Mai Hương) (Hồi Ký)