Đà Lạt Đã Chết Lâm Sàng _ (Alan Phan & Bạn đọc) (Tạp Ghi)

  • PDF

63466056276caonguyendl_thumb.jpg - 367.02 Kb

ĐÀ LẠT ĐÃ CHẾT LÂM SÀNG
  

Ban Biên Tập:
-
Bài này đã được đưa lên trang mạng Dalatdauyeu.org ít lâu trước đây với tiêu đề "Ai Lên Xứ Hoa Đào". Nay xin đăng tải lại với tiêu đề nguyên thủy là "Đà Lạt Đã Chết Lâm Sàng" của Alan Phan. Kèm theo là một số ý kiến đóng góp.
- "Lâm sàng" là "thuộc về những gì trực tiếp quan sát thấy được ở bệnh nhân, ở trên giường bệnh".
                                                        ***

 Một quốc gia hủy diệt thiên nhiên sẽ tự hủy diệt. Núi rừng là lá phổi của đất nước, thanh lọc không khí và tạo năng lượng mới cho con người (Franklin Roosevelt). 

     Năm 1955, tôi vừa 10 tuổi, cha tôi gởi cả gia đình lên Dalat.  Ông nói môi trường sống ở Saigon quá xô bồ, ô nhiễm và thiếu văn hóa (nếu ông sống ở Saigon ngày nay thì chắc ông sẽ gởi tôi lên… mặt trăng ở với chị Hằng… hay một chị chân ngắn nào đó). Mẹ tôi mua một căn nhà ở 60 dốc Duy Tân, buôn áo quần trẻ em, và 4 anh chị em bắt đầu khám phá một thiên đường mới thật nhiều cây xanh hoa lạ.

     Dalat 1955

     Lúc đó, Dalat lạnh thấu buốt tận lòng. Ngày nào, chúng tôi cũng co ro trong chăn, mơ thấy các bí hiểm về rừng sâu qua những huyền thoại, cười giỡn khúc khích khi dọa hù ma quỷ, và miên man với một thiên nhiên dù hoang dã nhưng rất trong lành.

     Hồi đó người Thượng (giờ gọi là người dân tộc) dù sống trong thôn bản của họ vẫn lui tới giao lưu với người Kinh khắp nơi, nhất là quanh khu chợ Hòa Bình. Họ hiền lành trong những sắc phục cổ truyền nhiều mầu sắc, bập bẹ tiếng Việt và tạo một cảnh quan sống động hài hòa. Trong ký ức của tôi, ấn tượng nhất là những người phụ nữ, ở trần khoe bộ ngực thường lớn và cứng cáp như các cô gái Âu Mỹ trong phim rạp hay sách vở. Với tiềm thức “khát sữa” của tôi, đây là hình ảnh tuyệt vời của người tình trong mộng. Tôi mơ làm một chàng trai Thượng vạm vỡ, có vài bạn gái, uống rượu cần mỗi đêm và cùng nhau nhẩy nhót cạnh bờ suối trăng.

     Một lần, khi đi chơi thật sâu vào rừng, tôi và mấy đứa bạn đến một giong suối có mấy cô gái Thượng đang tắm. Ngược với thái độ của mấy cô gái Kinh là thét thất thanh, các cô Thượng vẫy chào chúng tôi như những người bạn lâu ngày vừa gặp. Lúc lên lau người, một cô thấy tôi trân trối nhìn vào bộ ngực cao bồng của mình, lấy tay tôi đặt nhẹ lên ngực mình, cười vang, rồi cùng bạn biến mất sau những tàng cây um tùm. Tôi nghĩ mình vừa được ban phước Thánh.

     Cha tôi vẫn ở Saigon làm ăn và lái xe thăm gia đình mỗi tuần.  Một chuyến đi thăm, ông buồn ngủ, xe bị lật xuống đèo Prenn, ông không lái xe nữa và dọn cả gia đình về lại Saigon. Tôi rưng rưng nước mắt giã từ rặng núi Lang Biang, thác Cam Ly, hồ Than Thở và những ngọn đồi quanh hồ Xuân Hương. Cả những căn villa nhiều hoa hồng, tiệm ăn Eau Vive, nhà Thủy Tạ, ngôi thánh đường trên dốc cao và những đứa bạn đã cùng nhau thám hiểm các khu rừng lân cận theo đúng tinh thần của Robinson Crusoe. Tôi cũng nhớ tha thiết những người Thượng hiền lành và những người tình trong mộng.

     Dalat 1969

     Tôi gặp lại Dalat lần thứ hai khi ở Mỹ về và lên dậy học tại Trường Võ Bị. Những người Thượng vẫn còn lui tới và thành phố vẫn dầy đặc sương mù mỗi đêm. Những con đường dốc vẫn đầy hoa bất tử (immortel) trước những căn villa buồn lặng và đôi má các thiếu nữ vẫn ửng hồng trong ánh nắng đầu ngày. Tôi đã trưởng thành và tìm một “mình” mới lạ trong một cuộc tình cháy bỏng và ngắn ngủi nhưng cũng đầy thơ mộng. Chiến tranh bao quanh với tiếng đại bác vọng về mỗi đêm nhưng Dalat lại may mắn không bị tổn hại, và trở thành một ốc đảo thanh bình cho những tấm lòng thương yêu thật bình dị.

     Trong dâu biển của đời mình, Dalat có lẽ là điểm sáng chói lòa của hạnh phúc. Cái nhỏ bé, văn minh và thẹn thùng của Dalat là cái quyến rũ đậm đà thầm lặng của thiên nhiên và con người khi hài hòa. Trong khung hình của ký ức, những người Thượng chất phác trong lành tạo một “bối cảnh” (backdrop = danh từ của phim ảnh) của những câu chuyện tử tế và có hậu.

     Dalat 2013

     Tôi quay lại Dalat tuần rồi sau 2 năm vắng bóng. Cái thất vọng vào chuyến đi chơi 2011 có lẽ đã là một dự đoán cho cái tuyệt vọng ngày hôm nay. Từ một đứa con gái dậy thì, Dalat đã già nua phong trần như một vũ nữ xế chiều, không còn nhân cách.

     Backdrop đã phai nhạt: những người Thượng đã biến mất hay họ không còn biết đến những sắc phục cổ truyền. Những vườn hoa trước các villa và những chiếc áo dài không còn tô điểm cho các con đường thành phố; bây giờ mọc đầy những căn nhà hộp quẹt với mầu sắc lộn xộn và bảng hiệu tạp nham. Xa xa, những ngọn núi đã bắt đầu trọc lóc vì nạn phá rừng làm rẫy. Thay vì mùi hoa mimosa hay dạ lý những đêm mùa đông, Dalat hôi thối đến tận cùng với mùi phân bón và rác rưởi quanh tỉnh. Với số lượng cây cỏ bị chặt đốn, Dalat nóng gần bằng Saigon, và dĩ nhiên, với sự du nhập của văn hóa xe máy, khói bụi và tiếng ồn cũng bắt đầu mọc rễ.

     Tôi đưa vài người bạn nước ngoài đến nhà Thủy Tạ để giới thiệu “môi trường văn hóa cà phê” mà Vũ Trung Nguyên hay rao giảng. Vừa được 5 phút, chúng tôi phải bỏ chạy vì mùi xú uế nồng nặc từ tảo đỏ và xác cá chết của hồ Xuân Hương. Tôi vẫn không bỏ cuộc: tôi dẫn các bạn đó đến hồ Tuyền Lâm. Các dự án khu nghĩ dưỡng bao quanh khu hồ, dang dở bỏ ngang khi thị trường bất động sản đi vào khủng hoảng. Cũng may cho hồ, nếu GDP tiếp tục tăng trưởng trên 10% mấy năm qua, có lẽ hồ Tuyền Lâm cũng đã cùng số phận với hồ Xuân Hương, thác Cam Ly và bao địa danh khác của thời tôi còn trẻ.

     Dalat đã chết lâm sàng. Không biết ngày nào sẽ đem chôn?

     Tôi bay về lại Saigon ngay ngày hôm sau. Tôi không muốn nấn ná nhìn dung nhan tiều tụy của người con gái mình đã yêu. Dọc đường, tôi vặn IPod nghe lại bài hát Chiều Vàng của Nguyễn Văn Khánh. Có lẽ đây là bài điếu cho đám tang của Dalat. Hay sẽ là lời phán của Gandhi, ”Trái đất cung ứng đầy đủ cho nhu cầu (need) của con người, nhưng không bao giờ đủ cho lòng tham (greed) của họ.”:

     “Năm tháng trôi qua sóng gió đời…
    
Chiều chiều nhớ em khôn lòng nguôi…”

Alan Phan
(15-4-2013)

hoxh1.jpg - 59.26 Kb  

1) Thaonguyen:
 
     "Bác Alan làm em phát khóc khi ví Đalat như một cô vũ nữ xế chiều tàn tạ. Ôi người tình của em hồi trẻ giờ sao ra nông nỗi này?

     Năm 1971 lần đầu được lên Đalat, em đã ngây ngất lang thang ngoài phố từ sáng sớm đi trong sương mù, từ trong màn sương, nghe tiếng cười nói nhẹ nhàng, rồi từ từ hiện ra những cô gái áo dài trắng, áo len xanh sẫm, đôi má hồng hơn hoa đào, tay xách cặp đến trường, những con đường đất đỏ quanh co lên thác Camly, lên viện đại học, hai bên đường đầy hoa dại, nhiều nhất là hoa dã quì, ngôi nhà nào cũng có giàn hoa nho nhỏ hay chậu hoa bên cửa sổ, bầu trời đêm trong vắt đầy sao, hương hoa mimosa thoang thoảng, thác Camly nước đổ dào dạt trắng xóa, cây hoa dạ lý hương lớn ngay trước cửa Hotel Ngọc Lan (nếu nhớ tên không lầm) cạnh rạp cine gì đó, món bắp nướng nóng hổi gần chợ Dalat, những người thượng lưng đeo gùi, mặc váy áo, đem củi thông từng bó xuống bán ở chợ, tối ra ngồi Thủy tạ ngắm ánh đèn soi trên mặt hồ.

     Hai lần trước về VN, năn nỉ cả nhà đi Đalat chơi, mà ai cũng từ chối, nhất là mẹ tôi, cứ viện cớ ngồi xe đường xa mệt mỏi không đi, nên tôi đành quanh quẩn ở Saigon. Hóa ra ai cũng biết dung nhan cô vũ nữ Đalạt giờ thảm hại ra sao, chỉ có tôi còn hoài cổ tương tư “ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi…”

     Giờ nghe bác Alan tả cảnh, sợ quá, không biết thác Prenn, Đa-tân-la giờ ra sao, còn có nước rơi không, hay tắt tị luôn rồi. Ai đã giết chết người tình ngày xưa của tôi dã man như vậy?

2) JackZhang:

     Sau năm 1975 cho đến nay, một số rất lớn những người có máu mặt, tiền của, trí thức đã chạy trốn chạy khỏi Ðà Lạt. Ðặc biệt là những người có liên hệ đến chính phủ Pháp vốn có quan hệ ngoại giao tốt đẹp với Hànội đã lần lượt được cho Hồi Cư để về Pháp, để lại đằng sau những biệt thự rộng lớn, nguy nga, tráng lệ cho chính quyền “chân đất”, chăm sóc và cửa tiệm dành cho “quốc doanh”….

     1994 tôi đã trở về thăm và lòng tràn đầy chua xót khi thấy mọi thứ giờ đã mất. Bây giờ chỉ còn người dân Ðà Lạt lam lũ, tất bật. Những người ở lại là những người sống bám theo những mảnh vườn rau. Ngoài ra,hơn cả trăm ngàn người từ miền Bắc được chính quyền mới đưa vào với chính sách di dân để thay thế “ngụy” khống chế Cao Nguyên Miền Trung đã phá rừng ở quanh khu lân cận thành phố khiến cho các dòng nước bị cạn, và thời tiết cũng không còn mát mẻ như xưa. Con đường Phan Ðình Phùng buôn bán thủa xưa, nay đã trở nên đông đúc, chật hẹp và ồn ào náo nhiệt như một khu phố của SàiGòn ngày trước.

     Với mức dân số tăng vọt sau cuộc chiến, thành phố đã phát triển vô tổ chức, không kế hoạch đưa đến tình trạng bát nháo, từ khu vực Phan Chu Trinh, Nhà Ðèn đến Chi Lăng ăn vào tận Hồ Than Thở. Cơ sở của Trường Võ Bị nay tiêu điều, xơ xác như bị bỏ hoang. Các dòng nước bị ngăn chặn và làm cho các hồ Than Thở, Xuân Hương muốn cạn khô khiến vẻ đẹp thiên nhiên không còn nữa. Các loại xe gắn máy cũng tăng vọt làm cho không khí yên tĩnh của Ðà Lạt ngày xưa biến mất.

     Ðến thời kỳ “đổi mới”, người Nhật, người Tầu Ðài Loan, Hồng Kông đã đổ tiền vào khai thác như tu sửa khách sạn La Palace, làm sân Golf, xây khách sạn nghỉ mát trên vùng đồi núi bên hồ nước Suối Vàng. Ðà Lạt bỗng chốc biến dạng như một thiếu phụ đã luống tuổi vội vàng tranh điểm, thay đổi xiêm y. Một giai cấp mới được thành hình vừa Rởm lại vừa “lai căng”. Tây không ra Tây, Tầu không ra Tầu. Ðà Lạt diễm kiều của ngày xưa nay đã mất. Thay vào đấy là cô gái Xã Hội Chủ Nghĩa đi giầy cao gót, đồng phục công nhân và mái tóc cắt ngắn đã được nhuộm màu vàng, đỏ với đôi mắt láo liên và đôi môi cong cớn mời chào.

     Ngọn núi nghĩa trang của Ðà Lạt có từ những năm 30 đến nay đang bị đào xới và san bằng cho chương trình kế hoạch của người tư bản nội ngoại. Ở đấy, có cả một nhóm mộ ngày xưa được gọi là Mộ Tử Sĩ, ngày nay không còn ai công nhận để bị dẹp bỏ cho con đường đổi mới.

     Nhà cầm quyền ủng hộ nhiệt tình cho “công cuộc đổi mới”. Một thành phố Du lịch và Nghỉ mát có mâu thuẫn với Xã hội Chủ nghĩa không? Bây giờ dân số Ðà Lạt đã gấp ba lần trước năm 1975, chưa rõ phải sống trên nền móng kinh tế nào? Nhưng họ vẫn làm vì có nhiều “phong bì” Cuộc khai thác du lịch như nửa mùa nửa tỉnh, quê kệch ở hồ Xuân Hương, Thác Cam Ly, Thác Da Tan La, Preen, Suối Tía, Rừng Ái Ân, Biệt Ðiện vua Bảo Ðại chỉ làm cho bộ mặt Ðà Lạt càng thêm diêm dúa như “gái đĩ về già”.

     Ðà Lạt ngày nay càng xói mòn vì mưa lở và khí hậu ngày cáng nóng bức vì trơ trụi mất rừng cây thông bạt ngàn bao quanh… chỉ vài năm nữa nó là thành phố sa mạc trên cao nguyên… khóa than cũng vậy thôi…

3) Người xưa:

     Dalat những năm tháng khó quên

     Năm 1968 lần đầu tiên tôi đến Dalat với không khí mát mẻ, đầy hoa và con người lịch thiệp ngay cả những đứa nhỏ cấp tiểu học, tôi được ở trong ngôi nhà 3 tầng với tiện nghi và mức chi tiêu hào phóng của gia đình dì. So với khí hậu ở Huế nóng nẻ đầu, mưa lạnh thấu xương, những đứa bạn hàn xóm nói chuyện phải chưởi tục, đánh lộn, người lớn thì say xỉn, nhà tôi ở là nhà tranh vách đất, ngày ba bửa cơm cháo là “giàu” nhất xóm rồi. Lúc đó với tôi Dalat là “xứ thiên đường”.

     Cứ hai năm tôi lên Dalat 3 tháng hè, cái thiên đường đó vẫn còn kéo dài đối với tôi cho đến 1975, những lịch thiệp trong giao tiếp người dân phải bỏ đi dành cho những dả dối, nghi kỵ, đề phòng lẫn nhau, tính cách dân Dalat dã biến chuyển từ đó.

     Năm 1983 thác Cam Ly đã không còn nước, hồ Xuân Hương đã bắt đầu khô, còn người đã tác động nhiều đến thác Prenn, chỉ thác Da Tan La là vẫn còn hoang dã vì con người chưa mó đến. Các quán ăn đã bắt đầu chặt chém! Cách bán buôn lịch thiệp, chân thật, vui vẻ chiều khách đã không còn. Phong thái hành xử đúng mực của dân Dalat đã chết!

     Năm 1989 Dalat không còn lạnh, cảnh sắc tiêu điều, biệt thự hoang vắng, đồi Cù bị bán cho tập đoàn ngoại. Dân cư, hàng quán không còn lịch thiệp được một phần mười như trước, người Dalat xưa không còn mấy người, như anh Jack nói họ đã di dân ra nước ngoài hay về Sài Gòn xuống Nha Trang cả rồi, dân mới đến lừa đảo trong buôn bán, chính quyền can thiệp “cải tạo”…

     Từ đó đến nay nghe một số bạn thân ở hải ngoại về thăm Dalat và mấy người chị em không có điều kiện rời đi ca thán, dù chưa trở lại nhưng với tôi từ 1983, tôi đã nhận ra Dalat sẽ chết là một điều tất yếu vì còn người Dalat xưa đã không còn?! Chỉ có thiên nhiên mới tạo ra phần hồn của cảnh quan, còn con người càng can thiệp càng giết chết nó.

4) Trần Hùng:

     …Tôi là người đã sinh ra và từng sống ở Đà Lạt khá lâu, có thể tự nhận là người Đà Lạt – Xin giới thiệu trang : http://www.dalatdauyeu.org.

     Còn bây giờ tôi chỉ là "người Đà Lạt cũ"! Trong tâm khảm của mình , đối với tôi Đà Lạt là Trường trung học Trần Hưng Đạo, Trường VBQG, Đồi cù, rừng Bảo Đại, Giáo Hoàng học viện, đồi Tùng Nguyên (với trại trường Tùng Ngyên), Trại Hầm, Trại Mát, các rạp chiếu bóng Hòa Bình, Ngọc Lan, Ngọc Hiệp...

     Chiều 29 ngày cuối năm con rồng vừa qua, nhân dịp về nghỉ Tết, dẫn con gái thăm lại đồi Tùng Nguyên, rồi quay về đi qua đường Trần Hưng Đạo, Nguyễn Du, nhìn những villa cổ độc đáo của Pháp hoang tàn, trong lòng chợt thấm thía với tâm trạng hoài cổ của nữ sĩ "Bà Huyện Thanh Quan”:

     "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
     Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
     Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
     Nước còn cau mặt với tang thương
     Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
     Cảnh đấy người đây luống đoạn trường."

     Tôi còn một tiếc nuối nữa cho Đà Lạt: Đó là cái chất của người Đà Lạt hồi xưa, nay thì mai một đi nhiều!! Nhưng thôi !...

5) Lưu Nhi Dũ:

     Còn đâu Đà Lạt!

     Đà Lạt đã bước vào tuổi 120 nhưng với nhiều người, TP sương mù này vẫn là một cô thiếu nữ 18, dù thời gian và con người đã lấy đi của Đà Lạt nhiều thứ quý giá.

     Đà Lạt đã bị “đánh cắp” nhiều thứ. Những cánh rừng thông trong TP bây giờ chỉ còn những cây thông cô độc trong gió hoang dại Langbian. TP trong rừng - rừng trong TP đã biến mất

     Cái lạnh lãng mạn vào mỗi buổi sáng, buổi chiều chỉ còn phơn phớt, chưa đủ để ủ hồng đôi má thiếu nữ. Sương mù lãng đãng ngày nào trên Đồi Cù và Thung lũng Tình yêu giờ là “đặc sản” hiếm gặp. Những ngôi nhà kiểu phố thị chọc phá thiên nhiên huyền hoặc của Đà Lạt…

     Ai từng sống, ai từng ghé một lần và ai lỡ yêu Đà Lạt mỗi lần trở về đều cảm thấy hụt hẫng vì TP này đã “hiện đại” hơn, trần trụi hơn và dĩ nhiên ngày càng ít quyến rũ hơn. Đà Lạt đang đô thị hóa một cách nhanh chóng, một TPHCM trên cao nguyên Langbian.

     Hãy coi chừng, chúng ta đang “mất” Đà Lạt!

     Những lời cảnh báo như vậy không chỉ mới đây mà đã nhiều lần những người yêu Đà Lạt kêu gọi. Những quy hoạch đã được đưa ra trên nền tảng quy hoạch của người Pháp nhưng rồi Đà Lạt vẫn biến dạng. Giờ đây, Đà Lạt được quy hoạch rộng lớn hơn, diện tích gấp 9 lần hiện hữu với những TP vệ tinh, nối với Đơn Dương, Đức Trọng, Nam Ban, Suối Vàng. Liệu có quản lý nổi một TP lớn như vậy khi mà chỉ riêng Đà Lạt thôi, người ta còn để xảy ra những việc như khai thác thiếc ngay cả ở Thung lũng Tình yêu? Một con đường luồn trong rừng, trong mây như đường nối liền Đơn Dương với Đà Lạt, qua đèo Dran đến với Cầu Đất mà cũng không sửa lại cho đàng hoàng thì làm sao hình thành nổi một TP vệ tinh như Đơn Dương?

     A.Yersin đã 3 lần thám hiểm Langbian để tìm thấy Đà Lạt. Ở đó, ông gặp bộ tộc người Lat bên dòng suối xanh biếc, gặp cảnh quan huyền diệu của “Langbian nhỏ” và chợt nhớ đến câu ngạn ngữ Latin: “Dat Aliis Laetitian Aliis Temperriem” (cho người này niềm vui, cho người khác sự mát dịu). Đó chính là bản chất của Đà Lạt, cũng là văn hóa, chiều sâu của TP này và của cao nguyên Langbian.

     Đà Lạt phải phát triển, lớn lên nhưng phải giữ được cái hồn vốn có của mình, dù rất khó. Vì vậy, các nhà quy hoạch kêu gọi phải trùng tu lại gần như toàn bộ trung tâm TP bằng những mảng xanh mà chính con người đã lấy mất của Đà Lạt. Những TP vệ tinh cũng vậy, từ Đơn Dương, Nam Ban, Đức Trọng, Suối Vàng, thiếu rừng là không phải Đà Lạt. Chiều sâu của Đà Lạt chính là rừng, là không gian của những cơn gió phóng túng, bất tận nhưng trầm lặng, huyền bí và hấp dẫn như đỉnh Langbian.

     Đà Lạt lớn lên, rộng hơn là quy luật của phát triển nhưng đừng biến thành một đô thị trên cao nguyên mà nên làm cho Đà Lạt mãi là cô gái mộng mơ, xinh đẹp. Đó cũng chính là thách thức của các nhà quy hoạch và quản lý Đà Lạt trong tương lai.

hoxh8.jpg - 73.68 Kb

Last Updated on Chủ Nhật, 07 Tháng Bảy 2013 10:14

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Đà Lạt Đã Chết Lâm Sàng _ (Alan Phan & Bạn đọc) (Tạp Ghi)