Nhớ Trường Xưa _ (Trần Thị Diệu Tâm) (Hồi Ký)

  • PDF

634077220139090140_200x133.jpg - 9.85 Kb

NHỚ TRƯỜNG XƯA
 
Còn một chút gì để nhớ… Đàlạt

     Sau khi đỗ Tú Tài ở Đồng Khánh Huế, tôi ghi tên học thử văn khoa Pháp, thấy coi bộ không xong, văn chương Pháp đâu phải dễ dầu gì. Một năm đi dạy vớ vẫn kiếm tiền, chẳng thể định hướng được tương lai mình, bà Dì của tôi lúc ấy từ Pháp về dạy ở Couvent des Oiseaux, bèn kêu lên Đà Lạt học Chính Trị Kinh Doanh khóa 2 . Nghe cái tên CTKD thật hấp dẫn ai chẳng mê. Tôi ôkê liền. Nhất là được học tại Đàlạt, thành phố thiên đàng .

     Để trang trải chi phí ăn ở tại ngôi trường qúy tộc ấy, tôi phải làm thêm những việc như giám thị các buổi étude của đám nữ sinh con nhà quan, con nhà giàu. Những cô học sinh, ái nữ của các vị tướng lãnh đạo VNCH, hay các vị tên tuổi của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam(sau này tôi mới biết) .Ngoài ra tôi cũng được quen biết với nhiều nhi nữ sau này là phu nhân của các chính khách nổi tiếng .

     Do đó, khi ghi tên vào học phân khoa CTKD, tôi thật sự ít khi được dịp đi học ghi bài vở cho đầy đủ, may nhờ có tổ chức quay và bán cua của nhóm mấy anh SIVIDA nên đở lo. Dù không dự giờ học, tôi có đầy đủ bài vở . Từ trường Oiseaux lên đến Viện khá xa, ngồi học mà phải nhìn đồng hồ để trở vể trường làm việc. Học xong, vội vã thuê xe lam ba bánh về ngay, mắt tôi không dám liếc ngang ngó dọc anh nào chị nào cả . Tôi ao ước giá chi gia đình mình đầy đủ tiền bạc, được học hành chăm chỉ đều đặn như các bạn khác .

     Thỉnh thoảng có các sinh hoạt của các nhóm sinh viên được quảng bá, tôi thèm chảy nước miếng. Tuy nhiên khóa 1 và khóa 2 thường gần gủi nhau, tôi chỉ biết tên họ qua những lần nghe kháo chuyện.

     Một lần, từ chợ Đàlạt đi lên Viện, qua đường Võ Tánh, trước trường Bùi Thị Xuân, bỗng có một chị chạy ra chào hỏi tôi thân tình. Tôi không biết chị, nhưng có lẻ chị biết và thấy tôi vài lần đi ngang nhà . « Này, mình muốn nhờ bạn một việc. »

     Tôi ngạc nhiên, chị giới thiệu chị trong nhóm Thanh Niên Thiện Chí, và cho biết : chị đang lo tổ chức văn nghệ ở rạp hát Hòa Bình, có mục trình diễn thời trang ,chị nhờ tôi đóng một vai cô gái VN mặc áo dài. Tôi do dự vì bất ngờ, nhưng chị nói dễ lằm, chỉ việc mặt áo dài lên sân khấu cười chào khán giả xoay một vòng rồi xong đi vô. Tôi ừ à gật đầu.

     Hôm ấy, tôi lo qúa. Phải có áo dài thật là nổi mới đẹp, chị căn dặn thế . Mình chỉ toàn áo dài màu nhạt (làm việc ở trường các Bà Mẹ, đâu dám ăn mặc sặc sỡ), vậy là lo đi mượn áo. May có bạn cho mượn đỡ tấm áo màu mận chín bằng tơ lụa óng ả. Làm tóc phồng lên như tổ ong bò vẽ. Ra sân khấu, thấy phía dưới lố nhố đầy người, ớn lạnh. Tôi xoay một vòng không kịp cúi đầu chào ai cả, quên mĩm cười duyên như lời chỉ dẫn, đi vô liền . Núp trong cánh gà nghe tiếng vỗ tay, một chị nói « Ê, bồ đi ra một lần nữa đi » . Tôi lắc đầu thôi kỳ lắm .

     Sau đó, một cô bạn khán giả phê bình « Tui thấy bạn xinh lắm nghe, nhưng sao mà gấp gáp qúa để cho người ta ngắm chứ ». Chẳng lẻ bạn mình lại chê mình xấu sao. Đó là một việc làm đóng góp có thiện chí của tôi . Chứ tôi chưa hề khi nào có dịp bộc lộ cái thiện chí tiềm tàng trong người. Tiếc thay !

     Tôi tiếc thời tuổi trẻ mình đã không thực hiện được những điều tốt đẹp như các bạn khác. Vì thế, qúa khứ, kỷ niệm tôi chỉ toàn là chuyện vớ vẫn, chẳng đâu vào đâu, không có chi đại sự. Tháng hè là tháng tôi thích thú nhất, lợi dụng nữ học xá Viện trống chỗ, bạn bè rủ tôi vàotrong đó ở chuyện trò cho vui. Có mấy chị học chờ thi khóa 2. Tôi ghi tên học thêm anh văn do một giáo sư Mỹ dạy trong tháng hè. Nhưng đi học bữa đực bữa cái. Mỗi lần đến lớp, ông Mỹ cứ bắt tôi tập đọc đầu tiên. Ông ấy nhớ tên tôi khá rõ, cho nên bữa nào vắng mặt cúp cua là ổng biết liền .

     Một hôm, thấy tờ thông cáo dán trên văn phòng Viện, có tên tôi trong danh sách gặp Cha Viện Trưởng. Sợ qúa, nghĩ bụng mình đâu có mượn tiền Cha hồi nào đâu . Vì có bạn đóan mượn tiền Cha lâu qúa kỳ hạn không chịu trả . Tôi chỉ nhớ có lần đi pinic dịp hè, tụi tôi vào xin Cha cho tiền thêm để nấu nồi chè ăn cho ấm bụng. Cha vui vẻ cho ngay . Tôi không hề mượn riêng bao giờ. Tuy biết Cha Viện Trưởng là người thân thiết với gia đình bên ngoại, nhưng tôi thường tránh né Cha, vì mang mặc cảm của một học trò lười biếng sợ gặp thầy giáo cô giáo.

     Đứng lấp ló sau cửa, Cha kêu vào trách cứ « Này con, Cha thuê giáo sư Mỹ dạy anh văn theo yêu cầu các con, vậy mà sao không chiụ đi học hành cho tử tế đều đặn ? » Tôi cúi đầu lí nhí nhận lỗi . Nhưng trong bụng tự biện hộ (không dám nói ra) : Buổi sớm trời còn hơi sương lạnh, nằm trong chăn ấm áp qúa, dậy sớm đi học không nổi. Vả lại, tối nào con Bích Đào cũng kể chuyện tiếu lâm cười chảy nước mắt nước mủi đến nửa đêm . Mà đâu phải chỉ mình nó, hết đứa này đến đứa khác thay phiên kể. Bích Đào là đứa kể tiếu lâm hay nhứt đám ( nghe nói đã tự tử chết sau chuyến vượt biên thất bại. Hình như gia đình này có huông tự tử . Cách đây mấy năm bà chị ruột là Bích H. ở Paris cũng đã tự vận. Trước khi tự vận, chị Bích H. than thở với tôi đủ chuyện, nhất là nỗi cô đơn, dù chị khá giàu nhà cao cửa rộng con cái thành đạt. Đối diện với cô đơn là một bất hạnh dẫn đến thảm kịch. Từ bất hạnh cô đơn đau khổ, dẫn đến sự phản kháng tận cùng bằng cái chết cho chính mình.)

     Sau khi bị Cha rầy la, tôi gắng dậy sớm đi học anh văn, một thời gian ngắn là tựu trường. Tôi phải trở lại Couvent des Oiseaux. Hết hưởng được không khí sinh viên vui nhộn, bắt đầu đi đứng nghiêm trang trong những hành làng luôn có đề bảng « Silence ».

     Bây giờ, tuổi đời xế bóng, tôi thích đi học hơn bao giờ hết. Cái gì cũng muốn biết muốn học hỏi thêm. Tôi cắp sách đi học anh văn hằng tuần. Học hăng hái, học hăng say. Cũng như ngày xưa với ông giáo sư Mỹ, cô giáo Anh nay cũng luôn miệng gọi tôi đọc trước tiên, có lẻ vì tôi là bà học sinh người Việt duy nhất trong lớp học.

     Vừa học vừa nhớ chuyện ngày xưa, lòng ăn năn nếu xưa mình chăm học như nay, thì Cha Viện Trưởng vui mừng biết bao nhiêu. Cha bỏ tiền thuê giáo sư Mỹ dạy mà con bỏ học hoài ! Sau mỗi năm học, tôi đều được lên lớp, không biết nhờ may mắn hay nhờ mình cố gắng học hành. Cái môn toán kinh tế hay toán kinh thương tôi đại dốt . Trong thời gian học năm thứ 3, ngành « Quản Trị Học », tôi đi lấy chồng bỏ ngang chuyện học hành. Khi thưa chuyện lấy chồng với bà Dì nữ tu, tưởng bà mừng cho tôi có nơi có chốn tử tế, ai ngờ bà thất vọng, vì nghĩ rằng thế nào tôi cũng theo chân bà vô Nhà Dòng này ! Trời ơi, tui làm sao mà tu cho nổi. Cũng vì nghĩ , con gái mười hai bến nước, thấy bến nào nước trong và mát mẻ thì ghé bến tấp thuyền cho xong . Chàng lúc bấy giờ nổi tiếng Đàlạt với môn dạy Toán, hào hoa phong nhã .

     Ông Thầy Chử Bá Anh giới thiệu trong thời gian tôi dạy ở Văn Học đường Hoàng Diệu. Thấy chàng ít nói nghiêm trang, tui chịu. Nhưng không biết chàng có chịu mình không . Cô bạn gái dặn dò , nè mi coi chừng nghe, coi chừng bị gài số de đó, nghe nói ông này đào hoa. Nghe vậy tui sợ qúa, mình chẳng hương sắc gì, bèn thưa với chàng phải xin bố mẹ dưới Sàigòn cưới hỏi đàng hoàng thì tui mới dám cho tiếp tục đón đưa. Lại thêm điều kiện vào thời gian học thi thì không được vào trường hỏi han chi cả. Tui sẽ không tiếp, dù chàng có đứng dưới gốc đào mỏi mắt đợi chờ .

     Thấy tính tui coi bộ cứng rắn (giả bộ thôi), chàng y lời trình thưa với gia đình. Vậy là lễ hỏi lễ cưới. Tui quên bẵng chuyện học hành. Đến khi nghe bạn bè nói thấy tên tui trên danh sách gặp ông khoa trưởng Trần Long, mới hoảng vía, mới nhớ tới chuyện mình bỏ học nửa chừng. Bị thầy Trần Long hỏi nguyên nhân nào mà bỏ học ngang như vậy. Tui thưa thật « Dạ, em bỏ học vì… lấy chồng ». Trước kia trốn học Anh văn vì tội ham nghe chuyện tiếu lâm, nay bỏ học vì ham lấy chồng. Hai cái tội danh này khó mà tha thứ được. Nhưng Thầy khoa trưởng nhẹ nhàng khuyên bảo, chị nên cố gắng tiếp tục cho xong .

     Thế là tôi cố gắng học nốt cho xong theo lời Thầy dặn. Ôm con và dẫn theo một ôsin xuống Sàigòn vào năm cuối. Và cuối cùng, tui cũng có được mảnh bằng ra trường như ai.

     Qua Tây, trong lúc sắp xếp lại giấy tờ cũ, hai tờ giấy mà tôi qúy nhất, đó là chứng chỉ tốt nghiệp môn Qủan Trị Học có chữ ký của thầy khoa trưởng Trần Long . Tờ kia là giấy chứng nhận phép Bí Tích Rửa Tội có chữ ký của Cha Nguyễn Văn Lập . Hai tờ giấy màu vàng uá thời gian làm tôi thẫn thờ ngẩn ngơ. Bao thời gian qua đi . Chỉ là hai mảnh giấy, nhưng lại chứa đựng bao nhiêu kỷ niệm thân yêu đời mình. Hai tờ giấy này đã tạo nên con người tôi hôm nay có phải chăng ?

     Mặc dù sau khi học xong tôi không đi làm để thực hành môn QTH, nhưng cũng ít nhiều thực hiện cách quản trị một gia đình , giữ vững được mái chèo gia đình trong sóng gió sau 75. Tôi cho rằng đó là lợi ích thiết thực nhất. Còn giấy chứng nhận Rửa Tội của cha Viện Trưởng thì sao ? Giấy này thực sự là món qùa vô giá đối với tôi hiện giờ, một món qùa thuộc về Tâm Linh . Sau bao nhiêu biến động, bây giờ tôi nghĩ rằng đời sống tâm linh thật là quan trọng hơn cả. Không có gì hạnh phúc tuyệt vời khi có nội tâm bình an và tự tại. Nhận biết mình bất toàn, nhỏ bé, xin chịu nhận mọi điều thua thiệt là biết an trú ở hiện tại này.

     Giọng nói Quảng Trị hiền từ của Cha Viện Trưởng như còn văng vẳng đâu đây. Nhận dịp về VN thăm gia đình vào tháng 12/2011, tôi đi thăm mộ Cụ Ngoại ở nghĩa trang Bình Triệu, sau đó đem hoa huệ và nhang đến thắp trên mộ của Đức Ông Simon Nguyễn Văn Lập. Vừa khấn vừa xin Cha tha mọi tội lỗi, trong đó có cái tội trốn học, bỏ học. Trong mấy chục ngàn đứa học trò sinh viên, không biết Cha còn nhớ con không ? Con ở xa về đây, khấn nguyện xin Cha cho được ơn lành. Bên Pháp, hội Thụ Nhân đang làm lễ trang trọng vào ngày Giỗ Cha, có diễn văn diễn từ ca ngợi công đức của Cha. Có đàn ca hát xướng nhã nhạc vang lừng. Nơi này, chỉ có một mình Cha với con thôi. Trước sự ra đi về miền miên viễn, trước cái chết, mọi chuyện đời chẳng còn có nghĩa gì cả. Thôi hết thù hết hận, thôi hết tranh chấp nhau. Thôi hết danh hết lợi, hết tất cả… chỉ còn lại là một tiếng Than ôi !

     Gió chiều thổi qua những hàng mộ chí, nén nhang trước mộ Cha gió tạt qua một bên. Bao giờ gió nghĩa trang cũng lạnh.

     Tôi nhớ thầy Vương Văn Bắc, mất cách đây vào ngày 20 tháng 6/2011 vừa qua, tôi sẽ đến thăm Thầy khi trở về Pháp, để tạ tội với thầy, để thưa với Thầy điều mà tôi muốn nói, nhưng chưa nói được. Nhưng giờ đây không còn gì ngăn cách giữa người sống và kẻ chết, Thầy cũng hiểu hết mọi điều. Tôi luôn nhớ câu Thầy hỏi « Sao dạo này cô dt có chuyện gì không, mà it khi gặp cô ». Còn lại Cô H. sống một mình, nhưng luôn có học trò Trưng Vương đầy tình nghĩa thăm viếng.

     Sau đó, tôi lên đi Nha Trang và lên Đàlạt theo tour du lịch. Đến thăm vườn hoa Thành Phố, thật chẳng có gì đáng xem đáng trầm trồ. Toàn là hoa mồng gà đỏ hoa vạn thọ hoa cúc, một hành lang hoa phong lan, nhưng không mấy rực rỡ. Chỉ có lan Vanda là qúy, vì bên Tây hoa này khó trồng. Tôi định bụng thuê taxi ghé vô « Viện » gần bên, chỉ cách một ngọn đồi, nhưng lại thôi. Cảnh cũ người mới, không còn gì không còn chi thích thú nữa. Từ hôm lên Đàlạt, đêm thao thức ngày ngơ ngẩn, sống mà hồn đâu đâu, như kẻ mộng du . Lạc hồn lạc vía. Tôi không dám ghé vào ngôi trường ấy. Hãy để nó hiện y nguyên như ngày xưa, như trong tưởng nhớ của mình. Nó sẽ đẹp vô vàn trong ký ức. Ôi Đàlạt thân yêu của mình.

     Qua hôm sau, tôi bỏ đòan du lịch, thuê taxi đi về ngôi nhà cũ phía sau trường Yersin. Thật xúc động làm sao, ngôi nhà vẫn màu sơn ấy, vẫn còn garage để xe, nhưng chiếc xe hơi màu xanh không có. Tôi nghe chừng như có tiếng nô đùa của các con tôi chạy nhảy trong sân, rồi chợt tỉnh khi thấy mấy con bê con đang gặm cỏ non trong vườn thỉnh thoảng é ọ. Nếu không… thì giờ đây gia đình chúng tôi ở nơi này êm đềm biết bao, vợ chồng con cái cùng nhau vui vầy. Nhà tôi lúc ấy mua đất đai dự tính xây trường học, mảnh đất ở trên đồi gần hotel « Sans Souci » trước kia, nhìn xuống Hồ Xuân Hương, nay đã thấy một dinh thự mới xây cất. Tài sản tương lai sự nghiệp đã bỏ lại nơi này tất cả. Sau đó là số không.

     Tôi nhờ anh tài xế chạy về phía trường Couvent des Oiseaux. Tôi từ từ đi vào cỗng trường, trường bây giờ trở thành trường nội trú cho các học sinh « Dân Tộc ». Trước kia dành cho các nữ sinh xinh đẹp của giới qúy tộc , nay dành cho giới người Thượng, người Rừng, người Rú. Trường vắng tanh, không bóng người. Nhìn về dãy phòng tôi ở trước kia tầng thứ hai, Nó vẫn còn. Cây đào phía trước cửa sổ vẫn còn. Chiếc xe hơi màu xanh mà chàng thường vào đón tôi ngày chủ nhật không có nữa. Nó chạy đi đâu mất rồi .

     Tất cả những kỷ niệm đốt cháy tâm can tôi. Qúa khứ cũng cháy luôn hết, bị huỷ diệt hết, thì còn lại gì đây ? Phải chăng còn nỗi đau trên đống tro tàn tang thương ! Tôi vội vàng trở ra xe, không dám vào bên trong trường xưa. Tim tôi đập liên hồi như cảm ứng với nỗi u hoài «cảnh đấy người đây luống đoạn trường».

     Đà Lạt đông phố xá, đông nhà cửa hơn xưa, nhưng với tôi trống không đến lạ lùng. Miền đất này chôn cất biết bao điều của đờì sống tôi, từ thuở sinh viên đến khi lấy chồng tạo dựng mái ấm gia đình, mãi cho tới ngày di tản về Sàigòn .

     Các bạn biết không, đến mãi bây giờ trong nhiều đêm, trong giấc ngủ tôi mơ thấy mình thuê xe Lam ba bánh lên Viện học cho xong năm cuối. Thấy mình luôn đến lớp trễ, chạy nhanh vào giãng đường Spellman cho kịp, nhưng bên trong không bóng người, không còn một ai. Không có Thầy không có học trò, chỉ có mình tôi lạc lõng và sợ hãi, tự hỏi nơi này là nơi đâu? Cái cảm giác lạc lỏng cứ chập chờn làm tôi thảng thốt tỉnh giấc. Té ta mình không còn là cô sinh viên dạo nào, mình nay đã già, hơn nữa đời người rồi còn gì.

     Sao ta cứ vọng hoài về một nơi chốn cũ ?

     Bây giờ bên cạnh bàn viết, một chậu lan Cattleya đang nở hai chùm hoa màu vàng, tỏa hương nhẹ nhàng như thầm nhủ rằng « Dù sao, vẫn còn những giấc mơ cho mình được thương được nhớ một Đà Lạt trong tâm tưởng ».

TRẦN THỊ DIỆU TÂM
 (Paris tiết Lập Xuân 2012)

1a_ttdieutam.jpg - 34.08 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Nhớ Trường Xưa _ (Trần Thị Diệu Tâm) (Hồi Ký)