Ngày Tháng Cũ _ (Nguyễn Đức Trọng) (Hồi Ký)

  • PDF

phuongtimdalat4.jpg - 38.92 Kb

NGÀY THÁNG CŨ

     Tôi rời bỏ Đà-Lạt vào một ngày cuối tháng 3 năm 1975, với một ước vọng sẽ được trở về để thăm lại những con dốc dài, những đồi thông, hay ngồi thả hồn theo khói thuốc bên những ly cà-phê thơm ngát nơi nhà Thủy-Tạ, quán Mékong, hay cà phê Tùng...
 
     Nhưng phải chăng tất cả đều do duyên số, tôi đã từng về thăm nhà đôi lần nhưng vẩn chưa có dịp đặt chân trở lại thành phố thân yêu này. Những lần về thăm mẹ già, cụ đều bệnh nên tối ngày tôi chỉ quanh quẩn ở Sàigòn, hoặc những thành phố ven đô.

     Mặc dù sinh trưởng và lớn lên ở Sàigòn. Đà-Lạt vẫn là nơi cho tôi nhiều kỹ niệm nhất. Những ngày tuổi nhỏ, tôi thường lên nghỉ hè trên Đà-Lạt với gia đình ông bà của tôi. Và tôi đã sống qua những giây phút êm đềm của mấy tháng hè, trước khi về lại Sàigòn, và trường lớp. Cơn nóng gay gắt của Sàigòn càng làm tôi nhớ Đà-Lạt nhiều hơn nữa, nhớ cái lạnh nhẹ nhàng của buổi sáng sớm, nằm nướng trong màn. Những ổ bánh mì nóng ấp lên má, sao nó thơm thế không biết! Cứ mãi mơ tưởng với cây xanh, hồ trong, suối mát, tôi cứ như người thả hồn trên mây, và tự tìm kiếm chỗ đi chơi để tìm lại hình ảnh Đà-Lạt còn lưu luyến trong trí óc non nớt của mình.

     Và tôi thích đi lang thang và mơ mộng từ lúc nào không hay, đang từ một học sinh gương mẫu, tôi trốn học hầu như đều đều hàng tuần, một hoặc hai ngày. Tôi đi thấu Sàigòn, Chợ-Lớn, Gia-Định. Rồi khi có được chiếc xe đạp, tôi như cọp thêm cánh. Hồ tắm Thiên-Nga, suối Xuân-Trường, hàng nem Thủ-Đức, sầu riêng và chôm chôm ở Lái-Thiêu, tụi tôi đều đi chơi láng hết. Cầu Sơn, cầu Kinh, Rạch-Cát, Phú Xuân Nhà Bè, bọn chúng tôi cũng mò tới bơi cho thỏa thích. Trốn học và đi chơi kỷ lưỡng như vậy, nên chẳng trách lúc đi thi cái bằng tiểu học Pháp, tôi đạp vỏ chuối đánh vèo. Mặc dù khi thi thể dục tôi được điểm tối đa. Lúc này thì tôi mới sợ, vì thấy rõ ràng mình không có khả năng về Pháp văn, luận văn, v.v... Thế là tôi năn nỉ ông cụ tôi cho chuyển sang trường Việt, may quá, ông cụ chấp thuận ngay.

     Tôi học môn nào cũng tàm tạm được, chỉ trừ có môn luận văn- không bao giờ làm xong cái nhập đề cho bất cứ bài luận nào, trong lúc bạn bè thì viết cứ như máy. Mỗi lần phát bài, ông thầy Việt-văn lại hay kêu tên từng người, và lại đọc điểm mới chết chứ. Vì học chung với mấy chị trong lớp, tôi thật chỉ muốn độn thổ. Tôi vẫn cứ không hiểu sao các bạn tôi ý tưởng ở đâu nhiều thế, mà tôi thì nặng mãi không ra một chữ. Học hành tào lao như vậy, tôi không hiểu tại sao tôi cũng qua được hai cái cầu tú tài. Đúng là hú hồn, hú vía!

     Biết thân phận mình học chẳng ra làm sao, tôi đâu dám xin đi du học, và cũng chẳng dám ở lại Sàigòn mà thi đua với quí anh chị sinh viên tài giỏi tại thủ đô "Trường An" của VN. Tôi nhìn thấy mấy bà chị, ông anh học đến xanh người mỗi khi đến kỳ thi là tôi hải hùng. Hơn nữa, tôi thích sự tự do, phóng khoáng, và lại muốn có dịp đi xa. Không biết có nên ra Huế để biết Sông Hương và núi Ngự, hay về xuôi về Tây Đô để làm quen với ruộng vườn miền Nam. Đang ngồi suy nghĩ đến những cô gái Huế với mái tóc dài, và chiếc nón bài thơ, thì tôi chợt nhớ lại Đà-Lạt có trường Chánh-Trị Kinh-Doanh. Tôi mừng quá chạy bay lên nhà sách Xuân-Thu móc tiền túi ra ghi tên liền. Nội nghe thấy cái tên không là cũng đủ khoái rồi, không cần biết là học được hay không!

     Lần này trở lại Đà-Lạt, tay thì xách, nách thì mang. Bà cụ tôi bắt tôi tha theo ngươì đủ thứ, và không quên gởi gắm cẩn thận tôi cho một gia đình người bạn ở ngay phố để đi học cho tiện. Bạn bè rủ tôi xin vào Đại-Học-Xá, nhưng cái tánh lang thang đi chơi tối của tôi thì có ai mà nhận cơ chứ. Rút cuộc tôi cũng phải xin phép gia đình người bạn ông bà cụ tôi, cho tôi dọn ra ngoài, với lý do là chuyển đến gần trường hơn. Thật sự mỗi khi đi tối về, tôi ngại vô cùng vì cứ phải gọi cửa, mà gia đình này lại hay ngủ sớm. Năm thứ nhất, tôi dọn nhà 4 lần. Năm thứ hai 5 lần. Năm thứ ba 4 lần, và năm cuối 3 lần. Vì cứ dọn nhà lung tung, tôi tập được thói quen sống giản dị, xếp đồ rất nhanh và gọn. Vào bất cứ lúc nào, tôi đều có thể sẵn sàng lên đường trong vòng 30 phút. Thời gian ở Đà-Lạt, tôi lại càng có dịp di chơi nhiều hơn nữa. Mỗi khi có bạn rủ về thăm nhà là tôi chạy theo liền.
 
     Nhiều bạn chắc cũng chẳng nhớ tôi, trừ khi cùng nhóm, hay có đi chơi chung với nhau, vì tôi ít khi đến trường. Tôi chẳng bao giờ để ý đến điều gì, thế mà đến lúc xa Đà-Lạt, những kỹ niệm lại dồn về trong ký ức. Mỗi khi gặp bạn, kể cho nhau nghe suốt đêm cũng không hết. Nào là quán cơm Thanh-Phương của anh Ba Duế là nơi tôi ghi tên ăn cơm tháng lúc dọn ra ở riêng. Ăn chưa đầy tháng, là tôi phải chuyển qua quán cơm xã hội, nơi Lữ Quán Thanh-Niên. Cũng cái tật mê cờ bạc, bao nhiêu tiền để dành trã tiền cơm tháng, tôi đều cúng vào mấy canh xập xám. Từ nhỏ đến lớn, tôi có biết ăn cơm xã hội ra sao, và bây giờ thì rành sáu câu. Trên khay thức ăn thì có một tô rau luộc, món mặn là 2 hay 3 con tôm hay vài lát thịt ba chỉ kho, món xào là vài miếng xu-hào hay cải bắp thái mỏng, được một điều là cơm muốn ăn bao nhiêu cũng được. Cơm thường là gạo xấu, đôi khi có mùi gián. Tuổi đang lớn, và đói thì cỡ nào tôi cũng phải lùa, đánh nhanh và đánh mạnh.

     Đến cái mục đánh bida nữa mới là khiếp. Tôi được người bạn chỉ cho biết cách cầm cơ, và tính điểm thế nào. Chỉ một tuần sau là tôi qua mặt anh ta, và bắt đầu phải chấp lại mỗi khi hai đứa so cơ. Mới đầu thì đánh cho vui, từ từ lại kéo qua màn ăn chè, uống sữa đậu nành, hay ăn sáng. Ôi đủ thứ độ! Tôi biết có nhiều vị đang dở đường banh, nên đành cho bồ leo cây. Lúc gặp lại, mặt mày mấy cô bí xị. Có lẽ mấy anh bạn này sẽ bị nhéo, và bị nhằn cho bằng thích vì cả gan "mê bida hơn mê em". Ai có thì tự khai, đừng để đàn em khai giùm !

     Cái tật của tôi là rất hảo ngọt, nên tối nào cũng lang thang các hàng chè, hay uống sữa đậu nành. Có những hôm đang học bài, nghe bà hàng chè bột khoai rao mà ngồi không yên. Thế là, dù đang từ lầu bốn, tôi cũng ráng chạy xuống ăn cho được một, hai chén. Riết rồi, mấy hàng chè đều nhẵn mặt tôi. Mỗi lần đến thành phố nào, tôi đều kiếm những hàng chè ngon mà ăn thử. Số tôi đi đâu cũng được thiên hạ nầu chè mà đãi, nhưng chưa bao giờ nắm được tay cô hàng chè, bạn ạ! Buồn 5 phút ! Cái lạnh của Đà-Lạt làm cho mọi người thèm thuồng một chút hơi ấm. Bánh mì nóng, chè, cà phê, croissant đôi lúc vẫn chưa đủ để hâm nóng cơ thể. Có lẽ vì thế mà mấy ông đều thích phì phà với những điếu thuốc lá. Nhớ ngày còn nhỏ, tôi lén nhón một điếu thuốc của ông cụ hút thữ, tôi bị sặt gần chết, từ đó sợ luôn. Thế mà chỉ sau một năm, tôi hút cũng thần sầu. Mỗi ngày đốt từ một đến hai gói. Qua đến ngoài này, tôi vẫn hút. Mãi cho đến khi tập thiền, tự nhiên một hôm thấy không cần thiết nữa, thế là tôi bỏ luôn. Có thể niềm vui do thiền mang lại cho tôi còn nhiều hơn là từ những hơi thuốc lá. Dám lắm chứ! Vì trong những lúc thiền định, con người mình thật sự thấy sảng khoái vô cùng, sức khõe gia tăng, và đầu óc minh mẫn hơn.

     Có nhiều lúc chán cảnh ồn ào của Sàigòn, tôi khăn gói lên Đà-Lạt sớm hơn thời gian nhập học, và như thế tôi lại có dịp lang thang nhiều hơn. Đôi khi hứng chí, tôi đi bộ thăm thác Datanla. Khi về thì nhảy lên xe đò. Có nhiều hôm đi xe xuống Tùng-Nghĩa chỉ để ra quán cốc uống ly cà phê, và nhìn mấy cô Thái trắng đi chợ, rồi về. Mà mấy cô Thái nước da trắng thật! Dù có dang nắng, cặp má của cô chỉ hồng lên mà thôi. Lắm lúc chỉ muốn đi theo làm quen mấy cô về buôn, nhưng cứ nghĩ đến những chuyện thư với ếm là tôi co vòi, dẹp hết các ý tưởng theo tán tỉnh mấy cô. Bạn có dịp thấy mấy cô thì bạn mới thông cảm cho tôi!

     Và nhờ có những thời gian rảnh rỗi trên Đà-Lạt, tôi mới có dịp đọc những sách về Đạo học, sách thuốc, và sách về dinh dưỡng. Tôi tìm cách tự chữa chứng đau bao tử, bệnh ngứa ngoài da của chính tôi. Cũng may Trời thương, nên tôi tính đúng và hết bệnh. Vì cái tật muốn giúp người nên đôi lúc tôi chỉ cho bạn bè và người chung quanh những cách chữa bệnh giản dị, rồi cái tên "lang băm" nó vận vào người tự lúc nào không hay. Tôi biết từ đầu bài đến giờ, các bạn đều thắc mắc sao không thấy bóng hồng nào xuất hiện. Như vài bạn có dịp gặp tôi, cả ba món : con nhà giàu, học giỏi, đẹp giai, tôi đều không có. Thế thì làm sao có cô nào thương cho nổi! Những chị cùng lớp, cùng trường, tôi chỉ dám đứng xa xa, nhìn và mơ ước mà thôi. Hôm về dự TN2000, nhắc lại chuyện cũ, mấy chị đấm và véo tôi quá cở. Bảo là tôi chỉ xạo và chọc mấy chị cho vui. Đúng là nói thật mà không ai chịu tin. Vì ngồi mơ có được một người mình yêu và người đó cũng yêu mình, tôi nghĩ ra một câu chuyện, định hôm nào viết đăng báo của phe ta, nếu thời giờ cho phép.

     Bây giờ cho các bạn đọc thữ một đoạn mua vui. Bạn nhớ cho, đây chỉ là tưởng tượng. Và nếu có giống chuyện của ai thì đấy chỉ là sự tình cờ, rất tình cờ.

     "Lần này là lần thứ ba, Hoàng rảo bước theo sau cô bé có mái tóc mây. Hai lần trước chàng đã bỏ cuộc khi thấy cô và người bạn như không muốn dứt chuyện, mặc dù đã qua khỏi cầu Duy-Tân, nơi nhà máy đèn Đà-Lạt. Một đoạn đường khá xa cho chuyến trở về. Cô nàng vừa đi vừa lắc lư đầu, như đang nghĩ đến một chuyện vui nào đó. Với bản tính nhút nhát sẵn có, Hoàng chỉ muốn đi theo sau cho vui, và nhìn một hình bóng đẹp tung tăng đằng trước. Làm sao mà Hoàng dám nghĩ đến chuyện sóng bước bên nàng.
 
     Đã có lần Hoàng cố gắng hết sức mình, làm gan mon men vào câu lạc bộ ngồi uống cà phê một mình, bên cạnh bàn của nàng đang họp nhóm. Nhưng nào dám ngôì đối diện, và qua khói thuốc Hoàng chỉ dám nhìn nghiêng khuôn mặt đầy đặn và duyên dáng của nàng. Nhìn mắt nàng đen, to, với cặp lông mi dài, Hoàng chỉ muốn tan biến vào biển mắt đó. Đưa điếu thuốc lên môi rít một hơi dài, và mỉm cười khi nhớ lại hình ảnh nơi câu lạc bộ. Nàng đã dừng lại tự lúc nào không hay, và đang ngó chăm chăm Hoàng. Lỡ trớn, và chỉ cách nàng độ 5 thước, không lẽ quay trở lại. Hoàng chỉ còn cách bấm gan đi tới như một khách nhàn du. Nhưng nàng có tha đâu dể dàng như vậy :
     - Ông Hoàng đừng có đi theo tôi nữa!

     Chỉ suýt nữa là Hoàng khụy xuống. Tại sao nàng lại biết tên mình, vì nhiều bạn cùng lớp còn chưa biết. Nhìn sửng mắt nàng, Hoàng lắp bắp :
     - Sao cô biết tôi theo cô ?

     - Đã mấy ngày nay, ông cứ đi theo tôi hoài! Ông về đi và đừng theo tôi nưã làm gì.

     Bị đuổi một cách lạnh lùng, Hoàng làm mặt lì :
     - Cô biết tên tôi, mà tôi chưa hân hạnh biết tên cô. Bây giờ cô cho tôi biết tên của cô xong là tôi về liền.

     Nàng nguýt Hoàng một cái thật dài và bỏ đi, chẳng thèm nói một tiếng. Hoàng đứng chết trân tại chổ, theo cũng không xong, mà quay về thì quê quá! Trong lúc đó, vì thấy hai ngươì đứng đối đáp có vẻ gay go, mấy cậu bé hàng xóm đứng xúm lại xem..."

     Hẹn các bạn dịp khác, và đố bạn kết cục chuyện hai người ra sao. Bạn có ý kiến, muốn đóng góp thêm vào cho chuyện trở thành lâm li, bi đát thì nhớ gởi về cho tôi.

     Mỗi khi có dịp ghé qua thành phố nào, tôi đều cố gắng thả bộ, và gần như lúc nào trong đầu cũng đem thành phố Đà-Lạt ra so sánh - những đồi thông, những suối và thác nước, v.v. Hình ảnh Đà-Lạt lúc nào cũng dính chặt trong tâm trí tôi. Thành phố Portland, Oregon nơi tôi đang ở có rất nhiều nét tương tự như Đà-Lạt - với một mô hình to lớn hơn. Ngày ấy trên đường ghé thăm ông anh, tôi ngồi xe đò từ San Francisco, California. Khi xe leo dốc vào thành phố một buổi sáng đầu muà thu, tôi như sửng sờ với cảnh sắc trước mặt. Bên trái là đồi với rừng phong, lá cây đã đổi màu: vàng, đỏ, nâu, tím, cộng với màu xanh khiến như nhìn một bức họa muôn màu của hóa công. Tôi phải đứng hẳn người lên ngó cho đã. Bên mặt thì thấp thoáng trong hơi sương, giòng sông Willamette chảy uốn khúc, với không biết bao nhiều là cầu vắt ngang. Hình ảnh đẹp quá, và tôi thầm nhủ là nếu có dịp sống trên đất Mỹ, tôi sẽ đến cư ngụ nơi đây. Tôi đến rồi đi đã bao lần, nhưng rồi cuối cùng tôi vẩn quay về, như con tàu tìm về bến cũ.

     Tôi đã lang thang nhiều nơi trên thế giới, đi cho biết đó biết đây, nhưng trong tận cùng thâm tâm, tôi biết là tôi không bao giờ vừa ý với những nơi mình đã sống, vừa đến, hay sẽ tới. Vì làm sao tôi quên cho được quê hương thân yêu, cũng như một hình ảnh Đà-Lạt đậm nét trong tôi, và hình bóng năm xưa! Tôi chỉ muốn sống lại một ngày nơi thành phố ấy, với những bạn hữu của tôi. Đà-Lạt ơi ..., Đà-Lạt ơi...!

NGUYỄN ĐỨC TRỌNG
(Đại Học Đà Lạt
ChínhTrị Kinh Doanh Khóa 8)

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Ngày Tháng Cũ _ (Nguyễn Đức Trọng) (Hồi Ký)