Cánh Hoa Thời Loạn _ (Đỗ Thị Hồng / Trang Vi) (Hồi Ký)

  • PDF

2.dalat9.jpg - 115.72 Kb

CÁNH HOA THỜI LOẠN

(Kỷ niệm 40 năm ngày gặp lại bạn cũ)

     Mai là tên của một loài hoa và cũng là tên của cô bạn thân của tôi từ lúc còn thơ ấu, hai đứa chúng tôi ở cùng chung một xóm. Từ năm học đệ lục thì chúng tôi thân nhau nhiều hơn vì học cùng trường và chung một lớp.

    Mỗi sáng chị tôi và tôi, rời nhà khoảng 6:45 sáng. Hai chị em đi lên con dốc trước mặt nhà, xong đi bộ thêm một quãng nữa thì đến nhà của Mai, rồi ba đứa chúng tôi cùng nhau đi bộ tới trường.

     Chúng tôi đổ dốc Cô Giang, sau đó đổ thêm dốc ngang nhà ga Dalat. Mỗi khi đi tới con dốc này, cứ đúng 7:15 sáng, thì tiếng còi xe lửa hụ lên. Chúng tôi định với nhau mỗi lần còi tàu hụ thì chúng tôi phải đi bộ qua 3 cột điện, nên ba đứa dùng hết sức lực của đôi “lô ca chân” vượt qua khoảng cách của 3 cột điện khi còi tàu chấm dứt. Sau đó đi ngang qua Hồ Xuân Hương, lên dốc sau cây xăng Shell, đi ngang qua đài Phát Thanh Dalat rồi đến trường. Trưa lại đi bộ về nhà và leo dốc.

     Trong những lúc đi bộ như thế, chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Chuyện trên trời, dưới biển, nhiều lúc hết chuyện để nói thì chúng tôi hát, cứ mỗi đứa hát một câu của bài hát và như thế chúng tôi như hình với bóng; đi học cùng trường, đi cùng đường từ lớp đệ Lục cho đến lớp 12. Học được nửa năm của lớp 12 thì Mai đi lấy chồng.

     Chị tôi và tôi vẫn tiếp tục đi học sau khi Mai theo chồng về Saigon. Chồng của Mai là sinh viên sĩ quan của trường Võ Bị Dalat. Sau khi ra trường, anh vào binh chủng Biệt Động Quân. Một năm sau Mai có đứa con gái đầu lòng, mang con về Dalat thăm bố mẹ nên tôi có dịp sang thăm bạn.

     Rồi khoảng một năm sau, tôi nghe hung tin của bạn, trong lúc Mai mang thai đứa con thứ nhì thì tin từ chiến trường cho biết chồng của Mai đã tử thương trong trận giao tranh với CS và không tìm được xác. Cả một bầu trời sụp đổ, Mai vấn khăn tang trên đầu lúc chưa đầy 20
tuổi.

     Khoảng năm 1974 thì chồng của Mai trở về từ cõi chết. Thì ra anh bị quân CS bắt làm tù binh mà không ai biết. Họ giam cầm và di chuyển anh trong rừng, đi từ chỗ này sang chỗ khác để đưa ra Bắc. Lúc gần đến Quảng Ngãi, anh biết được gần khu vực có dân cư ở, thế là anh liều mạng trốn thoát, về lại Saigon gặp lại gia đình. Vợ chồng con cái vui mừng trong sum họp. Mai như cây khô héo sống lại; còn nỗi vui mừng nào hơn, nên bàn thờ của anh được dẹp xuống.

     Đất nước vẫn còn chinh chiến. 1975 chiến trường trở nên khốc liệt hơn. Anh trở lại đơn vị tác chiến cùng đồng đội. Vào tháng ba năm 1975, trong một trận giao tranh ở miền Trung thì anh bị tử thương. Lại một lần nữa Mai mang khăn tang trắng cho chồng. Thật tội nghiệp, còn gì đau khổ hơn, bơ vơ với hai con nhỏ và đang cưu mang cháu thứ ba lúc chưa đầy 23 tuổi.

     Sau cơn biến động ấy, mỗi người một ngả. Hai chúng tôi mất liên lạc nhau. Tôi cứ tưởng Mai lo cho con bên nhà chồng ở Saigon. Còn tôi theo gia đình chạy loạn... Nhưng quả đất thật nhỏ hẹp, chúng tôi lại tình cờ gặp lại nhau trên đất khách quê người, sau hơn 40 năm xa cách. Chúng tôi nước mắt chan hòa khi gặp nhau. Còn nỗi vui mừng nào hơn của tình bạn, của cảnh ray rứt khôn cùng khi xa nhau, nỗi vui mừng cùng sự đau khổ không kể sao cho siết.

     Nhắc lại chuyện xưa Mai kể rằng: “Mai sống với mẹ chồng, cuộc đời làm dâu thực cực khổ.” Mai lấy chồng từ lúc trẻ, lại có con cái sớm nên không đi làm chỉ ở nhà nuôi con. Bà mẹ chồng góa bụa, phải nuôi con dâu, nuôi cháu, nên cuộc sống tinh thần của Mai thật khổ sở. Chồng thì đi đánh trận liên miên, không có người bên cạnh để nương tựa, an ủi.

     Mai nói tiếp:
     -“Trong cuộc sống vợ chồng của hai người, tính ra số ngày mà hai vợ chồng con cái sum họp với nhau 24 tiếng đồng hồ trọn vẹn thì chỉ khoảng 31 ngày.”

     Trời ơi! Thương cho bạn tôi quá. Mai nói: “Lúc anh mất, anh được mai táng ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, nhưng cũng không được an nghỉ. Sau năm 1975, khi CS vào Sàigòn thì họ cho phá bỏ, san bằng nghĩa trang đểdùng nghĩa trang này làm công viên, nên hài cốt của anh lại phải dời đi.” Thật đau khổ. Cuộc sống thật chật vật, một bên làm vừa lòng với mẹ chồng khắc nghiệt, một bên lo cho con còn nhỏ dại không cha, một bên thương nhớ chồng nên Mai nguyện với lòng sẽ ở vậy nuôi con như thân cò lặn lội ở bờ sông.

     Năm 1980 gia đình của Mai nhờ anh em lo được cho con của Mai đi vượt biên, định cư ở Mỹ và sau đó Mai được bảo lãnh qua sau để đoàn tụ cùng các con.

     Ngồi ôn lại chuyện cũ, tôi miên man cùng Mai như trải qua một giấc mơ. Tôi phục Mai, đúng là cánh hoa Mai trong thời loạn. Góa phụ khi tuổi còn xuân; làm tròn bổn phận nàng dâu, thiên chức tròn bổn phận làm mẹ và vừa làm cha, để nuôi nấng, dạy dỗ 3 đứa con thơ thành nhân cho đến ngày nay. Hai đứa chúng tôi vui cười trong nước mắt vì nay Mai
đã trở thành bà nội, ngoại cùng vui với con cháu...

     Tôi xin mượn những câu thơ của Hồ Dzếnh:


     "Cô gái Việt Nam ơi
     Nếu chữ “hy sinh” có ở đời
     Tôi muốn nạm vàng muôn cực khổ
     Cho lòng cô gái Việt Nam tươi"

 

để tặng Mai, người bạn từ thưở ấu thơ của tôi, cũng như các góa phụ và những đứa con mất cha thời chinh chiến. Xin thắp nén nhang cầu nguyện đến các anh linh của VNCH đã hy sinh xương máu cho dân tộc Việt Nam.

ĐỖ THỊ HỒNG / TRANG VI

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Cánh Hoa Thời Loạn _ (Đỗ Thị Hồng / Trang Vi) (Hồi Ký)