Giã Từ Dalat _ (Đỗ Thị Hồng) (Hồi Ký)

  • PDF

2.dalat7.jpg - 228.74 Kb

GIÃ TỪ DALAT

     Tháng Ba ngày 23 1975 là một ngày bao năm tôi vẫn nhớ, vì ngày đó là
ngày tôi rời Dalat, nơi tôi được sinh ra và lớn lên trong hạnh phúc và
tình thương yêu của cha mẹ và anh chị em.

     Mùa Xuân Năm 1975, tôi vừa chập chững làm cô giáo mới, ra trường
khoảng 4 tháng trước đó nhưng vì không muốn nhận nhiệm số ở những
nơi xa hơn Dalat như Bảo Lộc, Tùng Nghĩa nên tôi và một số bạn ráng
chờ, rồi cũng được bổ nhiệm dạy ở trường tiểu học Sào Nam cũng
không xa thành phố Dalat lắm, trường nằm giữa đường đi từ Dalat
xuống Trại mát, trường được xây cất ở giữa thung lũng của Ấp Sào
Nam. Từ trên đường cái muốn tới trường phải đi xuống một còn dốc dài.
Cái duyên mặc dầu ngắn ngủi chỉ khoảng ba tháng làm cô giáo cũng còn
trong tôi những kỷ niệm đẹp.

     Vào dịp Tết năm đó, tôi được “Chú Sĩ” lì xì. Thực ra chú đã lên chức vị
thầy rồi, chú tu ở chùa Linh Sơn, vì cùng học chung lớp với cô em, nên
chúng tôi quen gọi là chú. Tết năm đó tụi tôi đòi chú lì xì bằng cách xem
chỉ tay, đến lượt tôi, chú nói:
- “À, bàn tay này có số đi xa, cuộc đời sẽ thay đỗi nhiều lắm, lắm...”

    Tôi nghĩ chắc mình sẽ xa nhà vì đi dạy học xa và thay đổi thì chắc rủng
rỉnh có tí tiền còm làm cô giáo. Tưởng như cuộc sống sẽ bình lặng như
thành phố tôi đang ở, nhưng sau Tết tất cả đều thay đổi, những cơn biến
động dồn dập xảy ra như tin Ban Mê Thuột đã đi tản làm cho tôi cũng
như bao nhiều người chung quanh hoang mang lo sợ.

     Một hôm khi đi dạy về, tôi thấy hàng xóm lao xao, người chạy ngược
chạy xuôi để tìm đường di tản. Mở radio nghe thì nghe ông thị trưởng
tuyên bố Dalat di tản, nhìn quanh đầu đầu cũng thấy người ta hốt hoảng
mang theo đồ đạc để rời Dalat đi về Saigon, Phan Rang hay Nha Trang,
gia đình tôi không đi đâu hết nhưng khi nhìn thấy hàng xóm bỏ đi gần
hết tôi cũng thấy sốt ruột, lúc bấy giờ mẹ tôi, hai bà chị và anh lớn đang
ở Saigon, người em trai đang bị thương nằm ở bệnh viện Cộng Hòa ở
Saigon, còn lại Ba tôi, tôi và bốn người em nữa đang ở Dalat. Thằng em
trai đang học lớp 12, vì lo sợ cho nó nên có người hàng xóm về Phan
Rang và có con là bạn học với em trai tôi, nên họ cho nó đi cùng. Nhà
chỉ còn lại ba tôi và mấy chị em gái. Thằng em trai đi rồi tôi cũng bớt lo
lắng, nhưng gia đình bỗng nhiên phân chia, ly tán.

     Mẹ tôi ở Saigon nghe tin tức bảo Dalat chạy loạn cũng nóng ruột không
biết gia đình ở Dalat như thế nào nên bảo ông anh về Dalat xem. Biết
được em trai đã đi về Phan Rang ông lại phải lặn lội xuống Phan Rang đi
kiếm, vậy mà may sao cũng kiếm được. Ba tôi và ông anh quyết định
cho em trai và hai người em gái nhỏ đi theo anh về Saigon. Ba và hai
người con gái ở lại. Ông định: nếu có chuyện gì thì ba cha con lo liệu.

     Thấy hai đứa tôi xếp những bộ đồ đẹp nhất nhét vào vali, anh bảo tụi tôi:
- “Bây giờ xách vali thử xem đi được mấy bước?”

     Và ảnh chỉ dẫn, dặn dò cách mưu sinh thoát hiểm trong trường hợp phải
đi trong rừng, dù sao ảnh cũng đã từng đi lính Lực Lượng Đặc Biệt.

Tháng Ba.

     Dalat lúc này càng hoang vắng hơn, nhất là những buổi chiều, không khí
cô tịch bao trùm một sự yên lặng nhưng có cái gì bất trắc ẩn hiện trong
đó. Hai chị em ra chùa Trúc Lâm cầu nguyện.

Dalat 20 tháng Ba.

     Chiều tối nay có anh bạn Hướng Đạo của em gái tôi ghé ngang nhà, thấy
hai chúng tôi, anh hỏi:
- “Sao còn ở đây?”
 
     Tụi tôi nói:
- “Tụi em tử thủ Dalat mà.”

     Anh nói:
- “Tử thủ cái con khỉ. Nha Địa Dư, Kho bạc tối nay người ta đã bỏ rồi
đó. Nếu không đi được bằng đường hàng không, thì chuẩn bị cơm nắm
muối mè, giày bata quần jeans, mang theo bột ngọt để làm thuốc cầm
máu, chuẩn bị đi bộ 3 ngày thì đến Phan Rang và đi càng sớm càng tốt.”

     Thật sự lúc đó tôi sợ và hoảng hốt lắm, sau khi anh ra về rồi, tụi tôi nói
cho Ba nghe và nói với Ba là mình phải rời Dalat, Ba đồng ý.

Dalat 21 tháng Ba, 1975

     Sáng nay Ba nói:
- “Hai đứa còn đi thôi Ba không đi đâu.”

     Hai đứa tôi gắng thuyết phục nhưng ba tôi nói:
- “Ba ở đây, để nhỡ có tin tức ở trường học thì ba sẽ liên lạc với các con,
khi nào bình yên thì nơi đây là căn nhà để các con trở lại, hơn nữa còn
hai con chó nữa.”

     Nghe cũng bùi tai nên chúng tôi đồng ý. Bây giờ nghĩ lại chắc ba tôi đã
mất ngủ cả đêm cho cái quyết định đi hay ở lại đó. Năm 1945 ba mẹ tôi
cũng đã rời Dalat chạy loạn về Phan Rang, ông phải lẫn trốn quân đội
Nhật, hai ông bà thất lạc nhau, mẹ tôi đang mang bầu chị lớn trốn ở gầm
cầu, may thay tụi Nhật cho mẹ tôi vào nhà thương sinh, sau đó bà được
vị sư già ở vùng núi Cà Đú cho tạm trú, vài tháng sau đó thì ba mẹ tôi
tìm gặp lại nhau.

Ngày 22 tháng Ba 1975

     Em gái tôi có quen một chị bạn làm ở Air Việt Nam nên mua được hai
vé máy bay ngay không phải chờ đợi hay mua vé chợ đen. Những thứ gì
mang đi và những thứ gì để lại, ôi sao cái gì cũng muốn mang theo cả.

     Nhớ lời của ông anh dặn, tôi chỉ mang theo một ít quần áo, photo
album,nhật ký và hộp giấy tờ ba má tôi cất trong góc nhà, gồm tất cả
những giấy tờ quan trọng như giấy khai sinh của tất cả anh chị em, và tôi
cũng mang theo những học bạ của những năm còn học ở trung học mà
hiện nay tôi cũng vẫn còn giữ.

Ngày 23 tháng Ba 1975

    Buổi sáng, Ba tôi xách vali cho hai chị em tiễn hai đứa về Saigon. Trong
đầu tôi chỉ nghĩ rằng mình đi một thời gian thôi, và hẹn sẽ gặp lại Ba
sau, ba cha con chia tay nhau và có biết đâu rằng đó cũng là lần cuối....
Ra đến nhà ga Dalat, tôi không ngờ là người đông như thế, không phải
người Dalat mà những người ở Bảo Lộc, Lâm Đồng đi di tản, người
Dalat đã đi hết rồi. Hai đứa tôi không thể chen lấn như họ được, đứng đó
chỉ nhìn những xe bus rời bến. Thấy hai chúng tôi còn lóng ngóng đứng
đó, chị bạn Air Việt Nam bảo tài xế ngừng xe bus lại, ông tài xế quẳng
hai cái vali của chúng tôi lên mui xe, hối hai đứa tôi ra ngồi trên đống
hành lý phía sau xe, vì xe đă chật cứng người rồi. Xe rời nhà ga Dalat đi
qua Hồ Xuân Hương rồi trực chỉ về Phi trường Liên Khương.

     Trong xe bỗng nghe tiếng khóc than của bà cụ già người miền Bắc, vừa
khóc bà vừa kể lể, rằng cháu của bà còn đang ở sân ga, ai cũng động
lòng thương hại. Ông tài xế nói:
-“Để tôi quành xe lại để bà ở lại kiếm cháu bà.”

     Nhưng bà không chịu, mới vỡ lẽ rằng cháu của bà còn đang ở sân ga với
mẹ của nó, vì không lên cùng một xe được. Bà mắng mẻ cô con dâu đã
không nhanh chân lên xe được cùng: “Thà chết một đống chứ không
sống một mình.” Tuy nói thế, bà không chịu trở về sân ga, làm trên xe ai
cũng bật cười.

     Đến phi trường Liên Khương, tôi lo hành lý, nhỏ em vào ghi thủ tục, rồi
chúng tôi cũng được xếp theo thứ tự lên máy bay về Saigon. Từ trên
máy bay nhìn xuống thấy cảnh đẹp và hiền hòa quá, máy bay xa dần
mang chúng tôi về Saigon, và đó cũng là lần cuối tôi nhìn thấy Dalat.

     Trứơc khi rời Dalat, hai chị em đã ra chùa Trúc Lâm như thường lệ đứng
dưới pho tượng Phật Quan Âm cầu nguyện. Sau đó chúng tôi đi ra chợ
Dalat, nhìn thấy rau cải hoa trái chất đầy chợ, bán với giá thật rẻ, nhưng
chả có mấy người mua, nhìn thấy những bó hoa hồng nhung nằm lây lất
thật tội nghiệp hai đứa tôi mua hai tá để mang về Saigon.

     Trên máy bay có lẽ nhìn qua kính chiếu hậu từ phòng lái thấy trong đám
người chạy loạn có hai cô con gái mặt mày trông cũng sáng sủa lại ôm
hai bó hoa hồng, anh chàng Pilot phụ đi xuống làm quen, bảo:
-“Chưa thấy ai chạy loạn lại mang bông hồng bao giờ!”

     Anh cho biết vì nhu cầu nên anh và người Pilot chính đều là lính không
quân nhưng được bổ nhiệm sang Air VN để chở dân tị nạn về Saigon.
Sau khi hạ cánh chúng tôi có gặp người Pilot chính và ngỏ lời cám ơn đã
giúp chuyên chở những người di tản như chúng tôi.

     Phi trường Tân Sơn Nhất thật là xô bồ, nóng bức khác hẳn với xứ Dalat
hiền hoà mát mẻ và êm ả của tôi. Gặp một số người rời Dalat trứơc, họ
đến nói chuyện với người mới tới như chúng tôi để biết thêm tin tức về
Dalat. Tại đây tôi có gặp lại vị thầy cũ, thầy dạy ở trường Chiến Tranh
Chính Trị và Sư phạm.

     Trong số người thăm hỏi tin tức đó có một anh chàng cũng đã ở Dalat
thấy hai chị em đang mặc cả taxi về Phú Nhuận, anh chàng có xe hơi
nên ngỏ ý cho hai chị em quá giang. Xứ lạ quê người tôi cũng sợ, còn
đang chần chờ, sẵn có thầy bên cạnh nên quay sang cầu cứu:
-“Thầy, thầy thấy sao thầy?”

     Nghĩ lại mình vô duyên quá, đặt thầy vào vị trí khó xử, may quá hai đứa
không bị người lạ bắt cóc, mà hôm sau còn được đi quá giang lên Bộ
Giáo Dục để trình diện nữa.

     Cơn bão lốc đã cuốn hút chúng tôi đi từ ngày đó, xa rời mái ấm, xa rời
Dalat thân yêu, Dalat của tuổi ấu thơ, của thời niên thiếu, biết bao kỷ
niệm chồng chất. Những lúc còn bé theo cha mẹ đi lễ chùa vào những
ngày 30, ngày rằm.

     Làm sao tôi quên được những đêm trăng rằm thật đẹp, những vì sao trên
trời chừng như sáng hơn và gần hơn. Những buổi sáng đi học trong
sương mù lạnh cóng. Những buổi chiều lộng gió lên đồi sau nhà thả
diều, xếp những miếng giấy nhỏ viết một vài câu ước nguyện để con
diều mang lên trời. Những lần đi câu cá, đèo nhau trên chiếc xe đạp hì
hục leo dốc rồi thoải mái để xe thả dốc. Những lần sau này lớn hơn một
chút, anh chị em trong nhà cùng bạn bè họp nhau đàn hát và lập ban
nhạc lấy tên “Sao Khuya” được ông giám đốc đài phát thanh Dalat cho
hát nửa tiếng mỗi tuần một lần…

     Kỷ niệm nhiều lắm, không làm sao kể hết được.

     Xa Dalat đã 38 năm. Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ,
những bước thăng trầm của cuộc sống vẫn không làm phai nhạt Dalat
trong ký ức của tôi và làm tôi trân quí hơn những tháng ngày hoa mộng
của thời thơ ấu.

ĐỖ THỊ HỒNG

Bạn đang theo dõi trang: Văn Hồi Ký Giã Từ Dalat _ (Đỗ Thị Hồng) (Hồi Ký)