Đà Lạt, Tết Mậu Thân _ (Vi Khuê) (Hồi ký)

IMG_7738.JPG - 31.79 Kb

ĐÀ LẠT, TẾT MẬU THÂN

     Sáng mồng ba Tết Mậu Thân năm 1968 tại Đà Lạt, chúng tôi kéo nhau vào ngồi ở quán Mékong, nhìn ra thiên hạ. Ngồi đây mà nhìn ra thì thấy hết. Bởi vì, trước mắt, trước mặt, là khu Hòa Bình, khu tập trung những cửa hàng lịch sự nhất của thành phố, bắt đầu là rạp xi-nê Hòa Bình. Khu Hòa Bình nằm giữa, cách một mặt đường bao quanh là hai dãy phố với những tiệm tên tuổi lâu năm như: nhà thuốc tây Hoàng Hy Tuần, tiệm chụp hình Nam Sơn, nhà may âu phục Paris Mode, tiệm tạp hóa Saigonnais, phòng mạch bác sĩ Phan Lạc Giản, tiệm Radio Việt Hoa, Vĩnh Hòa, Vĩnh Chấn, Vĩnh Xương của các chú, và Chic Shanghai, Nam Sơn, v.v...

     Khu Hòa Bình, cũng gọi là công trường Hòa Bình, nằm ngay trước chợ, cũng gọi là chợ Hòa Bình tức Chợ Mới, xây cất theo dự án của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ được triệu thỉnh bởi Ngô Tổng Thống từ nước ngoài về. Cũng như Viện Đại Học Đà Lạt đã được công nhận là viện đại học lớn và đẹp nhất Đông Nam Á vậy.

     Dài dòng như thế để mà giải thích tại sao chúng tôi lại chọn ngồi ở restaurant Mékong: ngồi đây mà nhìn ra thì thấy hết tất cả những ai đi bát phố vào sáng mồng ba Tết đẹp trời, như hôm nay. Tất cả những ai đi chợ mà có “chưng diện” đẹp, mà không phải chỉ để mua cá mua thịt xong rồi về, thì thế nào lại chả lượn một vòng quanh khu Hòa Bình để ngắm cảnh ngắm người, và để... người ngắm ta! Còn du khách thì thôi khỏi nói, du lịch Đà Lạt là trước tiên phải đi chợ Hòa Bình, và tối thiểu cũng rảo một vòng quanh đây... Nghĩa là thiên hạ sẽ từ từ nối đuôi nhau, diễn hành trước mắt chúng tôi qua lớp cửa kính  chẳng bị vẩn đục một lớp sương mù nào của ngày đẹp trời hôm nay.

     Thật ra thì tôi chẳng lạ lùng gì với sinh hoạt của thành phố thu gọn nơi khu Hòa Bình nhìn thấy từ cái quán thanh lịch này mà phải ra ngồi ở đây. Chỉ vì tôi có thằng bạn thân mới cưới vợ, và nó đã chọn dịp nghỉ Tết làm tuần trăng mật của vợ chồng nó, nơi cái khách sạn hạng sang trước kia mang tên là Moderne mà sau này đã phải đổi thành Mộng Đẹp một cách ép uổng. Bạn tôi, tên nó là thằng Kiệt. Nó cũng thuộc loại beau trai, dong dỏng cao, thân hình hơi đẫy, mặt trái xoan, và cặp mắt ướt, hay nheo nheo. Bạn tôi, khi đứng lại thì hai tay buông thõng như thừa thãi không biết để vào đâu, hai bàn tay mũm mĩm, thật mềm mại, và đầu tóc cắt kiểu mới, dài sau gáy, hai bên úp úp lấy khuôn mặt nước da trắng trẻo, trông giống đàn bà. Tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy vợ nó lại giống nó như tạc, cũng trắng trẻo, mặt trái xoan, cặp mắt ướt đen như nhung, và hai bàn tay mũm mĩm thật mềm mại... Có điều, vợ Kiệt còn trẻ quá, chỉ mới qua hết tuổi hai mươi, trong khi nó thì đã ba mươi, nên nàng đi bên cạnh nó, ai cũng phải nghĩ là cô em gái út. Ba tôi có gặp Kiệt một hai lần trước đây và lần nào cụ cũng nhìn theo dáng đi uốn éo của nó, nhận xét riêng với tôi:

     - “Cái thằng Kiệt", trông nó cũng bảnh trai, nhưng nó có tướng đàn bà, con ạ.

     “Cái thằng Kiệt” bạn tôi, bạn từ những năm còn chung học lớp nhì lớp nhất xưa kia, chẳng hiểu vì sao lại cưới vợ vào cuối năm Đinh Mùi để rồi vợ chồng đưa nhau lên Đà Lạt hưởng tuần trăng mật vào dịp Tết Mậu Thân, như tôi đã nói, mà sau này thành ra một cái tết lịch sử!

     Sáng hôm ấy, ngồi nán lại trong quán sau khi đã dùng điểm tâm bánh bao đỉm sấm trên lầu, chỉ qua khoảng một tiếng đồng hồ trước ly cà phê phin, tôi đã trông thấy đi ngang qua và giới thiệu với vợ chồng Kiệt hơn một nhân vật tên tuổi của thành phố mệnh danh trung tâm văn hóa và du lịch này, và riêng với cô bé vợ nó ít nhất là ba người đẹp nhất của xứ hoa anh đào người ta nói rằng là rất thơ rất mộng.Hai mươi năm qua rồi bây giờ tôi vẫn còn nhớ buổi sáng hôm ấy:

     - Đó đó, người vừa mới đi ngang qua đó, trong bộ áo chùng thâm, đó là cha Lê Văn Lý, linh mục Lê Văn Lý, Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt. Kìa, bà cụ đang băng qua đường, tóc cắt ngắn màu bạch kim đó là bà vợ một ông Chánh án, bà chưa già đâu, nhưng tóc sớm bạc đó thôi. Bà dắt tay một cô gái... một người đẹp nhỏ nhắn thanh thanh sau lưng bà, đó là vợ Ngô Tôn Long - Ngô Tôn Long, toa biết, dạy Triết ở Trần Hưng Đạo. Và đây này! “Bà Kiệt” nhìn kia, Đây mới là người đẹp nhất thành phố... Người mặc jupe da, áo dạ màu đỏ gụ, người có cái bớt đen to giống như nốt ruồi bự, đó là một nàng Tôn Nữ, Tôn Nữ Quỳnh Hà, dân trường Tây...

     - A, Quỳnh Hà! Em biết chị ấy, để em ra kêu chị vô đây chơi. Nhưng chị leo lên xe jeep rồi, xe nổ máy rồi. Chắc bà Hà lên đây ăn Tết đó chớ, em nghe nói chị ấy lấy chồng đại tá và bỏ Đà Lạt về Sài Gòn hay lục tỉnh chi rồi mà.

     - Này Kiệt! Người mới bước vô đó, hai ba người mới bước vào đó, là mấy tay trẻ dạy học có tiếng ở vùng này, mấy ảnh đang chủ trương nhà sách Nhân Văn ở dốc Duy Tân, nhà sách có uy tín đáng kể ở đây.

     Tôi đứng lên để bắt tay ba anh Nguyễn Duy Diệm, Nguyễn Minh Diễm và Nguyễn Quang Tuyến, và giới thiệu cho Kiệt. Quyên reo lên:

     -A, em biết. Em có nghe tiếng ba ông ấy, em có nghe mấy đứa em khoe là đang học luyện thi với mấy ảnh, tại trường chi đó em quên tên mất rồi, trường chi mà hay luyện thi đều đều đây nè, có ông Nghiên ông Ấu dạy ở đó nữa... à, trường Văn Học, ở đầu đường Hoàng Diệu, gần trường Việt Anh của ông Lê Phỉ đó, phải không anh?

     - Phải, đó là trường Văn Học của ông Chử Bá Anh.

     Ba anh giáo sư Triết đến ngồi một bàn gần cửa ra vào. Vợ Kiệt sực nhớ ra điều gì, lại bảo:

     - Còn cái trường Trần Hưng Đạo mà ở đó bà Nguyễn Thị Hoàng viết Vòng Tay Học Trò ở đâu anh, thế nào anh cũng đưa em đến cho biết, à nha.

     Liền lúc đó một bà còn trẻ đi ngang qua, ghé vào hàng tơ lụa của bà trung tá Tài, ngay trước mặt. Chuỗi hột đen nổi bật trên nền áo màu lục, tuy không trông rõ mặt nhưng dáng dấp đã rõ là một giai nhân, yểu điệu một cách Á Đông chứ không Tây Phương với dáng đi nhảy nhót như cô Quỳnh Hà.

     - Ai mà đẹp vậy, anh Khanh?
    
     Bà này, để nghĩ coi... Phải rồi, đó là vợ của ông Phúc, cũng dạy học ở Trần Hưng Đạo hay Bùi Thị Xuân gì đó, em gái của Khiết đấy, anh Kiệt biết mà.

     - Ô hay, vui quá, anh hả. Hai ba người đẹp đi qua đây sáng nay đều lấy chồng dạy học cả. Nghe nói bà Ngô Đình Long cũng ở Đà Lạt phải không anh, bà là một người đẹp của xứ Huế em đó.

     - Ôi, “mỹ nhân tự cổ như danh tướng!” Danh tướng đâu có sắp hàng ngang qua đây hết một sáng hôm nay, tôi thấy ai thì chỉ cho Quyên biết vậy thôi, để bù lại cái công đi “xem” Đà Lạt. Người đẹp còn nhiều lắm, người không xấu mà tự xưng là xấu cũng có, như tác giả Em Là Gái Trời Bắt Xấu, cũng là dân Đà Lạt này. À...đây này, Kiệt ơi! Đây cũng là một người mọi người biết tên biết tuổi nữa đây. Hai ông bà thấy chưa, cái ông khoác áo măng tô dạ màu xám, có ngậm píp nơi miệng đó, đó là luật sư Dương Trung Tín.

     Kiệt nheo mắt nhìn theo người đàn ông đã vừa rẽ qua phía tay phải, dụi ngấm tàn thuốc nơi cái dĩa, cái môi dưới bĩu ra như chế diễu:

     - Lần này thì chắc chắn là ông lầm rồi, ông Khanh ơi! Luật sư Dương Trung Tín đâu còn trên cõi đời này nữa. Tôi ở Sài Gòn đã nghe tin ổng bị bọn cướp vào nhà bắn gục từ năm ngoái năm kia cơ mà. Nghe nói vì ông Tín có võ, chống cự lại mấy tên cướp nên bị chúng thanh toán. Hồi đó đám tang ổng lớn lắm mà... Còn cái người đẹp nhất Đà Lạt, để tôi nói ông nghe, là một cô nữ sinh Bùi Thị Xuân tên là Liễu kia! Hình như là fiancée của ông Tuyến hồi nãy đó! Tôi ở Sài Gòn mà biết hơn ông, thấy chưa? Nhưng thôi, mình đi, Khanh hè. Uống có ba ly cà phê mà ngôi đây lâu quá, kỳ thấy mồ!

     Vợ Kiệt khoác áo lạnh ra ngoài chiếc áo dài đẹp, rồi lại như sực nhớ ra, bảo chồng:

     - Anh nì! Bữa qua em đi làm tóc ở tiệm Tường Lan đằng kia, có gặp cô Thân Thị Hồng, em đã hứa tụi mình sẽ tới thăm cô rồi đó nghen. Anh nhớ đưa em đi.

     - Trước khi vào chợ lầu trên, Kiệt đòi tôi đưa đến một tiệm chụp hình gần nhất để chụp dăm pô kỷ niệm, với tôi nữa. “Cậu có máy ảnh, vào tiệm làm gì”. “Không, phải có hình tốt để kỷ niệm lâu dài, ông quên là voyage de noces của tụi này à?” Chúng tôi vào tiệm Hồng Châu, nằm phía tay trái chợ.

     Lát sau, nơi cái góc quẹo của nền thang xi măng hẹp từ lầu chợ trên dẫn xuống chợ dưới, chúng tôi đụng đầu với một chị mặc áo bà ba tay xách cái lồng gà hối hả đi lên.

     - Ủa, thầy Kiệt lên đây hồi nào vầy nè? Từ ngày thôi nấu bếp nhà bà Tú tui hổng có gặp thầy lần nào!

     Rồi, chị ta ghé tai bạn tôi, nói một cách khẩn trương, thì thầm, nhưng cả ba chúng tôi đều nghe rõ:

     - Tụi tui chạy từ Bà Quẹo lên Sài Gòn, từ Sài Gòn lên đây. Tình hình chộn rộn khắp nơi, bộ thầy không biết gì sao? Ở ngay Sài Gòn nè, nhiều khu đã bị Việt Cộng chiếm. Mấy cô bán bar cho Mỹ, có cô là cán bộ nằm vùng. Khi nổ súng, tụi nó rút súng giấu trong mình ra bắn đó...

     - Đừng tuyên truyền phản động bậy bạ, nghe chị Tám!

     Chị Tám bỏ đi thẳng lên trên. Tụi tôi đứng khựng lại một lát giữa cầu thang. Không phải là người Đà Lạt không có nghe radio, nhưng người ta cũng làm lơ vậy thôi. Tôi nhớ lại, ngay từ chiều mồng hai, anh Cung tôi, thiếu tá phục vụ tại Tiểu Khu Tuyên Đức đã có nói về lệnh cấm trại do Tiểu Khu ban hành khi hay tin các trận đánh của Việt Cộng đã lan tràn trên toàn quốc. Còn chần chờ gì nữa, tôi quyết định thật lẹ: vợ chồng Kiệt về khách sạn xách va-ly trăng mật về nhà tôi ở tạm, lỡ có bề gì thì cũng biết mà liệu lo thân.

                                                                  ***
     Suốt một tối mồng ba Tết, ông anh thiếu tá của tôi bận họp công vụ không về nhà. Chúng tôi bắt đầu lo lắng. Quả nhiên, vào lúc hơn một giờ đêm - tôi xem đồng hồ đúng 1 giờ 45 phút - một tiếng súng đầu tiên của địch nổ như xuyên vào giữa trái tim mát lạnh của thành phố Đà Lạt đang thiêm thiếp. Rồi từng loạt pháo bằng súng cối 60 ly, 82 ly. Chúng tôi vùng dậy khỏi lớp mền bông, quấn luôn cả mền chạy ra ngoài thì thấy bố mẹ tôi đã thức dậy ngồi trước bình trà từ bao giờ. Thế là một đêm thức trắng, nghe từng loạt súng bay qua bay về, nhưng chúng tôi không biết được những gì đang xẩy ra bên ngoài, và tự hỏi không biết đã có nhà ai cháy chưa.

     Bảy giờ sáng, anh Cung tôi lái xe về, mặt mày phờ phạc. Anh nói cho chúng tôi hay đêm qua sau những đợt pháo kích, bộ binh địch đã xuất hiện, chưa biết đông ít thế nào. Quân ta chống trả dữ dội. Có một quân nhân đã bị tử thương ngay từ phút đầu là thượng sĩ Tài, chỉ huy trung đội công vụ giữ pháo đài chính. Nhưng quân ta vẫn giữ vững được pháo đài, nhờ có thiết giáp kịp thời phản kích, xua quân địch rút ra ngoài. Dầu vậy, trong đêm mồng ba địch cũng đã chiếm khu công trường Hòa Bình, Biệt Điện 3 (còn gọi là Dinh Số 3), cũng chiếm một đài phát tuyến do một trung đội nghĩa quân bỏ chạy vào trường Chiến Tranh Chính Trị để lại. Nhưng quan trọng hơn cả là họ đã chiếm ấp Đồng Tâm.

     Anh tôi chỉ kịp ghé về nhà chốc lát kẻo bố mẹ mong, rửa qua mặt mũi, điểm tâm vài lát bánh chưng dưa chua theo lời nài ép của mẹ, rồi lại đi ngay. Anh cho biết cần phải có mặt trong phiên họp các chỉ huy trưởng trong quân trấn để hoạch định kế hoạch đối phó với đối phương.

     Vợ chồng Kiệt vẫn quấn mình trong lớp chăn ngồi co ro, có lẽ chẳng phải vì cái lạnh của thời tiết mà vì đã quá hoảng hốt, chẳng còn thiết gì đến cái bề ngoài của mình, áo quần đẹp đẽ đúng bộ vó chú rể cô dâu, như mới ngày hôm qua đây. “Bây giờ tính răng đây anh?” “Cũng chẳng biết tính sao”. “Không biết tình hình Sài Gòn thế nào?” “Chiều nay nghe radio”. Tôi thì không biết hôm nay sở có làm việc lại như thường lệ vào ngày mồng bốn Tết không - tôi làm việc tại Nha Địa Dư Quốc Gia đặt trụ sở tại Đà Lạt - hơn nữa, quá nóng lòng muốn biết tình hình bên ngoài, tôi quyết định lấy Honda chạy quanh một vòng.

     - Thôi, bố mẹ vào ngủ lại đi, bố mẹ ạ. Thức cả đêm qua rồi, mất sức mệt lắm. Ông bà Kiệt cũng cần nghỉ ngơi để còn về Sài Gòn chứ. Thế nào rồi cũng yên, cũng về lại Sài Gòn, có gì đâu mà lo. Chiến tranh Việt Nam mà, lâu lâu lại có biến cố...

     Tôi không nhắm đi tới sở mà chỉ nóng lòng xuống phố. Ngoài đường, vắng tanh. Đi ngang bờ hồ, gió hôm nay lạnh buốt khác thường; đằng xa cũng không còn thấp thoáng màu sắc tươi vui của hàng chục chiếc pê-đa-lô lượn lờ êm ả như thường lệ, và rực rỡ như mấy ngày Tết ngắn ngủi vừa qua. Qua khỏi cầu ông Đạo, tôi thấy hai nữ tu có lẽ từ trong trường Mến Thánh Giá gần đó đi ra, đang đứng nhìn về phía dưới phố.

     - Thưa Soeur, giờ này dưới phố ra sao, đi tới đó được không? Hai soeur có nghe tin gì không?

     - Thì đang nói chuyện dưới phố đây. Mới nghe người ta mới cho hay. Sáng nay có mấy ông sĩ quan bị bắn chết tại công trường Hòa Bình. Nghe nói ông thiếu tá Lê Tập của trường Chỉ Huy Tham Mưu rủ mấy người bạn đi ăn phở Bằng trước khi vào trường họp khẩn. Mấy ông không biết là bọn họ đã chiếm chợ. Khi xe ông thiếu tá lái vừa tới trước rạp chiếu bóng Hòa Bình, thì bị Việt Cộng núp sẵn trong rạp từ hồi nào nã súng bắn ra... Ông thiếu tá Tập trúng thương tại chỗ. Ông thiếu tá Thắng ngồi băng trên với ông Tập cũng trúng đạn ngã gục luôn, và một ông đại úy nữa, nghe nói cũng tử thương, đại úy tên gì hử, soeur Phương?

     - Đại úy Vũ Xuân Sinh, tôi có quen nên nhớ kỹ tên ông ấy. Thật tội nghiệp quá chừng chừng. Ai mà ngờ nó núp trong rạp xi-nê đó hồi nào không hay!

     Tôi đang lưỡng lự không biết có thể chạy thẳng ra tận nơi xem hay không thì một cảnh sát viên đến cho hay chưa có lệnh lưu thông như thường lệ, bà con ai nấy nên ở trong nhà; có việc khẩn ra đường thì chỉ đi bộ, không được chạy xe Honda. Tôi lại quay xe trở về. Trên đường, thỉnh thoảng gặp một người đi bộ lủi thủi. Đà Lạt nín thở, chờ đợi tai ương.

     Tôi trở về nhà để thấy “cô bé” vợ Kiệt đang khóc thút thít trước cái va-ly du lịch tuần trăng mật đầy những áo quần giày dép đẹp nhất của cô nàng. Chắc Quyên đang nghĩ: “Phen này mà Việt Cộng nó về thật thì sao đây? Áo quần này, nữ trang này, son phấn này, thôi, giã từ vĩnh viễn chứ còn gì nữa. Áo ba bà đen này, đi chân đất này... chừng đó cũng đủ tàn đời!” Tôi biết có nhiều các bà các cô chỉ sợ VC trước tiên vì có chừng đó.

     - Sao, tình hình sao, anh?

     - Sáng nay có tới ba ông sĩ quan bị bắn chết ngay trước rạp xi-nê Hòa Bình, Việt Cộng núp trong rạp, bắn ra.

     - Trời đất ơi! Vậy rồi bên mình không làm chi họ hết răng?

     - Có chứ, chắc chắn. Thì, bất ngờ quá mà, trở tay không kịp. Ai mà ngờ... dân lành đang ăn Tết...

     Thì giờ trôi qua chậm chạp trong nỗi lo âu của mọi người, và chúng tôi chỉ có mỗi một việc chờ nghe radio vào buổi chiều, đài V.O.A, đài B.B.C. Xế trưa, cô hàng xóm tên Lương chạy qua nhờ tôi đi đến trường Trí Đức hỏi hộ xem trường có việc gì không và bao giờ thì cô ấy đi học lại.

     - Nếu anh không đi thì nhà em có điện thoại, anh sang gọi hộ em, bọn này sợ lắm, chẳng dám kêu nhà trường.

     Ờ, nhà Lương có điện thoại, thế mà tôi quên khuấy. Sao không qua đó gọi đi lung tung hỏi thăm tình hình,  chẳng hơn là chạy ngược chạy xuôi từ sáng đến giờ? Tôi gặp cô Lê thị Thơ, bà thư ký lâu năm của trường Trí Đức, ở đầu dây và tôi xưng tôi là phụ huynh học sinh. Xin nói thêm, bà Thơ có mấy cô con gái rất xinh đẹp, cô Quản Thụy Hoài... .

     Tôi nói “phục quá, hôm nay mà cô cũng có mặt ở trường”. Cô Thơ đáp, giọng ngọt ngào, sang sảng:

     - Ừ, cô thì lúc nào cũng có mặt. Em là anh của Lê Thị Lương hở? .. trường đã đắp bao cát chung quanh rồi. Bao nhiêu lớp học dành cho đồng bào tị nạn hết. Trường nào cũng thế, đóng cửa hết. Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân, Lycée, Adran, Bồ Đề, Văn Học, Việt Anh gì cũng thế cả, người tị nạn đến ở đầy ! Bảo mấy cô ấy cứ lo ăn bánh chưng bánh tét cho hết đi, chừng nào yên sẽ đi học lại.

     - Có tin tức gì không, thưa cô?

     - Có tin tiệm chụp hình Hồng Châu bị cháy rồi.

     Tôi ném mạnh ống nói xuống, đọc lại “bản tin” cho Lương, rồi lao về nhà, gọi vợ chồng Kiệt:

     - Tiệm hình Hồng Châu cháy tiêu rồi.

     - Trời ơi! Dễ sợ! Rứa hình của mình cũng cháy hết rồi răng?

     Chiều hôm ấy, chiều mồng bốn Tết, tôi không nhớ là đài nào tường thuật lời ông ngoại trưởng Anh kêu gọi ông ngoại trưởng Nga, đại ý rằng: “Vấn đề chiến tranh tại Việt Nam thật là kinh hoàng, thật là cấp thiết, cần phải giải quyết. Không ai có thể ngồi yên để tiếp tục nhìn những hình ảnh hoặc nghe các tin tức về cuộc giao tranh đẫm máu nhắm đùng vào dịp Tết mấy hôm vừa qua. Tôi khẩn thiết kêu gọi ngài và các phe phái trong cuộc xung đột hãy nhân danh tình nhân loại tiến đến bàn hội nghị càng sớm càng tốt”.

     Chúng tôi bảo nhau: Thế thì tình hình các nơi khác như ở Huế, Sài Gòn chắc là trầm trọng hơn ở đây rất nhiều, trầm trọng lắm rồi. Đà Lạt xưa nay vẫn là nơi may mắn ít chịu ảnh hưởng chiến tranh, dầu sao thì cũng đã hưởng được hết ba ngày Tết, chứ các nơi kia không biết giao tranh đã bắt đầu từ hồi nào, và đồng bào có được hưởng một ngày Tết nào không?
Sáng mồng năm, mới tinh sương, anh Cung lại lái xe về, mặt mày hốc hác hơn hôm qua. Đời nhà binh có biến sự thật vất vả. Anh im lìm chẳng nói năng gì, vào phòng đánh một hơi thẳng từ bảy giờ sáng đến xế chiều, trong khi cả nhà mong anh thức dậy để cho biết mọi chi tiết về tình hình chiến sự mà chỉ có anh là có thể biết rõ. Mãi đến năm giờ, Cung mới bước ra, ngồi vào mâm cơm bày sẵn. Cơm Tết hôm nay ở nhà tôi hãy còn đủ nào là thịt kho nhừ, thịt đông, dưa món, cá thu kho, măng hầm vịt. Chúng tôi lắng nghe anh Cung nói:

     - Thật ra, không phải bên ta thiếu đề cao cảnh giác. Chỉ có dân chúng là không biết. Mọi người đang vui ba ngày Tết.Thật ra thì từ chiều mồng hai, Tiểu Khu Tuyên Đức đã ra lệnh cấm trại rồi sau khi được thông báo về tình hình trên toàn quốc. Chiều mồng ba Tết thì các đơn vị đồn trú tại Đà Lạt đã được lệnh nơi nào canh phòng cẩn mật nơi đó, và trước ngày xảy ra biến cố, số quân của địch hoạt động trong lãnh vực tỉnh Tuyên Đức cũng chẳng có bao nhiêu, khoảng hai trăm là cùng. Mãi đến gần Tết mới có một tiểu đoàn của chúng được đưa đến quận Đơn Dương. Thế mà bên ta đã không kịp trở tay, vì không học được chữ ngờ! Thế nhưng cũng đã lập tức có một đại đội sinh viên Võ Bị Đà Lạt được điều động đến giải tỏa khu công trường Hòa Bình vào sáng hôm qua, mồng bốn. Sau đó, quân tiếp viện đã đến, có cả xe cơ giới trực thăng vận và chiến xa, nên đã hành quân vào khu Hòa Bình. Đạn từ tứ phía bắn ra. Lúc ấy mới biết tất cả các nhà chung quanh khu phố đều có quân của đối phương đột nhập, nằm rải rác mỗi nhà vài ba tên, bắn ra. Mình đâu có thể bắn đại vào nhà dân, cũng đâu có thể trông thấy được đối phương. Cuối cùng, phải cầu viện đến trực thăng từ trên cao bắn xuống, đồng thời hết sức thận trọng tiến lên thanh toán từng ổ địch một. Cho đến bốn giờ chiều mồng bốn, hôm qua, ta mới làm chủ được chiến trường. Rốt cuộc bên ta chỉ có một chết và hai bị thương gì đó, mà địch thì bỏ xác trong các căn nhà hai bên phố đến vài chục mạng. Chỉ duy nhất có tiệm Hồng Châu bị trúng đạn phát cháy, thiệt hại nặng nề hơn cả, nhưng người thì cũng thoát ra được hết.

     - Những nơi bị chiếm đóng là từ bao giờ, và có gây thiệt hại gì nhiều không, thưa anh?

     - Thì trước sau có mấy nơi này đã bị chiếm đóng: đồi Du Sinh, Biệt Điện 3, Khu Mả Thánh. Khu Mả Thánh là nghĩa địa ở đây đấy, cô Quyên biết không? Anh Cung tôi xây qua hỏi vợ Kiệt và nói vài câu trấn an. Ồ, Đà Lạt bao giờ cũng được Trời Phật phù hộ, chịu ảnh hưởng cuộc chiến nhẹ nhàng thôi, voyage de noces mà lên trên này thế là hên lắm đấy không phải xui đâu, nay mai về Sài Gòn rồi cô cậu sẽ biết tình hình Sài Gòn nguy ngập hơn Đà Lạt nhiều. À, để tôi nói tiếp, những nơi bị quân địch chiếm đóng: Khu Mả Thánh và Dân Y Viện, Ty Công Chánh và Viện Pasteur. Tội nghiệp. Nghe nói ông trưởng ty Ty Công Chánh rất hiền lành, sợ quá, phải chui qua ống cống để thoát về nhà. Ngoài ra địch cũng kiểm soát khu Trại Hầm, kéo quân chừng vài chục tên vào đóng chùa Tàu, bắn ra.

    - Thế còn chỗ Giáo Hoàng Học Viện thì sao? Chỗ đó từ ngoài vào trong xây bằng đá thật kiên cố, lại là nơi tu hành. Nghe nói địch cũng chiếm giữ làm căn cứ?

     - Đời nào các cha lại cho địch đột nhập, hở bố? Có chăng là họ chiếm đóng phía ngoài. Dầu sao thì cũng là lợi điểm cho họ, vì trực thăng ta chắc chắn phải tránh bắn phá vào nhà thờ và chùa chiền. Chúng có thể đóng ở ven bờ tường Giáo Hoàng Học Viện thì có!

     - Giáo Hoàng Học Viện gần trường Bùi Thị Xuân ấy, phải không anh? Hôm mồng một anh Khanh đã đưa tụi em tới đó chụp hình. Bao nhiêu phim bỏ rửa tại tiệm Hồng Châu hết. Chẳng biết điềm chi cho tụi em đây? Quyên lại nức nở, rên rỉ.

     Vừa lúc đó, từng tràng liên thanh rền lên dữ dội. Anh tôi lắng tai nghe rồi nhận xét:

     - Đó là từ phía Biệt Điện 3, khu Ty Công Chánh. Nghe nói sáng nay, lúc tôi lái xe về nhà đó, thì quân ta đã xuất quân làm hai cánh, cánh thứ nhất do thiếu tá Đào Mộng Xuân phó tỉnh trưởng Nội An chỉ huy đi giải tỏa khu vực này.

     Những câu anh Cung tôi nói ngày ấy cho đến bây giờ đã hai chục năm qua mà tôi vẫn còn nghe văng vẳng bên tai như mới hôm qua. Thiếu tá Đào Mộng Xuân, tôi cũng có quen biết và rất mừng khi hay tin ông cùng vời gia đình đã có mặt tại Hoa Kỳ, sau 75. Ba năm về trước, tôi có dự cuộc thi Hoa Hậu Áo Dài tổ chức tại Maryland và được biết cô Á Hậu 2 hau Á Hậu 3 gì đó là một trong những ái nữ của ông bà Xuân. Tính ra thì khi xảy ra biến cố Tết Mậu Thân ở Đà Lạt, cô bé mới lên một lên hai thôi! Bây giờ thì cô em đả bằng vợ Kiệt ngày ấy, cũng dáng dấp nhỏ nhắn xinh xắn với khuôn mặt bầu bĩnh và cặp mắt mở lớn đen lay láy.

     Trở lại Tết mậu Thân, tôi nhớ, anh Cung lại nói tiếp:

     - Theo tôi biết thì như thế. Nhưng có một chỗ cần giải tỏa gấp là nghĩa địa Mả Thánh, vì Việt Cộng tập trung ở đấy nhiều hơn cả, núp đằng sau mấy cái lăng, mấy cái mộ bắn ra, bắn tới Dân Y Viện nơi bệnh nhân đang nằm điều trị, mới tội chứ. Cho dầu phi cơ có can thiệp, cũng đâu dám nã vào mấy chỗ nhà thương mồ mả này.

     Lát sau, một thượng sĩ dưới quyền anh tôi bước vào, và bổ túc bản tin chiến sự ấy bằng những tin mới nhất:

     - Thưa thiếu tá, hồi năm giờ, hai cánh quân của ta đã tập trung đến giải tỏa khu Dân Y Viện, nhưng tụi nó bắn dữ quá... Phi cơ có tới nên chúng rút đi, nhưng chúng lại trở về chiếm khu Công Chánh lần nữa. Tối rồi, nên ta lại phải rút về thành phố để phòng thủ qua đêm nay. Công chức thì đã có lệnh đi làm một buổi, nhưng người ta chỉ đi lai rai...

     Tối hôm ấy, đài Tiếng Nói Hoa Kỳ loan tin lúc 17 giờ 30 đại ý rằng tại Sài Gòn cuộc chiến vẫn tiếp tục, và phi cơ Việt Nam Cộng Hòa đã tấn công những ổ nằm vùng nổi dậy của địch. Và, Bộ Chỉ Huy Quân Lực Hoa Kỳ tại Sài Gòn công bố những con số về sự thiệt hại của đôi bên như sau: Trong cuộc tấn công này, phía Việt Cộng đã tổn thất đến 10.000 tử thương trong khi binh sĩ Hoa Kỳ chỉ chết có vài trăm, và quân lính Việt Nam Cộng Hòa vào khoảng 500 người. Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố là qua vụ này, chính cộng sản đã thất bại nặng nề với mưu toan của họ.

     Sau đó đài BBC Luân Đôn vào lúc 19 giờ 30 lại loan tin tình hình Sài Gòn vẫn còn rất nguy ngập, ở phía Bắc thành phố đang có nhiều cuộc giao tranh lớn. Cũng có chạm súng dữ dội ở phía Chợ Lớn. Sự đi lại của dân chúng bị hạn chế đến mức tối đa: mọi người phải đi bộ và không được đi chung quá ba người để tiện cho việc kiểm soát.

     Sau mồng sáu Tết, chúng tôi được tin khu Công Chánh và Viện Pasteur đã được giải tỏa, và ngay trong trụ sở Viện, có hai mươi xác địch bỏ lại, bê bết máu. Đến khuya, khoảng một, hai giờ, địch lại tấn công Tiểu Khu Tuyên Đức. Chúng tôi nằm nhà cũng nghe được tiếng súng từ ngả nào vọng lại. Rồi thì phía trường Võ Bị Quốc Gia, bên ta bắn đạn nổ cao yểm trợ suốt cả đêm dài. Nhưng tối qua sáng mồng bảy, lại có tin địch đã rút lui rồi nay lại trở về bám chặt khu Biệt Điện và khu Viện Pasteur là những nơi kiến trúc kiên cố mà nếu bên ta có kêu gọi đến phi cơ oanh kích thì cũng chỉ dám nhắm các đồi cỏ chung quanh, vì còn phải tranh đấu đến mức tối đa thiệt hại cho tài sản quốc gia.

     Tình hình cứ thế giằng co qua lại, dai dẳng, không ai có thể đoán được kết cuộc sẽ ra sao. Chúng tôi, người dân Đà Lạt, lại chỉ được nghe radio nói về những biến chuyển tại Sài Gòn hay chung trên toàn quốc, mà riêng về Đà Lạt thì không hề được nghe nhắc nhở. Như vậy có thể yên tâm được rằng dầu sao thị xã của chúng tôi vẫn chỉ là điểm phụ mà địch quân nhắm tới trong chiến dịch tấn công đại quy mô toàn quốc này.

     Đến ngày 11 tháng Giêng âm lịch, Đà Lạt coi như được giải tỏa hoàn toàn. Dân chúng trở lại với nếp sinh hoạt cũ, nhưng uể oải và bàng hoàng như vừa trải qua một cơn ác mộng, tỉnh dậy không biết mình tỉnh hay mơ. Lớp sương mù trên mặt nước Hồ Xuân Hương đối diện với biệt thự Trang Hai vắng vẻ trả lại cho người dân hiền hòa ở đây nếp sống bình lặng, chịu đựng, không đợi mong gì, của những ngày trước tết.

                                                              ***
     Gia đình tôi vui vẻ tiễn đưa cặp vợ chồng mới cưới - vợ chồng thằng Kiệt - ra xe đò Minh Trung để về Sài Gòn ngay sáng hôm sau. “Cái thằng Kiệt” bạn thân của tôi! Cứ hễ mỗi lần tôi với nó hội ngộ là y như rằng có chuyện xui xẻo! Hồi 1963, lần đầu tiên tôi gặp lại nó từ khi chia tay thuở còn chơi bi đánh đáo, thì cũng nhằm vào ngày xảy ra biến cố 1 tháng 11, 1963! Mẹ tôi thương nó gần bằng thương tôi chứ không phải ít. Bà xếp vào cái giỏ mây của Quyên hai chai rượu dâu nguyên chất do bà cất lấy, và hộp mứt mận Trại Hầm mua ở tiệm Bích Nga, khu Hòa Bình. Trước khi ra bến xe, chúng tôi còn ghé phở Ngọc Lan, để “làm” mỗi người một tô chín gầu đặc biệt, với những lát thịt to bản thái thật điệu nghệ, óng lên màu mỡ vàng béo ngậy và thơm ngát.

     Khi nhìn Kiệt xách va-ly "õng ẹo" bước từng bước tới chỗ xe đang chờ, ba tôi lại cười bảo tôi:

     - Kiệt nó khá đẹp trai đó chứ, nhưng sao cái tướng đi nó giống đàn bà quá, con à.

     Tôi vẫn nhớ một đôi lần trong đời đã được biết rằng nhận xét ấy của những nhà rành khoa tử vi. Tôi nhìn lại nét mặt ông cụ, thì thấy có vẻ đăm chiêu làm sao ấy. Tôi nghĩ thầm sao các cụ lại cứ tin những chuyện mơ hồ ấy thế nhỉ?

     Tôi không phải đợi lâu. Chỉ chạng vạng tối hôm ấy thôi, tôi còn nhớ rõ là tối 12 tháng Giêng âm lịch năm Mậu Thân 1968, có người cầm tay đến nhà tôi một bức thư, không, chỉ mấy hàng chữ run rẩy của Quyên, người con gái bé bỏng đã vừa mới lấy chồng vào cuối năm cũ, và đi hưởng tuần trăng mật đầu năm mới tại xứ hoa anh đào thanh bình thơ mộng của tôi. Người đưa thư chẳng ai khác hơn là một chú lơ xe đò của một chuyến đi ngược từ Sài Gòn lên Đà Lạt ngày hôm nay:

     Anh Khanh,
Chuyến xe tụi em đi trúng mìn gần Định Quán. Mọi người đều không việc gì, nhưng anh Kiệt em đã tử thương. Em đau khổ qúa. Vài hàng tin cả nhà rõ.

     Tôi hỏi chú lơ xe đò, dồn dập:

     - Tai nạn xảy ra lúc mấy giờ, ra sao, hở chú? Chú có chứng kiến không, ông ấy tử thương rồi người ta làm sao cho ông ấy?
    
    
- Tôi không thấy chi hết. Xe tui chạy ngang Định Quán thì có người nhờ cầm giấy này tới địa chỉ anh. Cũng nghe nói có ông kỹ sư bị trúng mìn chết, nhưng tui không có chứng kiến chi hết.

     Thế là, đối với tôi, cái Tết Mậu Thân ở Đà Lạt thê thảm hơn bất cứ nơi nào trên toàn quốc. Từ đó tôi mới bắt đầu quan tâm đến khoa tử vi tướng mệnh đôi chút và sau đó, có tìm cách làm quen với một bác sĩ tây học nhưng lại chuyên khảo cứu về bộ môn này, để thụ giáo... cũng đôi chút.

     Vào Tết năm nay, hai chục năm sau Tết Mậu Thân, tại Hoa Kỳ, tôi đã được gặp lại Quyên sau gần mười ba năm xa cách (vì sau 68, hẳn nhiên là tôi cũng đã gặp lại vợ bạn tôi nhiều lần, trước 75). Bà ấy bây giờ xuân xanh cũng đã tứ tuần, huống nữa là tôi, còn trẻ trung gì! Nhưng tôi vẫn độc thân, cái số tôi nó vậy. nàng bây giờ thì đã có con lớn sắp  vào đại học, con bé học võ Bình Định tại Võ Đường Tây Sơn, vùng Hoa Thịnh Đốn. Chồng thì làm nghề bán bảo hiểm nhân thọ, nàng thì mập ra, cao lớn hơn xưa, dung mạo có phần hấp dẫn hơn xưa, tối ngày lái xe phom phom đi làm môi giới cho những đôi bên mua nhà bán nhà, nghe nói phát tài lắm. Tôi có được mời đến chơi nhà, một ngôi nhà bề thế ba tầng lầu, năm phòng ngủ, ba phòng tắm, hai nhà đậu xe.

     Tôi ngỏ ý muốn xem tử vi tướng mệnh cho Quyên thì nàng cười lên khanh khách, một điệu cười vẫn còn rất Huế:

     - Trời đất ơi! Thời buổi ni mà anh nói chi cái chuyện của các ôn các mệ rứa hè! Mặt mày em thì đã giải phẫu hết trơn hết trọi, từ mắt tới mũi từ môi tới cằm, anh không thấy răng mà đòi coi tướng?

     Tôi mừng mà thấy nàng vui vẻ, chắc đã quên hẳn cái Tết Mậu Thân. Không như tôi cứ còn nhớ mãi ...

VI KHUÊ
(Miền Đông Hoa Kỳ
Mậu Thìn 1988)

1.vikhue.jpg - 9.29 Kb