Xuân Về Nhớ Bạn _ (Nguyễn Đức Nam) (Văn)

XUÂN VỀ NHỚ BẠN

Nguyễn Đức Nam

dalat_2.jpg - 18.49 Kb

     Anh Nguyễn Ðình Quý tốt nghiệp khóa 17 trường BB Thủ Ðức và khóa 17  Quân Cụ, ngành  Quân Xa. Anh là người miền Bắc nhưng lớn lên ở Dalat, học sinh Trần Hưng Ðạo và trước khi nhập ngũ, anh là Giáo Sư trường Trung Học Việt Anh. Khi ra trường, anh được bổ nhiệm về Dalat, phục vụ tại Ðại Ðội 851 Quân Cụ.
     Ðại Ðội 851 Quân Cụ lúc đó được tạm trú trên một doanh trại cũ của Bộ Chỉ Huy Ngự Lâm Quân, nằm trên khu đồi đối diện với đồn Kiểm Soát của Cảnh Sát Dalat,  đầu đường Nguyễn Tri Phương. Nhà anh Quý, số 17 Nguyễn Tri Phương, chỉ cách đó mấy trăm thước, có thể đi bộ đến đơn vị. Bạn bè cùng khóa đều mừng cho anh và chính anh Quý, gia đình anh cũng rất vui mừng vì anh là con trai duy nhất trong nhà, gia đình  luôn luôn cần  anh để săn sóc song thân già yếu và các em gái nhỏ dại.
     Vì là “dân” Dalat, lại từng là Giáo Sư Trung Học, anh Quý quen biết cả tỉnh và đi đâu cũng được quý trọng, lo việc gì cho đơn vị, nhất là việc giao tế nhân sự, đều dễ dàng, nhanh chóng. Sự  liên lạc với các đơn vị bạn  như Công Binh, Truyền Tin, Quân Nhu, Quân Y... thì kể như  “không có vấn đề” gì cả, chuyện gì cũng chỉ cần một cú điện thoại, một lần ghé qua, truyện trò, là xong ngay.
     Tôi nhập ngũ năm 1965, sau phần huấn luyện quân sự tại Trường Bộ Binh Thủ Ðức, sang giai đoạn 2,  được chọn về Trường Quân Cụ học chuyên môn. Ra trường năm 1966, tôi xin được về phục vụ tại vùng 4 (Mỹ Tho, Cần Thơ, Châu Ðốc, Long Xuyên,  Rạch Giá.) vì tôi thích sống ở vùng 4 và hơn nữa người yêu của tôi lúc ấy là nữ sinh Gia Long, quê ở Rạch Giá.
     Vì tôi đỗ khá cao và theo thỉnh nguyện của tôi, tôi được chấp thuận về trình diện Ðại Ðội Quân Cụ ở Cần Thơ. Cầm Sự Vụ Lệnh trong tay, tôi đến khoe với gia đình người yêu. Ông Bà Ngoại của Nàng, Ba Má của Nàng và cả ông Cậu của Nàng đều mừng cho tôi vì mọi người đều cho rằng Cần Thơ đúng là nơi sống lý tưởng cho vợ chồng tôi sau này và họ có thể ghé thăm chúng tôi thường xuyên khi về hưu tại Rạch Giá.
     Nhưng ngay ngày hôm sau, Lưu Trung Hiếu, người bạn cùng khóa,  đưa vợ sắp cưới đến thăm tôi. Hiếu là người bạn miền Nam rất thân của tôi. Hiếu nhỏ bé, hiền lành, lúc nào cũng tươi cười, vì tên hắn nằm quá thấp trong danh sách tốt nghiệp nên đã không được ưu tiên chọn chỗ theo ý muốn, phải nhận lệnh bổ nhiệm về Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận mà lúc bấy giờ cả Hiếu và tôi đều không nhớ nằm ở vùng nào, khu chiến thuật nào.
     Mặt Hiếu buồn thiu, nói với tôi không thành lời: “Bạn là dân Bắc Kỳ, không chọn chỗ gần quê quán được thì ở đâu cũng vậy, chọn Cần Thơ làm chi, đổi cho moa đi. Ðại Ðội Cần Thơ chỉ cách nhà bà xã moa một cây cầu, bạn làm giấy hoán chuyển với moa ngay bây giờ thì dễ lắm, chỉ vào Cục Quân Cụ, phòng Nhân Viên ký tên là xong ngay”
     Tôi thấy Hiếu có lý. Mình là dân Hà Nội, có đơn vị yểm trợ trực tiếp nào ở Hà Nội đâu mà xin “phục vụ gần nguyên quán”!.
     Nhìn bộ mặt buồn thiu buồn chẩy, không giống khuôn mặt Lưu Trung Hiếu tươi vui hàng ngày và nhất là nhìn ánh mắt hoen ướt của người đẹp Cần Thơ, vợ tương lai của Hiếu, tôi thấy lòng rung chuyển. Tôi hẹn Hiếu ngày hôm sau vào phòng Nhân Viên, Cục Quân Cụ, làm giấy hoán chuyển cho Hiếu về Cần Thơ.
     Không biết vì lý do gì, Thiếu Tá Trưởng Phòng Nhân Viên khi nghe tôi xin hoán chuyển, đưa tôi vào trình diện Trung Tá Cục Phó P.T.Th. Tôi muốn “tá hỏa tam tinh”, tưởng phen này bị đuổi ra khỏi Quân Cụ rồi. Nhưng Trung Tá Th. không mắng mỏ như tôi nghĩ. Ông ôn tồn hỏi: “Chuẩn Úy nghĩ kỹ chưa? Chuẩn Úy đỗ đầu lớp Tiếp Liệu, có thể chọn Ðại Ðội tân lập ở Thủ Ðức vì đơn vị đang cần Sĩ Quan Tiếp Liệu, có thể về Tiểu Ðoàn 230, về 835, về Lục Quân Công Xưởng, về Trường Quân Cụ…, nhưng Chuẩn Úy đòi về Cần Thơ rồi bây giờ lại muốn hoán chuyển cho bạn là làm sao?”
     Sau khi nghe tôi trình bầy lý do “Bắc Kỳ đi đâu cũng thế thôi”, Trung Tá Th. gật đầu: “Có ý giúp bạn, giúp người như thế  rất tốt. (Quay sang nói với Thiếu Tá Trưởng Phòng Nhân Viên). Ðược rồi, làm Sự Vụ Lệnh cho  Chuẩn Úy Nam về trình diện Thiếu Tá P.K.L”.
     Tôi không dám kể về những phản ứng của gia đình người yêu Gia Long, về những nức nở, những giọt nước mắt của Nàng cùng những lơì mắng mỏ của gia đình tôi vì tôi không muốn làm mất thời giờ của quý vị và thực sự tôi cũng không muốn nhớ lại những chuyện đau lòng ấy, chỉ làm tôi buồn khổ thêm.
     Tôi bay ra Nha Trang cùng 6, 7 Sĩ Quan khóa 21 khác, trình diện Thiếu Tá P.K.L., Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 85 Quân Cụï. Tôi không biết Thiếu Tá Liên Ðoàn Trưởng đã hỏi gì các bạn cùng khóa của tôi, riêng tôi, sau khi đọc hồ sơ của tôi, ông hỏi tôi bằng giọng người miền Nam thật thân mật: “Tui biết anh hoán chuyển cho bạn về Cần Thơ và xin ra đây. Anh muốn ở Nha Trang  Phan Thiết, Dalat hay Lâm Ðồng?”
     Nha Trang đẹp quá, mình vẫn thường ra Nha Trang tắm biển, nhưng Dalat thơ mộng thì mình mới được thăm có một lần. Tôi trả lời ngay:
     - Xin Thiếu Tá cho tôi lên Dalat vì trên ấy có trường Ðại Học, tôi có thể ghi danh học thêm.
     Thế là tôi được lên Dalat, được gặp anh Nguyễn Ðình Qúy. Trong những ngày tháng đầu tiên của tôi ở Dalat, tôi ở nhà anh Quý, sống trong gia đình anh như một thằng em trai, bên Ngân và Nga, hai cô em gái học Couvent des Oiseaux của anh. Anh đưa tôi đi ghi danh trên Viện Ðại Học Dalat, học môn Chính Trị Kinh Doanh. Tôi không mang theo đầy đủ giấy tờ  do Ðại Học Saigon cấp nhưng cũng ghi danh xong, bổ túc hồ sơ sau vì anh Quý quen tất cả nhân viên trong văn phòng và còn quen với các Giáo Sư, quen  cả Linh Mục Khoa Trưởng nữa.
     Anh Quý thường đưa tôi đi ăn, nhiều khi cuối tháng hết tiền, nhà hàng cho ghi sổ, lúc nào lãnh lương mới phải trả. Có tối, chúng tôi đi phòng trà, nghe Khánh Ly hát. Nếu muốn khiêu vũ thì cứ vô tư, thoải mái vì anh Quý quen với bà chủ Night Club, ít khi phải trả tiền. Nhờ vậy mà một Chuẩn Úy nghèo mới biết khiêu vũ và cứ ăn chơi dài dài, làm cho gia đình người yêu ở Saigon nghe được tin, rất lấy làm “sốt ruột”, bàn tính chuyện cho Nàng lên Dalat trọ học.
     Trong đơn vị, anh Quý dậy tôi đủ thứ vì những gì mình học được trong trường không đủ và nhiều khi chỉ có tính cách lý thuyết mà thôi, khó thực hành nổi. Anh Quý tập cho tôi lái xe rồi đưa tôi sang trường Võ Bị Quốc Gia thi lấy bằng. Khi tôi muốn ra ở riêng vì người yêu Gia Long của tôi đã bỏ Saigon lên Dalat, theo học trường Bùi Thị Xuân thì anh Quý liên lạc với Tiểu Khu Tuyên Ðức xin cho tôi được một phòng trong nhà vãng  lai trên con đường La Rose, gần viện Pasteur, rất xinh sắn, nhìn ra những vườn hồng rực rỡ, thật là thơ mộng.
     Với tôi, anh Nguyễn Ðình Quý không chỉ là một niên trưởng, một cấp chỉ huy mà còn là một người anh trong gia đình, một người bạn khi đi ăn chơi, một ân nhân khi mình cần giúp đỡ, một người Thầy  có lương tâm. Tóm lại, anh Nguyễn Ðình Quý là Thần Tượng của tôi.

     Nếu tôi nhớ không lầm thì vào giữa năm 1967, công ty RFK của Mỹ hoàn tất việc xây cất  doanh trại mới cho Ðại Ðội 851 Yểm Trợ Trực Tiếp Quân Cụ. tại khu đất phía sau Dinh 3 của vua Bảo Ðại. Muốn đến thăm ÐÐ 851 YTTTQC thì từ BCH Tiểu Khu, theo dốc Pasteur, rẽ trái theo con đường đồi, vòng theo Dinh 3, ra phía sau, qua Trung Ðội Truyền Tin, qua khu gia binh, sẽ thấy một doanh trại rộng rãi, khang trang, thiết lập trên khu đất rộng, bao quang bằng những ngọn đồi. Ðó là doanh trại mới của chúng tôi, khác hẳn với doanh trại cũ mà chúng tôi thường gọi đùa là “chuồng ngựa của Ngự Lâm Quân.” Tuy nhiên, doanh trại mới, theo tôi, nó không được an toàn cho lắm vì nằm trên một quả đồi đã được san phẳng, chung quanh là những đồi cao, giống như lòng chảo Ðiện Biên Phủ và đáng sợ hơn nữa bên kia cổng trại là một nghĩa trang hoang vắng. Tôi thường nghĩ: nếu quân địch muốn dò thám đơn vị tôi, chúng có thể từ những đỉnh đồi kia quan sát hoạt động của chúng tôi một cách dễ dàng, chính xác. Tôi không hiểu khi công ty RFK thiết lập doanh trại này, họ đã tham khảo và thừa lệnh của ai, có thể vì họ cho rằng xây cất  doanh trại cho một đơn vị yểm trợ kỹ thuật trong thời bình (vì hồi ấy Dalat là một thành phố an bình vô cùng), nên họ không quan tâm đến vị trí chiến thuật.
     Vào một buổi chiều mù sương, người anh họ của tôi là Hải Quân Ðại Tá Nguyễn Ðức Vân (Vân Trắng), lên gặp Hải Quân Ðại Tá Nguyễn Vân (Vân Ðen), lúc đó đảm nhiệm chức Văn Hóa Vụ Trưởng trường Võ Bị Quốc Gia Dalat, có dịp ghé thăm ÐÐ 851 Quân Cụ, trước khi anh ra phi trường quân sự Cam Ly, bay về Saigon. Ngay lúc vừa bước xuống xe Jeep, anh tôi đã nghiêm trang bảo tôi:
     - Ðơn vị của chú nhiều ám khí quá, rất nguy hiểm, chú nên khuyên ông Ðơn Vị Trưởng xin Tiểu Khu tăng cường và cần nhất phải có Không Quân sẵn sàng yểm trợ. Riêng chú, nên xin đi phép hay xin thuyên chuyển càng sớm càng tốt. “Thiên cơ bất khả lậu”, tôi không nói được, mong chú hiểu.
     Nói xong, anh tôi thở dài, bảo tài xế lái xe đi ngay. Tôi trình Ðại Úy Vũ, Ðại Ðội Trưởng, mới từ Nha Trang lên thay thế Thiếu Tá Nguyễn (được thăng cấp và được thuyên chuyển về vùng 4) những lời khuyên của anh tôi nhưng tôi nghĩ là không ai tin lời anh tôi cả. Riêng tôi, tôi xin nghỉ phép nhưng sau đó lại không đi vì lúc đó, Trung Úy Hi, em vợ Trung Tá Ð.V.Ð, cựu Thị Trưởng Dalat đang đi phép. Trung Úy Phan đang công tác với Trung Ðội Lâm Ðồng. Hai Chuẩn Úy Long, Hoàng cũng đi phép về Saigon thu xếp đón gia đình lên Dalat, sau Tết. Trong thời gian đó, đơn vị chỉ còn Ðại Úy Vũ, Quý và tôi. Tất cả Sĩ Quan đều có hầm riêng. Hầm của tôi gần cổng trại. Hầm của Ðại Ðội Trưởng gần văn phòng BCH. Hầm của anh Quý là hầm truyền tin, ở sâu trong trại một khoảng cách không xa lắm.
     Tôi có thói quen đi uống cà phê tối, thường là cà phê Tùng hoặc ở nhà Thủy Tạ. Một buổi tối cuối năm, tôi đang ngồi ở Thủy Tạ nói chuyện âm nhạc với Thanh Trang (tác giả bài “Duyên Thề”, đang là Giáo Sư của trường Võ Bị) thì được tin Trung Úy Thanh, thuộc Trung Tâm Truyền Tin, ngay bên cạnh trại tôi vừa bị địch bắn chết trên đường vào Trung Tâm. Trung Úy Thanh có thói quen về nhà ăn cơm với vợ con rồi vào trại, đúng 9 giờ tối, ngày nào cũng vậy. Anh Quý thường bảo tôi: cậu coi chừng đấy, địch biết thói quen ấy, thì rất nguy hiểm. Tôi thấy anh Quý nói rất đúng. Do đó, thay vì vào trại ngay sau đó, tôi đưa Thanh Trang về Khách Sạn Thủy Tiên (là nơi trường Võ Bị thuê cho các Giáo Sư ở) và đàn hát cho đến nửa đêm.
     Khi tôi về đến trại thì đã gần 1 giờ sáng. Cà phê làm tôi trằn trọc, không ngủ ngay được. Tôi tìm một tờ báo đọc lướt qua và rồi chợt thiếp đi. Ðang lúc mơ màng, tôi nghe thấy nhiều tiếng nổ lớn, những tiếng nổ inh tai, rung chuyển cả hầm trú ẩn. Tôi mở cửa hầm nhìn ra: một khối lửa khổng lồ đang phừng phừng đốt cháy kho xăng. Kho Tiếp Liệu Quân Xa cũng cháy. Kho vũ khí đang nổ tung. Lửa ngập trời, tiếng súng nổ khắp nơi.
     Chân vẫn còn mang giầy lúc đi ngủ, tôi chụp vội nón sắt và cây Cold 45, chạy băng sang hầm anh Quý.
     Hầm Quý đổ sụp từ hồi nào. Cách cửa hầm khoảng hai thước, trong ánh lửa chiếu sáng từ kho săng, tôi nhận ra thân hình cao gầy của Quý. Tôi đến bên anh, quỳ xuống bên anh, lay gọi tên anh nhưng anh không trả lời. Tôi sờ lên đầu anh. Ðầu anh đầy máu. Tôi nghe tim anh. Tim anh không còn đập. Tôi vuốt mắt cho anh, kéo anh vào cửa hầm của anh, nghĩ rằng làm thế cho anh bớt lạnh và tôi nói với anh:
     - Nằm đây đợi em. Em sang hầm Ðại Úy Vũ xem sao rồi gọi xe cứu thương đến cho anh.
     Tôi chạy sang hầm của Ðại Úy Vũ. Hầm Chỉ Huy sụp đổ hoàn toàn, lấp cả cửa ra vào. Tôi chạy vòng quanh hầm Chỉ Huy. Thấy có một lỗ thông hơi chưa bị lấp kín, tôi ghé sát vào đó, hét lớn:
- Vũ, Vũ có ở dưới đó không ?
     Có tiếng rên và tiếng thều thào:
     - Em đây, Thắng đây, Thiếu Úy. Em không nhìn thấy gì cả, chắc mù rồi.
     Tôi hét: - Ðại Úy đâu?
     Thắng rên la: - Tay em què rồi, không cựa quậy nổi. Chắc Ðại Úy chết rồi. Ngay từ đầu, tụi nó đã thẩy mấy trái lựu đạn xuống đây, Ðại Úy và em chịu không nổi.
     Tôi an ủi Thắng: - Ráng chịu đau chút xíu nữa, tao đi tìm Thượng Sĩ Phùng, lấy chiến xa chở mày đi Bệnh Xá.
     Tôi chạy về phía sau của doanh trại là nơi có phòng thủ bằng mấy chiến xa M41 và chiếc xe Jeep biến cải thành xe bọc sắt. Theo cơ quan tình báo thì địch có thể dùng lối mòn sau doanh trại để xâm nhập vào thị xã, do đó, chúng tôi đã thiết lập một hầm phòng thủ rất kiên cố cho Thượng Sĩ Phùng, một Hạ Sĩ Quan người Nùng, gốc Thiết Giáp và bố trí cho ông hai xe tăng. Tôi mới chạy được nửa đường thì thấy chiến xa và xe Jeep bọc sắt từ phía sau hiên ngang chạy lên. Tôi nhẩy lên chiến xa và bảo Thượng Sĩ Phùng: “Hầm Chỉ Huy và hầm Truyền Tin sập rồi, không liên lạc được với Tiểu Khu và đơn vị bạn, mình phải tự lo thôi”.
     Sau đó, tôi leo lên xe Jeep bọc sắt do Trung Sĩ Thới lái, quanh về hầm Chỉ Huy. Thới và tôi xúc, bới một lúc thì vào được bên trong hầm của Ðại Úy Vũ. Vũ nằm bất động, mình bê bết máu. Hạ Sĩ Thắng, tài xế và cận vệ của Vũ thì một tay ôm  cánh tay bị thương, lủng lẳng như  sắp rời khỏi vai và mặt đầy máu, mắt nhắm nghiền lại, thở không ra hơi.
     Thới và tôi ráng hết sức mới lôi được Vũ và Thắng ra khỏi hầm.
     Hầm truyền tin của Quý đã bị phá hủy từ đầu, đường giây điện thoại đã bị cắt nên không liên lạc trực tiếp được với BCH Tiểu Khu. Thượng Sĩ Phùng đã dùng máy truyền tin trên chiến xa và đã liên lạc được với Không Quân, xin thả hỏa châu. Trong đêm tối dầy đặc sương mù, cách mười thước là không nhìn thấy gì. Nhờ Không Quân thả hỏa châu soi sáng cả một vùng núi đồi, chúng tôi đã phát giác được rằng quân thù cũng mặc quân phục như chúng tôi, chỉ khác là không đi giầy. Tôi ra lệnh: cứ thấy ai không đi giầy là bắn, nhờ vậy mà chúng tôi đã diệt được gần hết toán đặc công và đến gần sáng thì một số sống sót đã dìu đồng bọn bị thương thoát chạy bằng cổng chính, qua khu nghĩa trang.
     Theo lời kể của Hạ Sĩ Thức, lính gác cổng thì toán đặc công đã tấn công vào cổng chính (là điều không ai ngờ). Chúng dùng toàn lựu đạn và B40.  Hạ Sĩ Thức trúng đạn, bị thương nặng nhưng giả vờ chết nên chúng không để ý. Thức cho biết: từ cổng chính, địch tấn công hầm Truyền Tin của Quý, hầm Chỉ Huy của Vũ, đốt kho săng, phá kho súng cùng một lúc và dường như chúng đã biết rõ hệ thống tổ chức của đơn vị.
     Sau này, khi khám xác địch quân, tôi thấy chúng đã có họa đồ phòng thủ của chúng tôi, biết rõ ràng giờ giấc đi về của các Sĩ Quan. Ðặc biệt trong sơ đồ tấn công chúng đã bỏ qua hầm trú ẩn của tôi và ghi chú là tôi “đi phép”.
     Ðiều đó chứng tỏ chúng có nội tuyến và tên nằm vùng kia phải là người trong phòng Nhân Viên thì mới biết tôi làm đơn xin đi phép. Tuy nhiên, khi tôi hoãn đi phép, chỉ nói cho Ðại Úy Vũ biết nên chúng vẫn tưởng tôi đi phép nên đã không thẩy lựu đạn xuống hầm tôi.
     Sau khi địch rút lui, tôi cho lệnh chuyên chở Vũ, Thắng và vài quân nhân bị thương vào Bệnh Xá Tiểu –Khu. Một cánh tay Thắng phải cưa. Vũ bị mảnh lựu đạn cắt lủng ruột nhưng cũng may còn vá lại được vì đã được chở đến Bệnh Viện kịp thời.
     Vì phải lo chữa cháy, thu nhặt xác địch, dọn dẹp các kho tiếp liệu, kiểm điểm quân số để báo cáo lên Thượng Cấp,  đến khi trời hửng sáng tôi mới có thời giờ mang xác Quý vào một căn phòng chưa bị phá.
     Thân thể Quý lạnh ngắt. Tôi lấy khăn ướt lau hết những vết máu trên mặt mũi Quý. Khuôn mặt Quý bình thản như người đang ngủ, không thấy một nét đau đớn nào.

     Từ 1968 đến nay, thấm thoát đã 40 năm. Mỗi khi Tết đến, Xuân về, tôi lại nhớ Quý vô cùng. Nếu kiếp sau, tôi còn phải đi lính, phải chọn đơn vị thì tôi vẫn chọn Liên Ðoàn 85 và Ðại Ðội 851 Yểm Trợ Trực Tiếp Quân Cụ, dù người yêu 
Gia Long có giận hờn, gia đình Nàng có chê tôi là “thằng khờ” và gia đình tôi có mắng tôi là “ngu như con bò”. Bởi vì tôi muốn gặp lại anh Nguyễn Ðình Quý, tôi muốn sống thêm một kiếp nữa với anh. Tôi rất hãnh diện được quen biết anh và tôi chắc các bạn của anh, gia đình anh, vợ con anh cũng mang niềm hãnh diện đó. 

  
 Nguyễn Đức Nam   
(Virginia Tết Mậu Tý, 2008)