Vũ Lâm, Đỗ Văn & Phan Nghè _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ _ #43)

image6.jpg - 63.06 Kb

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY
  
  
     Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn. 

     
     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

VŨ LÂM 

     VŨ LÂM, một người theo binh nghiệp lưu luyến thành phố Đà Lạt những ngày tháng cũ cũng thốt lời tâm sự:

     “Tôi sinh ra ở miền Bắc Việt Nam, sống ở Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng. Di cư vào Nam, suốt thời niên thiếu, đi học, lớn lên ở Sài Gòn, chỉ có những tháng Hè hoặc Tết, tôi mới được lên Đà Lạt sống với cô và các em con của cô tôi. Vậy mà tôi vẫn có cảm tưởng tôi là cư dân Đà Lạt, có lẽ vì kỷ niệm và tình yêu sâu đậm nhất của đời tôi gắn liền với Đà Lạt, cộng thêm những kỷ niệm của 4 năm thụ huấn tại quân trường Võ Bị. 

    Tuổi ngoài 60, tuổi già, hiện tại và tương lai là con đường bằng phẳng! Nên người ta thường ngoái cổ lại nhìn về quá khứ, sống với quá khứ. Như con bò buổi chiều về nằm nhai lại mớ cỏ nuốt vội vàng lúc ban ngày. Hình ảnh và hương vị của Đà Lạt vẫn còn đậm nét trong tôi, nên những buổi chiều buồn, những ngày mưa bão, tôi vẫn thường ngồi lặng lẽ một mình bên cửa sổ, trong một góc của căn phòng, trầm ngâm, mơ màng nhớ về những ngày tháng ở Đà Lạt. Đà Lạt những buổi sáng sương phủ trắng dưới thung lũng. Đà Lạt buổi chiều, buổi tối mù sương. Đà Lạt mây mù phủ trên rừng thông, đồi núi, mờ mịt đỉnh Lang Biang. Đà Lạt những ngày mưa bão lê thê, giá lạnh, ẩm ướt! Đà Lạt và người tình, Đà Lạt và nỗi buồn gậm nhấm hồn tôi suốt một đời.     

     Tôi nhớ con dốc từ khu chợ Hòa Bình dẫn xuống Hồ Xuân Hương, nhớ con đường ven hồ và đồi Cù, xa xa phía cuối hồ, ngọn tháp nhọn trường Lycée Yersin vươn cao in trên nền trời. Tôi nhớ bước chân lững thững trên những bậc thềm Palace, nhớ con đường dốc ven đồi phủ đầy lá thông khô và những hàng thông cao vút. Đà Lạt có một mùi thơm huyền hoặc suốt đời khó quên, mùi ẩm ướt của núi đồi, mùi rừng thông, nhựa thông, mùi ngo, mùi hoa Mimosa.

     Thời gian tôi sống ở Đà Lạt ít hơn ở Sài Gòn, nhưng Đà Lạt đã gói gọn những cảm xúc, rung động của đời tôi từ ngày bé, những ngày còn chạy nhảy, vui đùa, đá bóng với đám bạn nhỏ trong khu rừng thông bên trường Petit Lycée, băng rừng từ sau căn nhà ở đường Pasteur tìm đường ra thác Camly. Cho đến những ngày vừa đủ lớn để biết buồn, biết cất dấu hình người yêu trong ví lâu lâu lấy ra ngắm nhìn, biết ngồi Cà phê Tùng. Nên, một phần của lý do tại sao sau ngày xong tú tài phần hai, tôi không chọn làm giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ, tôi cũng không chọn quân trường Hải Quân, Không Quân mà chọn trường Võ Bị Đà Lạt, nơi mà khi bước chân vào đã mường tượng đến một tương lai vô định, may rủi, chưa biết sẽ về đâu, một là xanh cỏ hai là đỏ ngực!”…
    
ĐỖ VĂN

     Đăng trong một đặc san ghi năm 1994, từ Luân Đôn nước Anh, ký giả ĐỖ VĂN của đài B.B.C viết về những kỷ niệm của mình với thành phố Đà Lạt 40 năm về trước:

     “Đà Lạt đã là khởi điểm cho cuộc đời phiêu bạt của tôi, khởi điểm của những mộng ước tuổi trẻ, để rồi từ đó đến nay, một vài lần có quay trở lại đường xưa lối cũ, thực cũng như mộng, thấy cuộc đời qua mau mà sao kỳ lạ. Những ấn tượng ban đầu của tuổi hoa niên, những tình cảm lãng mạn của dào dạt, của bước chân kỷ niệm, vẫn in sâu không mờ xóa nổi.

     Ai cũng có thể tự nhận là người Đà Lạt. Chỉ cần sống với Đà Lạt và trìu mến Đà Lạt là đủ…

     Ngày tôi biết Đà Lạt là lúc vừa rời khỏi Hà Nội thân yêu, trước khi đất nước chia đôi. Tôi đã được chứng kiến quãng đời bình thản và hiền hòa của Đà Lạt trước khi có cơn xáo trộn phũ phàng của lịch sử. Chẳng cần nhắc đến những địa danh thơ mộng của Đà Lạt ra làm gì nữa, xin để những kỷ niệm xưa của mỗi người lắng đọng như mặt hồ lúc chiều xuống, như tiếng vọng của cánh chim trời bay xa nơi chốn cũ.

     Đà Lạt đối với tôi là những ngày nghỉ cuối tuần. Từ St Benoit, trên những chiếc xe taxi Peugeot 203 phóng lao xuống phố, qua nhà Gare, qua trường Yersin, qua hồ nước với chiếc nhà nổi màu trắng in bóng lung linh. Đà Lạt đối với tôi là một đêm Giáng Sinh âm thầm tản bộ từ con đường dưới phố, thoai thoải theo triền dốc cao, dưới bầu trời thinh không lạnh giá, để nghe vang vọng tiếng hát từ giáo đường trong đêm thánh vô cùng. Đà Lạt đối với tôi là những buổi tối có ánh đèn như đêm hội hoa đăng, từ tầng gác nhỏ của khách sạn Hòa Bình trông sang rạp hát Ngọc Hiệp, nghe những tiếng vọng cổ não nùng hoặc những điệu nhạc tân cổ giao duyên não nuột, là một buổi sáng vắng lặng đứng bên song cửa phụ khu Palace, thuộc khách sạn Lang Biang vị thế chênh vênh hơn mặt hồ, để tầm mắt trôi dạt theo hơi sương tan dần trong nắng sớm.

     Bốn mươi năm về trước, một đêm rất khuya, khi vũ trường La Croix du Sud sát chợ Đà Lạt đã chấm dứt khúc luân vũ cuối cùng, trả lại bầu không khí tĩnh mịch cho đêm trường, tôi lần bước lững thững theo con dốc thanh vắng kế cận, nội cảm dâng trào. Trên đỉnh đồi cao thấy hai cây thông lững lờ trước gió, tôi thầm nhủ với cây xanh: “Xin hãy lắng đọng với thời gian! Ước mong có ngày tôi lại có thể tìm về chốn cũ để ngắm hai ngọn thông lùa theo hướng gió!”.

     Bây giờ, bốn mươi năm sau, không hiểu có còn hai ngọn thông già tình tự nữa hay chăng?”

PHAN NGHÈ
    
     Kỷ niệm về thành phố Đà Lạt từ thời 1951 khi mình mới mười tuổi đầu và mới rời xứ Huế để lên cư ngụ nơi này vẫn còn khắc ghi mãi trong lòng PHAN NGHÈ:

     “Tôi đến Đà Lạt năm lên 10 sau khi rời xứ Huế cổ kính để lên Đà Lạt sống với ba má tôi. Tuy mới 10 tuổi nhưng muốn đến Đà Lạt cũng phải có hai người lớn, quân nhân hoặc công chức bảo lãnh thì mới được nhập cư xứ Hoàng Triều Cương Thổ này. Mặc dầu ba tôi hồi ấy là lính Ngự Lâm Quân của Vua Bảo Đại đóng ở Biệt Điện... Nếu tôi nhớ không lầm thì đó là khoảng tháng 2 năm 1951. Máy bay Air Cosara chở tôi đáp xuống phi trường Liên Khàng.

     Cửa máy bay mở, một luồng không khí mát rượi thổi vào, tôi hít một hơi thật dài và nuốt làn không khí mát mẻ đó. Tôi có cảm tưởng như đang ở ngoài trời nóng bức của một buổi trưa hè, bước vào một nơi có một hệ thống máy lạnh tối tân (trong máy bay người ta đang mở heater). Tôi ngập ngừng bước xuống cầu thang máy bay, đặt chân xuống phi trường Liên Khàng, xuống đất Đà Lạt. Đà Lạt, thành phố tôi mơ tưởng đến khi tôi còn học lớp Nhì trường Thượng Tứ ở Huế. Cô giáo dạy tôi dạo ấy lại là người vừa đổi về từ Đà Lạt, cô Nguyễn Thị Liêu. Hẳn cô cũng có những kỷ niệm êm đềm và rất thiết tha với Đà Lạt. Có một bài tôi thích nhất và thuộc cho đến bây giờ. Đó là một bài tả cảnh Đà Lạt, trong đó có đoạn viết: “Lập trên Cao Nguyên Langbian, chung quanh toàn núi đồi hùng vĩ, Đà Lạt chiếm một vùng rất rộng, quanh năm lúc nào cũng mát mẻ, không khí nhẹ nhàng, trong sạch lại thêm hương vị thơm tho của rừng thông bát ngát…” và “…Đây con đường đất đỏ đưa ta vào một khu rừng tĩnh mịch và êm như mơ, kìa là lối lên hồ và suối, mặt hồ trong xanh phẳng lặng in bóng mấy dãy thông già cao vút...”. Tôi mơ đến Đà Lạt do cô giáo dẫn dắt trong những bài tập đọc và học thuộc lòng như thế. Được đặt chân lên xứ Đà Lạt mơ mộng, hít thở được không khí thanh mát, Đà Lạt thực sự trước mắt tôi còn đẹp hơn cả những bài tập đọc mà cô giáo đã dạy và trí tôi tưởng tượng.”

     PHAN NGHÈ kể tiếp về nơi mình mới tới ở tại thành phố này và những âm thanh lạ tai khó quên:

     “Chỗ ở đầu tiên của tôi tại Đà Lạt là Xóm Nhà Lá cạnh Dinh 3 của Vua Bảo Đại, một xóm nhà được cất lên như một trại Gia binh của Ngự Lâm Quân. Xóm Nhà Lá nằm dọc theo con đường lát đá dẫn vào Suối Tía, khu trại của ông Tây Faro…

     Sau Xóm Nhà Lá là khu Rừng Ái Ân, mỗi khi chiều lên, tiếng mễn lạc bầy kêu “tác” âm vang rừng núi. Lúc đêm đến tiếng chim Ó Ma Lai kêu như tiếng hú của ma rừng trong truyện của Thế Lữ. Sáng sáng, trong không khí lạnh và tĩnh mịch của núi rừng, tiếng chim Đa đa điểm đều đặn. “Tác da da bớ cha” nghe thật cô tịch… 

     Xóm Nhà Lá tôi ở thuộc khu Biệt Điện, mỗi lần ra chợ Đà Lạt phải qua một khu rừng thông có một Mả Thánh Tây rồi mới đến Dốc Nhà Bò. Đối với tuổi lên mười của tôi, Dốc Nhà Bò là một cái dốc quá cao, mỗi lần đi học về, tôi phải leo lên cái Dốc Nhà Bò đó, lên đến đỉnh dốc, tôi cùng vài người bạn phải ngồi nghỉ 5 - 10 phút cho khỏe rồi mới lần về nhà.

     Đứng trên núi cao nhìn xuống thành phố lúc nào cũng như đang yên ngủ trong làn sương mây mù mịt của núi rừng. Thành phố Đà Lạt như trong những bức tranh Tàu, mong manh tan hợp phủ che trong làn sương.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb